Hôm qua, có bạn đọc bày tỏ ý ngạc nhiên về nội dung déjà vu; vì bấy lâu, anh ấy cứ ngỡ từ này chỉ "tiền kiếp" và liên quan đến khái niệm "đầu thai", "hóa kiếp" trong Phật giáo kia.

Hơi sửng sốt nên tôi đã lọ mọ lên mạng tra
Từ điển Phật học Việt-Anh.

Cụ thể, từ "tiền kiếp" được chuyển ngữ là "Past (previous) life—Past or previous incarnation"; còn toàn bộ mục từ "đầu thai" là: "Thân nầy chết, thân kia sanh. Chúng sanh sanh tử vì nghiệp lực—Transmigation—Reincarnation—The passing away from one body to be reborn in another body. Where the being will be reborn depends on his accumulated good or bad karma."

(Nhớ mang máng, đâu khoảng năm 1997, tôi đã được đọc bài dịch của một vị bác sĩ tâm thần quen biết về hiện tượng đầu thai có nhắc đến cơ chế làm việc của trí nhớ rất hay.)

Kỳ thực, ngay trong từ điển phổ thông chẳng hạn, déjà vu thường có 2 nghĩa: sự cảm thấy đã từng trải qua; điều nhàm chán. [The Oxford Dictionary of Current English. (2nd edn) (1993)/ Từ điển Anh-Việt. (1994). Nxb. Thế giới, tr. 221].

Nếu muốn biết thêm thông tin, xin hỏi Google, hoặc đọc ngay bài What is déjà vu?

Nhắc nhiều đến trí nhớ, ký ức, thật là thú vị vì mới đây trên mạng
24.3.2006 đăng tải bài viết ấn tượng về một người phụ nữ có trí nhớ hoàn hảo đến độ gây khó khăn cho các chuyên gia nghiên cứu trí nhớ hàng đầu thế giới, trong cố gắng giải thích bằng được hiện tượng độc đáo này.

Theo đó, 6 năm trước một phụ nữ được biết đến dưới cái tên là AJ đã viết thư kể cho nhà khoa học nghe, một cách chi tiết và tường tận những sự kiện nhỏ nhặt, thậm chí cả những chuyện đã xảy ra hàng chục năm rồi.

AJ bảo hãy đề nghị bất cứ ngày nào và bà có thể cho biết thứ tự của nó trong tuần, thời tiết hôm đó ra sao, các chi tiết thuộc về đời riêng của bà thời điểm ấy và những tin tức nổi bật diễn ra trong ngày.

Nhóm nghiên cứu thuộc đại học California ở Irvine đứng đầu là James McGaugh cùng 2 đồng sự là giáo sư lâm sàng tâm thần học và thần kinh học Elizabeth Parker, và trợ lý giáo sư sinh học thần kinh và khoa học hành vi Larry Cahill đã tiến hành rất nhiều phỏng vấn và trắc nghiệm tâm lý với nhiều giả thuyết đặt ra khác nhau; kết quả, họ càng ngày càng chưa hết kinh ngạc về trí nhớ của AJ.

Thí dụ, khi được hỏi những gì đã xảy ra vào ngày 16.8.1977, bà AJ không những biết là Elvis Presley đã chết mà cả chuyện việc tính thuế tại California khởi sự từ 6.6 của năm tới; rồi vào 25.5.1978 có một vụ tai nạn máy bay ở Chicago. McGaugh hoàn toàn bất ngờ khi hỏi AJ về Bing Crosby, người không cùng thời với bà, song không những AJ biết ông này đã chết mà còn kể cụ thể ngày ông này chết nhằm vào thứ mấy trong tuần, tại một cuộc thi đấu golf ở Tây Ban Nha.

Hầu hết mọi người có lối ghi nhớ thông thường, rất dễ nhầm lẫn. Chúng ta biết mình đang ở đâu, đến sở làm bằng phương tiện gì nhưng không thể biết thời tiết ra sao vào một ngày cách đây 4 năm chẳng hạn.

Trong khi không ít người trên khắp thế giới phải đương đầu với bao phiền nhiễu vì quên, thì chẳng biết bà AJ có khổ sở chút nào không vì đặc điểm nhớ kỳ lạ như thế; nhóm Irvine đặt tên cho hiện tượng này là hội chứng nhớ quá độ/ hyperthymestic syndrome (hyper: tăng nhiều hơn mức bình thường; thymesis- từ nguyên Hy Lạp: ghi nhớ).

Từ bà AJ, tôi lại liên tưởng về một hiện tượng hoài niệm và nỗi ngóng trông dĩ vãng xa xôi được định danh bằng căn bệnh Nostalgie (từ nguyên Hy Lạp, "nostos": quy cố hương; "algos": niềm thống khổ), vốn mang nghĩa là
tình hoài hương, nỗi nhớ nhung quyến luyến nơi sinh thành yêu dấu .

Johannes Hofer, vị bác sĩ xứ Basel ở miền Bắc Thụy Sĩ đã sáng tạo ra từ Nostalgie này, nhận thấy những người lính đánh thuê và sinh viên đồng hương xa nhà của ông lại lên cơn sốt nặng mỗi lần nghe nhắc đến rặng núi Alpen trứ danh; các triệu chứng nổi bật là ưu sầu, bất an và muốn được ở một mình.

Để chữa trị cho họ, Hofer sử dụng các trò giải trí, tiêu khiển bằng các môn thể thao hoặc hay nhất là, để họ về thăm nhà một chuyến.

Nhiều đồng nghiệp của Hofer xem Nostalgie như một tiến trình bệnh lý, có thể biến thành cơn dịch.


Sang thế kỷ 18, chịu ảnh hưởng của Jean Jacques Rousseau (1712-1778), Nostalgie còn hàm nghĩa là lòng khao khát trở về với những phong tục tập quán ở chốn thôn dã đồng quê.

Ngày nay, các nhà tâm lý học quan niệm: Nostalgie là nỗi khát vọng hướng đến những tình trạng lành mạnh hơn và tốt đẹp hơn, hay là sự truy cầu nào đó, xuất phát từ nghịch cảnh hiện tại mà con người không thể vượt qua. (chẳng hạn, xin xem: The age of nostalgia trên Psychology Today, tháng 9-10/2004).

Vì thế, mới có chuyện các đôi uyên ương ríu rít dắt nhau rời Hà thành phồn hoa để ghi khắc sự kiện đáng nhớ trong đời tại một vùng quê đậm đặc chất nông thôn Bắc bộ, với nhà tranh mái rạ tường đất, đường làng lát gạch nhấp nhô, con trâu, bờ đê đầy cỏ dại và hoa xuyến chi vàng ngơ ngác,...

Không chỉ nhằm tạo sự khu biệt với những người khác, kẻ mắc Nostalgie dường như còn bộc lộ tâm trạng chán mứa với tiện nghi đủ đầy vây bọc đến nghẹt thở của đời sống hiện đại và phản ánh phương thức phản kháng xã hội đang không ngừng tha hoá nhân cách.

Ở góc độ nhẹ nhàng và dễ dàng được cảm thông, chia sẻ hơn, cũng chẳng xa xôi lắm, Nostalgia thể hiện trong tinh thần tự hào dân tộc phấn khích quá đà và đã kịp lắng xuống hợp lý: đợt giới thiệu ầm ĩ về vidéo clip Bonjour Vietnam của Marc Lavoine qua tiếng hát gợi niềm xao xuyến quê cha đất tổ của cô gái Việt kiều Phạm Quỳnh Anh.

Bài đăng Mới hơn Bài đăng Cũ hơn Trang chủ