Áp dụng cái tôi trong tâm lý trị liệu có thể bắt đầu với việc quan sát về diện mạo bên ngoài của thân chủ, nhờ đó có thể làm tỏ lộ các thái độ, trong hiện tại hoặc có lẽ đã tồn tại một thời gian lâu, hướng về cái tôi.
Một sự quan tâm không tương xứng đối với diện mạo bên ngoài có thể hàm ý sự mất giá cái tôi.
Với nhà trị liệu, những sự tương tác có thể làm sáng tỏ những phương thức đặc trưng trong quan hệ, như là cố săn tìm một sự tán đồng từ người khác, xin nhờ cậy ai đó có quyền lực, hay tìm cách kiểm soát cuộc trị liệu.
Từ góc độ trị liệu theo các cách tiếp cận của phương Đông thì tự kiểm soát có giá trị hơn sự tự quản, được xem là mục tiêu chủ yếu. Chức năng lành mạnh và tối ưu được xác định trong các giới hạn về khả năng của con người thực hành việc kiểm soát các trạng thái thể lý và tâm thần.
Mối quan hệ trị liệu phương Đông, do đó, phục vụ cho mục đích trợ giúp thân chủ đạt được tính hợp nhất với các cái tôi khác nhau của họ, và với nhận thức có trật tự.
Việc "trò chuyện trị liệu" vốn được nhấn mạnh ở các dạng thức phương Tây về sự chữa trị thì lại chỉ đóng góp một phần nhỏ trong các cách tiếp cận trị liệu phương Đông; nhà trị liệu có chức năng của một thầy dạy nhiều hơn là người lắng nghe, chỉ dẫn các nguyên tắc đạt đến độ thành thạo về mặt kỹ thuật: thiền định, yoga, nhịn ăn, võ thuật, sống chung, và sử dụng các chiến lược được thiết kế khác để củng cố thêm tinh thần tự kỷ luật/self-discipline. (Jeffrey A. Kottler, Thomas L. Sexton, Susan c. Whiston. The Heart of Healing: Relationships in Therapy. San Francisco: Jossey- Bass Publishers, 1994, p. 73).
Nhiều nhà nghiên cứu không ngừng nhấn mạnh về tầm quan trọng của việc trợ giúp thân chủ nâng cao tính rõ ràng trong việc xác định cái tôi (Combs, 1989; Mahoney, 1991; Polkinghorne, 1991; Raimy, 1948; Rogers, 1951, 1959, 1961; Singer & Salovey, 1993; Stein & Markus, 1994).
Khái niệm cái tôi là một cấu trúc mang tính giả thuyết mà có lẽ phải được chứng thực. (David J. Cain, Julius Seeman. [eds] [2nd edn]. Humanistic Psychotherapies: Handbook of Research and Practice. Washington, DC: APA, 2002, p. 485).
Có một sự khác biệt từ cái tôi tự kể/ self-report vốn là những gì cá nhân mong muốn được chia sẻ, hay có thể đem vào sự sẻ chia, về cái tôi. Bởi dấu hiệu của khái niệm cái tôi, tâm lý trị liệu về cái tôi là sự tự nhận biết sâu xa nhờ tập trung tiêu điểm trước hết, vào sự nhận thức cái tôi của thân chủ.
Trị liệu, tự thân nó, ở chừng mực nào đó là một chức năng về sự tồn tại được nhận thức riêng biệt bởi thân chủ.
Việc trợ giúp thân chủ xác định cái tôi được tiến hành nhờ sử dụng đến các thái độ mong muốn biểu lộ của nhà trị liệu như thấu cảm, tôn trọng tích cực vô điều kiện, nồng nhiệt và lưu tâm.
Các thái độ này cung cấp một môi trường an toàn mà trong đó thân chủ có khả năng nâng cao việc phát hiện cái tôi ở các mức độ sâu thẳm hơn (Carkhufff, 1968; Rogers, 1961). Những yếu tố phòng vệ được nới lỏng, và chất liệu từng bị xem là không thể chấp nhận nổi trở nên gần gũi hơn với thân chủ qua việc trải nghiệm có ý thức và sự tượng trưng hoá của cái tôi (Rogers, 1961).
Khám phá những cái tôi tự kể có thể là một phương thức hữu ích để phát triển nhiều hơn sự tự hiểu biết và tự xác định (Polkinghorne, 1991; Singer & Salovey, 1993).
Theo ý của Polkinghorne (1991) thì cái tôi không phải là một thực thể mà đúng hơn là một "câu chuyện dường như để định hình thể đời sống con người vào một cái tôi và cung cấp tính nhân dạng cá nhân"; được ông gọi là cái tôi tự kể/ self-narrative.
Một thành tựu trị liệu là xác định cái tôi tự kể nhằm cung cấp các đề tài thiết lập cuộc sống của thân chủ. Người ta xác định cốt truyện, chẳng hạn, về vị anh hùng, người tử vì đạo, kẻ bi quan yếm thế, chiến binh, tên ích kỷ, hoặc gã bị thua thiệt.
Bên trong các câu chuyện, người ta định dạng những sơ đồ hoạt động khác thường được tích hợp với các giá trị và niềm tin, có thể biểu lộ lắm sự mong đợi hoặc ước mơ của những người khác.
Mục tiêu để phát triển một cái tôi tự kể là sự nhất quán với các nhu cầu, giá trị và niềm tin riêng của cá nhân hơn là việc tạo ra một cái tôi tự kể "là bản sao câu chuyện của một ai đó" (Polkinghorne, 1991).
Theo Singer & Salovey (1993) thì những kinh nghiệm đời sống hiện tại được nhìn nhận và tích hợp vào bên trong bối cảnh của cái tôi ký ức, đưa đến sự nhất quán trong việc tự nhận thức giữa quá khứ, hiện tại và tương lai.
Trong trị liệu, "người ta quay lại với địa hạt của cái tôi ký ức- những ký ức trần thuật, các thành tựu quan trọng và những đáp ứng xúc cảm làm liên kết từ quá khứ tới tương lai qua sự trải nghiệm tại đây và ngay bây giờ."
Các ký ức tự xác định có thể chứa đựng một kịch bản hạt nhân làm tỏ lộ những xung đột chưa được giải quyết được định dạng trong các mục tiêu, những sự lựa chọn ở đời, các quan hệ với tha nhân, gồm cả quan hệ với nhà trị liệu.
Việc sử dụng ẩn dụ kịch bản hạt nhân có thể làm sáng tỏ bản chất của kịch bản và những xung đột ẩn giấu bên dưới chưa được giải quyết.
Ẩn dụ về bức tường có thể miêu tả sự xung đột giữa cái tôi và những cái khác. Nhà trị liệu có thể khám phá bản chất của bức tường trong một số thuật ngữ về sự cấu thành, chiều cao và sức bền. Người ta có thể khám phá việc bức tường thực hiện ra sao trong trị liệu. Như tất cả các tiến trình trị liệu, người ta ghi chú sự đổi thay có thể xảy ra trong bức tường; nó có trở nên yếu ớt không? thấp hơn hay cao hơn?
Ngoài những cái tôi tự kể, khái niệm cái tôi có thể được tiếp cận trong các thuật ngữ về các sơ đồ và mức độ của sự tự hiểu biết (Schorin & Hart, 1988).
Người ta có thể xác định các sơ đồ chính yếu nhất đối với thân chủ. Có sự tập trung tiêu điểm nhiều hơn vào sơ đồ thể lý, hành động, xã hội hoặc tâm lý? Khái niệm cái tôi dường như được đầu tư vào diện mạo bên ngoài hay năng lực điền kinh chẳng hạn?
Hơn nữa, việc đánh giá các mức độ tự hiểu biết có thể được xác định không ngừng ("Làm thế nào anh biết là anh giống với con người của anh cách đây 5 năm?"), phân biệt ("Anh đã mong muốn trở thành con người hiện thời như thế nào?") (Schorin & Hart, 1988).
Dunn (1985) đề nghị rằng các chiến lược trị liệu nên được hướng vào 4 sự khiếm khuyết của khái niệm cái tôi: cá tính hoá (thiếu vắng sự tự định hướng), chủ quan hoá (thiếu sự nhất quán giữa niềm tin và hành động), tích hợp (thiếu sự của việc tự lượng giá trên bề mặt của các yếu tố tạo tình huống) và điều chỉnh (sự xói mòn sức bền của khái niệm cái tôi bởi nguyên nhân từ các thách thức bên ngoài).
Ví dụ, để tăng cường sự thiếu hụt chất cá tính hoá, nhà trị liệu có thể phát triển một liên kết vững chắc với thân chủ từ các trải nghiệm cảm xúc độc lập của thân chủ. Còn để nâng cao sự chủ quan hoá cái tôi, tiêu điểm tập trung vào việc gạn lọc các giá trị có thể giúp ích được.
Tiến trình trị liệu về cái tôi xoay quanh sự đánh giá về các trạng thái ban đầu của sự tự hiểu biết trong tiến trình trị liệu, việc phát triển tính gạn lọc cái tôi nhiều hơn trong những hồi ức kinh nghiệm và mối quan hệ của nó với hiện tại, và sự lượng giá lại cái tôi, kết cục là dẫn đến sự thay đổi trong hành vi.
Lượng giá lại cái tôi bao gồm nội dung cái tôi, hoá trị của những thứ liên quan đến cái tôi (có thể tích cực hoặc tiêu cực), và ý nghĩa của cái tôi. Cuối cùng, trị liệu thành công sẽ đem lại cho thân chủ sự phát triển năng lực định giá cái tôi như một sự hướng dẫn đáng tin cậy cho hành vi và đáng tưởng thưởng từ những người khác.
(Thứ hai tới, 20.2.2006: Minh hoạ việc ứng dụng cái tôi trong thực tiễn lâm sàng trị liệu)
Phân loại: Khái niệm cái tôi, Nghiên cứu, Tâm lý trị liệu
Bài đăng Mới hơn Bài đăng Cũ hơn Trang chủ