Tâm lý trị liệu, theo Garfield & Bergin (1986), không phải là một nghề nghiệp đặc biệt. Hơn thế nữa, nó là một hoạt động được thiết lập bởi các thành viên của nhiều nghề nghiệp khác nhau.

Tương tự, cần nhấn mạnh rằng, cái tôi trong tâm lý trị liệu không phải là một khoa học hay kỹ thuật mà nó là một nếp sống cùng thân chủ (Holderstock, 1993, 1994; McConville, 1995; Rogers, 1961).

Tiến trình của "nếp sống cùng" này, phản ánh một trong những thuộc tính của tâm lý học nhân văn, được Rogers xếp vào danh mục những đặc trưng của mối quan hệ trợ giúp (Gerber & Purkey, 2001; Rogers, 1958, 1961).

Những gì chúng ta biết từ khảo sát trong nghiên cứu đương đại là mối quan hệ giữa nhà tham vấn/ trị liệu và thân chủ rất quan trọng.

Các điều kiện nhà trị liệu muốn biểu lộ như sự thấu cảm, trung thực và tôn trọng tích cực vô điều kiện cung cấp một bầu không khí trị liệu mà trong đó, thân chủ cảm thấy an toàn để khám phá bản chất của cái tôi.

Theo Rogers (1961), thân chủ bắt đầu lắng nghe chính mình nhiều hơn khi họ kinh nghiệm sự chú tâm của nhà trị liệu.

Thân chủ tăng cường chấp nhận cái tôi của chính mình khi họ trải nghiệm thái độ tôn trọng tích cực vô điều kiện từ phía nhà trị liệu. Họ cũng cho thấy sự chấp nhận người khác nhiều hơn. Việc tự xác định trở nên kết tinh hơn, và sự thiếu nhất quán giữa cái tôi và cái tôi lý tưởng có khuynh hướng giảm xuống.

Các nhà tâm lý học bản ngã như Erskine, Moursund, & Trautmann (1999) cũng làm sáng tỏ tầm quan trọng của mối quan hệ mang tính trị liệu như một môi trường nhất quán, an toàn mà trong đó sự chấp nhận của nhà trị liệu là giải pháp của vấn đề. Nội dung và cấu trúc của cái tôi như là kết quả của việc trị liệu thành công.

Raimy (1948), Beck và cs. (1979), Ellis & Bernard (1985), và Purkey (2000) đã cung cấp bằng chứng rằng những cái khung tham chiếu của cái tôi/ self-references di chuyển từ chỗ tiêu cực dễ nhận thấy nhất sang tính tích cực với việc trị liệu một cách thành công. Các cá nhân tự lượng giá bản thân quá cao hay dưới mức phải trải qua những cảm xúc không thoả đáng và lo hãi có thể khiến sự thực hiện suy yếu.

Trị liệu có thể trợ giúp các cá nhân phát triển những khái niệm về cái tôi một cách thực tế hơn (Torrance, 1954).

Thách thức với sự phản tác dụng của các niềm tin về bản thân như việc khái quát hoá cao độ hay lối suy nghĩ "tất cả hoặc không có gì", có thể kiến tạo nên những khái niệm cái tôi nhiều lành mạnh hơn và sự xác định cái tôi một cách rõ ràng hơn (Beck et al, 1979; Ellis & Bernard, 1985).

Có bằng chứng cho thấy trị liệu nhóm là quý giá trong tiến trình thay đổi cái tôi. Phản hồi, chấp nhận và hỗ trợ từ các thành viên của nhóm có thể làm dễ dàng hơn những sự thay đổi trong các thái độ hướng về cái tôi. Các nhóm giáo dục đã và đang được nhìn nhận là hiệu quả trong việc cải thiện các khái niệm về cái tôi.

(Thứ hai, 13.2.2006: Từ nghiên cứu đến thực tiễn ứng dụng lâm sàng)

Bài đăng Mới hơn Bài đăng Cũ hơn Trang chủ