Chiều tối qua, trước giờ vào học Hán-Nôm, một bạn cùng lớp là nữ sinh viên theo hệ đào tạo chất lượng cao khoa Lịch sử đề nghị tôi giải thích hiện tượng không ít người chơi lô đề theo những con số nằm mơ thấy đã trúng đậm.

Nữ sinh viên này vừa mượn từ thư viện trường cuốn sách Phân tâm học và văn hóa tâm linh để tham khảo cho đề tài liên quan đến chuyện chơi lô đề- thuộc lĩnh vực nghiên cứu của bộ môn Dân tộc học.

Wow! Với ít phút thật không dễ trả lời nhanh và đủ sức thuyết phục một câu hỏi như thế. Bước đầu, tôi đề nghị cô ấy thử đọc thêm Giải mộng/The Interpretation of Dreams của Sigmund Freud, sau khi thẳng thắn thổ lộ rằng hiện tại mình không thể lý giải vấn đề gẫy gọn được.

Tôi tự hứa sẽ dành tâm trí để trao đổi với cô ấy, trong khả năng có thể, khi nhiều thời gian hơn. Lúc này, thắc mắc của nữ sinh viên làm tôi nhớ đến một thực nghiệm về chuyện trẻ con học hiểu ảnh hưởng mang tính nhân quả của hành vi như thế nào.

(Kushmir, T., & Gopnik, A. (2005). Young children infer causal strength from probabilities and interventions. Psychological Science, 16(9), 678-683). Xin xem toàn văn cuộc nghiên cứu
ở đây.

Trong đời sống thường ngày, trẻ em cố gắng tìm hiểu những gì đang xảy ra xung quanh mình. Chẳng hạn, muốn biết vì sao đèn sáng lên trong phòng bé. Nó để ý rằng, cứ hễ mẹ nó vào phòng là đèn bật sáng; song đôi lúc, nửa đêm, tuy mẹ đến mà đèn đâu có bật sáng. Vậy, xem chừng nguyên nhân nằm ở chỗ khác.

Trẻ em có thể tin rằng chính chúng kiểm soát tính nhân quả của hành động; thí dụ, khi nó khóc, mẹ nghe tiếng bước vào phòng và đây là nguyên nhân làm đèn sáng lên. Hoặc có thể chúng lượng giá xác suất có thể xảy ra: mỗi khi mẹ bước vào phòng thường liên quan với việc đèn sáng, và đó có thể là nguyên nhân.

Hai nhà tâm lý học Kushmir (Đại học Michigan) & Gopnik (Đại học Oxford) tại Hoa Kỳ đã thiết kế một thực nghiệm nhằm thử phân biệt hai cơ chế quyết định quan hệ nhân quả/ causality.

Họ đưa cho các bé 4 tuổi một cái hộp; cái hộp này sẽ phát ra nhạc khi trẻ đặt lên đấy một khối đồ chơi bằng gỗ. Kỳ thực, cái hộp do nghiệm viên kiểm soát (quyết định chiếc hộp phát ra nhạc hay không); điều này cho phép họ ghi nhận phản ứng của trẻ trong những tương tác khác nhau giữa các khối đồ chơi bằng gỗ và chiếc hộp âm nhạc.

Mỗi lần thử, một trong hai khối gỗ (A và B) được đặt lên 3 lần; tức là, tổng cộng 6 lần với cả 2 khối. Với việc để cho chiếc hộp phát ra nhạc mỗi khi đặt khối A lên (3 lần) trong khi chỉ có 1 lần hộp phát ra nhạc lúc đặt lên khối B, và trẻ được đề nghị nên đặt khối gỗ lên hộp để hộp lại phát ra nhạc lần nữa; kết quả ghi nhận được: 68% số lần trẻ đã chọn khối A (mang đầy ý nghĩa hơn là sự bất ngờ, ngẫu nhiên).

Nhưng giả sử khối A chỉ là nguyên nhân làm hộp phát ra nhạc 2/3 lần đặt lên và khối B vẫn chỉ làm hộp phát ra nhạc 1/3 lần đặt lên hộp? Liệu khi đó trẻ sẽ tiếp tục “đặt cược” vào khối gỗ A? Kết quả phụ thuộc vào tuần tự đặt các hộp lên như thế nào; cụ thể, Kushir & Gopnik đưa ra kịch bản sau:

Đặt khối A (có nhạc)- khối A (có nhạc)- khối B (không)- khối B (không)- khối A (không)- khối B (có nhạc).

Trong trường hợp này, hai nhà nghiên cứu nhận thấy chỉ có 67% số trẻ chọn khối A (không thật sự mang ý nghĩa so với khả năng tình cờ xảy ra).

Thay đổi phương thức tiến hành đã dẫn đến kết quả kịch tính hơn. Nếu nghiệm viên cho phép/ let bọn trẻ đặt khối gỗ lên hộp (không kiểm soát) trong 2 lần thử sau cuối (khối A vẫn tiếp tục phát ra nhạc 2 lần và khối B 1 lần) thì bọn trẻ đã chọn khối B với tỷ lệ rất cao: 79% số lần đặt lên hộp: tự chúng đã đặt khối B lên hộp và nhìn thấy chiếc hộp phát ra nhạc. Chúng chú ý cao độ đến ảnh hưởng của hành động do chính mình thực hiện hơn là xác suất của mỗi lần đặt khối gỗ A hoặc B để chiếc hộp phát ra nhạc.

Vấn đề còn ở diễn tiến tương hợp với chuyện chiếc hộp phát ra nhạc nữa. Xem xét phiên bản sau chẳng hạn:

Đặt khối A (có nhạc)- khối A (không nghe gì)- khối B (có nhạc)- khối A (có nhạc)- khối B (không nghe gì).

Trong trường hợp này, bất luận tất cả số lần đặt các khối gỗ lên chiếc hộp có sự can thiệp của nghiệm viên hay để tự chính trẻ chọn cho 2 lần thử sau cùng thì hầu như trẻ đặt khối A lên hộp (95% số lần khi trẻ chọn và 84% số lần khi nghiệm viên điều khiển toàn bộ khối gỗ).

Thực nghiệm của hai nhà tâm lý học trên chứng tỏ, dường như những đứa trẻ 4 tuổi ấy có thể đáp ứng cho cả lựa chọn xác suất/ probalitiy và các kết quả xảy đến từ hành động của chính bản thân chúng- sử dụng các kết quả này để mà dự đoán/ prediction nguyên nhân.

Khi lựa chọn xác suất xung đột với các kết quả do trẻ tự thực hiện đem lại, thì bọn trẻ sẽ nghiêng theo hướng đánh giá cao các hành động của chúng hơn là sự chọn lựa mang tính xác suất.

Hàm ý thật ấn tượng: từ một độ tuổi còn rất non nớt, trẻ con dường như đã tin rằng chúng có một ảnh hưởng quan trọng đến các sự kiện. Và chỉ khi thấy rõ ràng là tác động của mình chỉ ở mức tối thiểu thôi, chúng mới quan tâm thực sự đến các khả năng khác- dù cho chúng được trang bị những công cụ, thiết bị tốt để tiến hành như thế.

Tôi cũng rất thích ý tưởng cho rằng, cách thức bọn trẻ học hiểu luật nhân quả từ những hành động đời thường hàng ngày là khá gần gũi với kiểu dân mê đánh đề sẵn sàng “chơi ván cuối” theo lối “được ăn cả, ngã về không”?

Tựa như những đối tượng máu me cờ bạc khác, nhiều người chơi đề luôn thừa tự tin cho rằng nhất định lần này mình sẽ trúng quả đậm… Có phải đó là lý do khiến họ kiên trì “om” suốt thời gian dài một con số yêu thích; và quyết tâm “đánh mãi phải trúng” ấy biểu lộ ý nghĩ rằng họ có thể tác động đến việc con đề nào sẽ về hôm nay?

Bài đăng Mới hơn Bài đăng Cũ hơn Trang chủ