Nhận định trên có sức thu hút rõ ràng, song không dễ được chấp nhận.
Bởi, theo suy nghĩa lâu nay đối với quảng đại quần chúng, thì trái ngược mới hợp lý chứ: người mắc bệnh trầm cảm hay gặp lắm sự cố, trục trặc ở nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội.
Theo tiến sĩ tâm lý học Kate Harkness- trưởng nhóm nghiên cứu thuộc trường Đại học Nữ Hoàng, Canada- thì họ đã lặp lại nghiên cứu trên một nhóm người tham gia khác và kết quả nhận được vẫn không thay đổi: người mắc các triệu chứng trầm cảm nhẹ /mild symptoms of depression tập trung chú ý cụ thể, chi tiết hơn về môi trường xã hội xung quanh so với người không bị trầm cảm.
Các nhà nghiên cứu giải thích: khi bị trầm cảm nhẹ (trạng thái bồn chồn, khó ở/ dysphoric), người ta tăng thêm mối quan tâm đến xung quanh.
Tuỳ mức độ trầm uất nhẹ, người ta có thể bắt đầu trải nghiệm cảm giác không nhờ cậy vào ai được, và nảy sinh khao khát giành lại quyền kiểm soát thế giới xã hội đang sống; chính chúng có thể là động cơ mạnh mẽ khiến họ xem xét thật kỹ càng, tỉ mỉ để phát hiện ra những ám chỉ xã hội tế nhị/ subtle social cues ngụ ý những gì người khác đang suy nghĩ hoặc cảm nhận.
Những nhà tâm lý học Canada cho biết thêm: trầm cảm nhẹ/ mild depression được xem như là đối cực với trầm cảm nặng/ clinical depression, dù giới chuyên môn thường xếp nó theo chiều biến thiên của căn bệnh trầm cảm.
Nhân đây, cũng cần hiểu rằng: bởi cấu trúc tâm bệnh lý đặc trưng, trầm cảm đã được nhiều nhà nghiên cứu (Compa, Ey, & Grant, 1993; Kazdin, 1983; Nurcomb, 1992) đề nghị xem như là một trạng thái xúc cảm/ mood state; một hội chứng/ syndrome tập hợp nhiều triệu chứng bất kể thuộc các rối loạn y khoa hay tâm lý; hoặc như là một cách phân loại bệnh/ nosological category bao gồm những tính chất được bao hàm lẫn loại trừ.
Tương tự, Kendall, Hollon, Beck, Hammen, & Ingram (1987) cũng như Beck (1967), Lehmann (1959) đã đưa ra các mức độ phân biệt liên quan đến thuật ngữ/ term trầm cảm: triệu chứng, hội chứng, phân loại bệnh.
Cụ thể, tự thân trầm cảm có thể được xem là một triệu chứng; ví như buồn phiền.
Khi là hội chứng, trầm cảm gồm một nhóm các dấu hiệu và triệu chứng liên kết nhau (chẳng hạn: sầu thảm, nhìn mình tiêu cực, giấc ngủ và khẩu vị bị xáo trộn); trầm cảm không chỉ là hội chứng rối loạn chức năng tâm lý mà còn hiện diện, dưới dạng phái sinh, trong các rối nhiễu đã được chẩn
đoán khác.
Và, nhìn trầm cảm từ góc độ phân loại bệnh, thì đó là những quy trình chẩn đoán phải được tiến hành cẩn trọng trong nỗ lực tách biệt ra những loại chẩn đoán bệnh tiềm năng khác.
[Theodore Millon, Paul H. Blaney & Roger D. Davis. (eds)(1999). Oxford Textbook of Psychopathology. New York: Oxford University Press, p. 205].
Liên quan đến các mô hình trị liệu trầm cảm theo cách tiếp cận nhận thức/ cognitive models of depression, có giả thuyết về quan điểm hiện thực dưới cái nhìn trầm cảm/ the depressive realism hypothesis (Haaga & Beck, 1995); theo đó, những người trầm cảm dường như "hợp lý, đúng đắn" và "không ổn, sai sót" thuộc về phần những người không mắc chúng ta.
Hơn nữa, người bị trầm cảm có vẻ lượng giá cẩn thận, chính xác hơn người không mắc. Nhiều thực nghiệm được tiến hành đã ủng hộ cho giả thuyết này.
Những người trầm cảm, chẳng hạn, xác đáng hơn người không mắc bệnh khi phán đoán chuyện người khác đánh giá mức độ tử tế hay không tử tế với họ ra sao và trong những phán đoán về khả năng kiểm soát mà họ có được trong một tình huống thực nghiệm như thế nào (Alloy & Abramson, 1979). Hậu quả ích lợi là, qua tiến trình trị liệu, nhận thức của họ trở nên ít/ less thực tế đi, mặc dù tích cực hơn.
[Paul Bennett. (2003). Abnormal and clinical psychology: An introductory textbook. Philadelphia: Open University Press, p. 182].
Phân loại: Đời sống, Nghiên cứu, Tâm bệnh học, Trầm cảm
Bài đăng Mới hơn Bài đăng Cũ hơn Trang chủ