
Đây có thể là lần đầu giới nghiên cứu Tâm lý học báo cáo về một trường hợp hy hữu tự chịu trách nhiệm về tai họa khủng khiếp diễn ra vào năm 2001 tại Hoa Kỳ.
Hai tác giả Mary Robertson & Andrea Cavanna giới thiệu về cậu bé 10 tuổi mắc hội chứng Tourette kèm các triệu chứng ám ảnh cưỡng bức; người tin tưởng rằng, cuộc khủng bố ngày 9.11 xảy đến là do cậu đã không hoàn tất một trong các nghi thức mình vẫn tiến hành hàng ngày.
Tuy được mô tả là "cực kỳ dễ thương và đáng yêu" cộng với kết quả học tập tốt ở trường, song cậu bé này từng được đưa đến gặp chuyên gia tham vấn tâm lý trước khi sự kiện 9.11 xảy ra.
Và với tính cách của một người mắc hội chứng Tourette, cậu bé thể hiện nhiều dạng thức của chứng máy giật không kiểm soát nổi, gồm cả tật nháy mắt liên tục và phát âm khó khăn, đồng thời có vấn đề về chú ý và khuynh hướng ám ảnh.
Theo tác giả Robertson, trong lần gặp tiếp theo 2 tuần sau sự kiện 9.11, cậu bé rơi vào trạng thái tồi tệ, "cực hình" bởi tật máy giật và bị tội lỗi hành hạ do cậu suy nghĩ rằng, sự kiện 9.11 diễn ra vì cậu đã không đi bộ dọc theo vạch màu trắng riêng biệt trên đường.
Đấy là một trong các nghi thức mà cậu thường tiến hành suốt năm; một số thuộc nghi thức khác gọi là "sờ chạm nguy hiểm" như nhu cầu cảm nhận độ sắc bén của các lưỡi dao, và đặt tay mình gần với làn hơi tỏa ra từ ấm nước đang đun để kiểm tra độ nóng của nó.
Điều quan trọng đáng chú ý, hai nhà nghiên cứu trên khẳng định, niềm tin của cậu bé về sự kiện 9.11 khác biệt hoàn toàn so với các trải nghiệm hoang tưởng ở người mắc loạn thần; thay vào đó, là nỗi sợ hãi có dạng thức cực đoan của người mắc rối loạn ám ảnh cưỡng bức vốn thể hiện khi họ không hoàn tất các nghi thức tự mình đặt để.
Thật may mắn, cậu bé được điều trị bằng thuốc và làm cho an tâm (tính cả sự giải thích rằng việc quên thực hiện nghi thức xảy ra sau 9.11, cũng như giúp cậu bé biết múi giờ khác nhau giữa Hoa Kỳ và nước Anh), dần dần khiến cậu bé nhận ra là mình không phải chịu trách nhiệm về cuộc khủng bố đó.
Hai tác giả nghiên cứu trên còn nói rằng, trường hợp cậu bé làm người ta chú ý tới cách thức truyền thông trong xã hội hiện đại-- "tức thì, thực tế và dễ hồi tưởng"-- có thể dẫn dụ về các cuộc tấn công khủng bố và tai họa ghê gớm khác đã, đang và sẽ gây hậu quả nghiêm trọng, làm tổn thương những người không trực tiếp sống gần với hiện trường xảy ra sự cố.
(Nguồn)
Đất nước Brazil, vùng Amazon, bộ lạc Suruwaha:
"Những đứa trẻ tật nguyền này được hưởng toàn thức ăn ngon trong khi chúng ta chỉ gặm mỗi đồ xương xẩu.Hakani, câu chuyện phản ánh tập tục văn hóa và mối gắn bó huyết thống liên thuộc về một cô bé bị chôn sống của David L.Cunningham.
Chúng không thể nói năng hay đi lại đàng hoàng. Tâm hồn chúng bị các hồn ma đánh thó mất rồi.
Chúng ta đã làm gì để các linh hồn nổi giận vậy?
Những đứa trẻ tật nguyền này lẽ ra không nên sinh ra trên đời. Và giờ đây chúng ta phải hứng chịu tai họa vì cho phép chúng sống sót".
Muốn tìm hiểu cặn kỹ hơn, xin đọc thêm.
Nếu hình ảnh người thổ dân Anh - điêng trần truồng khiến bạn so sánh với thời hiện đại, có thể gợi hứng bằng cách tham khảo ở đây.
(Nguồn ảnh)
Nhân ý kiến cực kỳ bất ngờ (rất xứng đáng để được bàn luận kỹ càng hơn sau này) của PGS. TS. Nguyễn Ánh Tuyết đề nghị 'không nên gọi đó là bệnh tự kỷ mà nên gọi tên đích xác của nó là bệnh rối loạn tâm thần', trước hết blog Cái tôi sẽ thử tìm cách giải thích thật ngắn gọn các tiêu chí của DSM-IV về Tự kỷ (autism).
Theo đó, Tự kỷ và các rối loạn khác có liên quan được phân loại trong một khái niệm rộng hơn là các "rối loạn phát triển lan tỏa" (PDD: Pervasive Developmental Disorders).
Các rối loạn này bao gồm: rối loạn Tự kỷ (Autistic Disorder), rối loạn Rett (Rett's Disoder), rối loạn tan rã của trẻ em (Childhood Disintegrative Disorder) , rối loạn Asperger (Asperger's Disorder) và rối loạn phát triển lan tỏa không xác định khác (Pervasive Developmental Disorder NOS).
Ở đây, sẽ chỉ tập trung vào các triệu chứng và dấu hiệu của Tự kỷ.
Việc chẩn đoánTự kỷ dựa trên các triệu chứng cơ bản quan sát thấy hoặc qua báo cáo trong phạm vi 3 nhóm loại tiêu chuẩn.
1. Rối loạn định tính/ chất lượng trong sự tương tác xã hội, như là:
- a) rối loạn trong việc sử dụng các hành vi không lời (ví dụ, mắt nhìn chằm chằm, biểu lộ động dung khuôn mặt, v.v...),
- b) không theo kịp khả năng phát triển độ tuổi tương ứng trong quan hệ với bạn cùng trang lứa, thiếu vắng sự tìm kiếm tự phát niềm vui, mối quan tâm, hoặc thành tựu với những bạn khác (cậu/ cô bé có chỉ cho bạn thấy điều gì đó cháu làm không, có mời bạn chơi cùng cháu, v.v...)
- và c) thiếu vắng cảm xúc hỗ tương qua lại (cậu/ cô ấy cảm thấy buồn khi bạn buồn? Cháu biểu hiện sự lo lắng khi chính bạn tự gây đau bản thân mình, v.v...).
Để chẩn đoán, phải có ít nhất 2 trong các triệu chứng vừa nêu.
2. Rối loạn định tính trong giao tiếp, như là:
- a) chậm trễ hoặc thiếu hụt trong sự phát triển ngôn ngữ nói,
- b) thiếu khả năng khởi đầu và duy trì cuộc trò chuyện với những người khác,
- c) ngôn ngữ lặp đi lặp lại và mang tính định hình (lặp lại những từ cuối cùng trong câu bạn nói hoặc lặp lại một cách thường xuyên một cụm từ ngữ cháu nghe thấy được) hoặc ngôn ngữ lập dị (cậu/ cô bé ấy có dùng câu chữ, ngôn ngữ riêng mô tả các đối tượng đặc thù, v.v..., cao hơn mức mong đợi cơ bản phù hợp với lứa tuổi của cháu),
- và d) thiếu vắng việc làm khác đi, tự phát để tạo nên sự tin tưởng hoặc chơi tương tác (cháu có ý định chơi? Muốn tham gia để hợp tác chơi với các bạn cùng trang lứa?)
Để chẩn đoán Tự kỷ, phải có ít nhất 1 trong các tiêu chuẩn vừa nêu.
3. Các họat động, mối quan tâm và hành vi mang tính định hình, lặp đi lặp lại, thu hẹp, như là
- a) tâm trí bị thu hút khác thường trong cường độ hoặc tiêu điểm chú ý tới một hoặc nhiều mẫu thức thể hiện sự thu hẹp và định hình (cậu/ cô ấy bị ám ảnh bởi bát đĩa? Dây ăng-ten? Đất nước Argentina? Các chấm đỏ? vượt lên cao và xa hơn hẳn xã hội thông thường - do đó, không kể vào đây hầu hết trường hợp ám ảnh bởi các trò chơi video games),
- b) bám chặt không chịu từ bỏ các thói quen riêng có, phi chức năng (luôn luôn có nhu cầu tắt đèn trước khi mở cửa nhà, chẳng hạn),
- c) các cơ chế vận động mang tính lặp đi lặp lại và định hình (rung tay, vặn xoắn bàn tay,...),
- và d) ám ảnh dai dẳng với các phần của đồ vật, đối tượng (cậu/ cô ấy có thể dành hàng tiếng đồng hồ liền để nhìn chòng chọc vào sợi dây điện của chiếc quạt bàn, đầu bút,...?).
Để chẩn đoán Tự kỷ, phải hiện diện ít nhất 1 trong các biểu hiện vừa nêu.
Ngoài các triệu chứng dẫn trên, phải có tiền sử chức năng biểu hiện bất thường trước 3 tuổi ở ít nhất một trong các lĩnh vực như sau: tương tác xã hội, sử dụng ngôn ngữ khi truyền thông xã hội, và chơi các trò mang tính biểu tượng hoặc tưởng tượng.
Hơn nữa, nếu thỏa mãn chẩn đoán Rối loạn Rett hoặc Rối loạn Tan rã của Trẻ em thì các chẩn đoán đấy thay thế chẩn đoán Tự kỷ và không nên chẩn đoán Tự kỷ.
Cuối cùng, cần lưu ý rằng vấn đề chậm phát triển tâm thần không được nhấn mạnh ở bất cứ tiêu chí chẩn đoán Tự kỷ nào. Lý do: 2 chẩn đoán tách biệt nhau thì không có liên hệ về mặt phân loại học.
Phân loại: Học vấn, Phương pháp luận, Tâm bệnh học, Tâm lý học Lâm sàng, Trẻ em, Truyền thông, Tự kỷ
Nghe nói đến đã lâu, song bây giờ mới tình cờ tìm thấy tư liệu chính thức câu chuyện bầu chọn lớp trưởng của học sinh lớp 3 tại Trung Quốc này, cùng đầy đủ các đoạn băng liên quan (1, 2, 3, 4, 5).
Tự dưng nghĩ ngay đến bé 4 tuổi qua lời kể của mẹ, và sực nhớ sắp hết thời gian rồi nên cần nói lời chúc mừng Ngày Quốc tế Thiếu nhi 01.6!
@ Cập nhật, 02.6: Còn đây là sự biểu quyết tẩy chay một cậu bé 5 tuổi mắc Tự kỷ ra khỏi trường Mẫu giáo, kèm bài phỏng vấn người đại diện Phòng Giáo dục Quận thuộc tiểu bang Florida- Hoa Kỳ.

Xe bus tuyến số 32 sau 22h, xuất phát từ bến xe Giáp Bát cứ lượn lờ vòng vèo hết phố này đến đường nọ, mãi rồi mới chịu chạy qua công viên trước Cột Cờ- Trần Phú.
Vì đường xa ướt mưa-- thề độc là chẳng hề dính líu tí tẹo tèo teo nào với ca từ rủ rê yêu đương trai gái-- làm cảm giác đứng đợi một, hai chuyến cuối nữa thôi trong ngày thêm phần xa cách và bình lặng.
Bởi mỗi cá nhân ta đang ở đây, nơi này, với mưa giăng thành màn che mờ ngọn đèn cao áp trên cao kia, và một cặp dựng xe chờ tạnh tranh thủ tay chân siết nhau sờ sờ bên cạnh.
Vì đường xa ướt mưa, hai người đàn bà te tái gánh đồ lề bán chè chén, thuốc kẹo ngao ngán rảo bước qua nhanh nhanh về mái nhà chốn phù du nao chẳng rõ.
Đường xa ướt mưa, lá cây được gột rửa âm thầm hoán chuyển tâm trạng từ đợi mong vu vơ thành xôn xao buộc ràng địa chỉ.
Và gió, rỗi việc nói với người lãn công về một tương lai còn nhiều khó khăn chồng chất song thật đáng gieo mầm sự sống bời bời.
Vì đường xa ướt mưa, cậu bé vừa chạm ngưỡng dậy thì tuy mắc Tự kỷ lâu lắc giờ đây cũng đã tìm ra cách thức để giao tiếp với đời trong căn bếp nhỏ.
(Màu sắc, mùi vị, tiến trình chuẩn bị vật phẩm, tuần tự các công đoạn nấu nướng cứ khơi gợi ham muốn giao tiếp, dù ú ớ bao lần khi cố gắng bật thành lời muốn nói.)
Vì đường xa ướt mưa, cô nữ sinh viên ấy kiên nhẫn lắng nghe, học hỏi thế giới nội tâm ngổn ngang trăm mối để thỏa nỗi niềm riêng tây thách thức bản thân đổi thay, trước cơ hội nhận ra lý do khiến mọi việc xảy đến:
1. Để giúp ta cảm thấy thoải mái, tự nhiên như ở nhà trong thế giới nàyVì đường xa ướt mưa, bệnh nhân Tâm thần phân liệt cứ ám ảnh phân vân con thuyền neo bến nước trong film Thủy Hử có giữ mãi được vẻ khô ráo dù ngập chìm cùng nghịch cảnh tai ương.
2. Để rốt cục giúp ta chấp nhận chính con người mình
3. Để chỉ cho ta thấy rằng ta có thể rời xa sự sợ hãi
4. Để mang ta đến nơi chốn mà ta có thể được thứ tha
5. Để giúp ta vén lộ dần tài năng bấy lâu ẩn kín
6. Để cho ta những gì cần thiết đặng tìm thấy tình yêu đích thực
7. Để nâng đỡ ta mạnh mẽ, vững vàng hơn
8. Để giúp ta khám phá chuyện đùa vui với đời
9. Để hiển thị cho ta hiểu phải sống ra sao thì phù hợp ý thức về sứ mệnh của bản thân
10. Để giúp ta trở thành một con người thiện lành thích đáng.
Ai đó bảo: tuổi trẻ đến muộn là tuổi trẻ chung đụng dài lâu; chưa bao giờ tôi lại dịu dàng tin thế, ít nhất vì đường xa ướt mưa...
Phân loại: Học vấn, Hôn nhân-gia đình, IQ, Khái niệm cái tôi, Kỹ năng sống, Phụ nữ, Rối nhiễu, Sức khỏe tâm thần, Tâm linh, Trẻ em
(nguồn)
Theo hướng dẫn, các mẹo mực hàng đầu để giúp trẻ nhỏ mắc Rối loạn Phổ Tự kỷ (ASD) sẽ bao gồm một số lĩnh vực chính yếu: hành vi, giao tiếp, cảm giác, tương tác xã hội và các nguyên tắc chung.
@ Hành vi
- Thách thức hành vi thường là nỗ lực nhằm giao tiếp-- không phải thứ vô tích sự.
Gắng định dạng điều khởi phát hành vi. Định dạng các nguồn gây lo lắng.
- Xem chừng việc trẻ tỏ ra xung hấn, giận dữ tựa như thể trẻ bé hơn bị chậm phát triển cảm xúc.
- Nhất quán trong mọi điều bạn thực hiện.
Thảo luận các vấn đề hành vi với người khác và chắc chắn rằng mọi người tán đồng với cách tiếp cận bạn đang tiến hành.
- Luôn không ngừng khuyến khích những sự đổi thay nhỏ nhặt hàng ngày.
- Bảo với trẻ những gì bạn mong đợi cháu làm, chứ đừng nói ra những gì bạn không muốn.
- Nhớ rằng các kỹ thuật thông dụng khiến trẻ lo lắng thấy bình lắng lại-- như ôm ấp hay cho ngồi lên đùi-- có thể phản tác dụng với trẻ mắc ASD.
- Đừng cố chấm dứt hành vi kỳ quặc hoặc lặp đi lặp lại (định hình, rập khuôn) trừ khi việc đó quấy rầy chuyện học hỏi hay đe dọa sự an toàn của trẻ khác.
Tốt hơn nên điều chỉnh hành vi của cháu.
- Động viên trẻ đề nghị được giúp đỡ trước khi trẻ rơi vào hụt hẫng.
- Tác động vào mối quan tâm và những đam mê của trẻ nhằm nâng cao động cơ học hỏi các kỹ năng mới.
@ Giao tiếp
- Đơn giản hóa câu chữ.
Phải rất riêng biệt, cụ thể.
- Nhớ rằng ngôn ngữ đa phần là sự diễn dịch ra thành câu chữ.
- Tránh mỉa mai, châm chích.
Dùng lối nói ẩn dụ dễ gây bối rối cho trẻ.
- Đầu tiên gọi tên trẻ để gây sự chú ý, ngay cả khi đang với cả đám đông.
- Mỗi lúc chỉ nêu lên một hướng dẫn. Cần cho trẻ đủ thời gian để hiểu yêu cầu rồi mới đáp ứng nổi hướng dẫn của bạn.
Điều này cần đòi hỏi thời gian nhiều hơn ở trẻ mắc ASD.
- Khuyến khích tiếp xúc bằng mắt, nhưng đừng nài nỉ nếu chuyện ấy gây lo sợ cho cháu.
- Ý thức rõ các diễn đạt vẻ mặt và cử chỉ có thể gây hiểu nhầm.
- Các biểu hiện thị giác có thể hỗ trợ cho ngôn ngữ thành lời.
- Hồ hởi trước những nỗ lực giao tiếp của trẻ.
@ Cảm giác
- Trẻ mắc ASD có thể bị xao lãng bởi những tiếng ồn thông thường do người khác không cố ý tạo ra.
Thậm chí, tiếng ồn nhỏ hơn cũng có thể quấy nhiễu với một số trẻ.
- Trẻ có thể cảm thấy quá tải trước những kích thích thị giác, với sự tiếp xúc thể chất ở khoảng cách quá gần gũi.
@ Tương tác xã hội
- Các kỹ năng xã hội không tự nhiên hình thành, mà chúng cần được dạy dỗ thật chi tiết.
- Giúp trẻ dần nhận ra rằng, người khác có những cảm nhận và suy nghĩ có thể khác biệt với chúng.
- Trẻ không chú tâm vào những gì bạn cho là hiển nhiên-- hãy thể hiện mọi thứ rõ ràng.
- Một số trẻ cần thêm thời gian hoặc sự lặng yên để lĩnh hội những yêu cầu khi trao đổi với người khác.
- Cần hiểu sự khó khăn của trẻ khi chúng diễn dịch các tình huống xã hội.
Cần có mô hình và sự gợi ý, nhắc nhở chính xác hành vi xã hội.
@ Các nguyên tắc chung
- Theo lệ thường, trẻ mắc tự kỷ phát triển nhanh, mau lớn.
Các liệu trình nên cấu trúc thật rõ ràng, dễ dự đoán.
- Dù lề thói hàng ngày là quan trọng, cũng nên tạo ra thích nghi uyển chuyển nhằm giúp trẻ đương đầu với vài thay đổi nho nhỏ trong một môi trường được nâng đỡ.
- Thay vì bảo với trẻ "tìm việc gì đó để làm", hãy thử chỉ cho trẻ biết những gì chúng có thể làm và đưa ra các ví dụ về sự sáng tạo trong công việc.
- Khuyến khích sự khái quát hóa các kỹ năng, dạy cho trẻ thực hiện nhiệm vụ tương tự trong các tình huống khác nhau.
- Kiên trì.
Tiến trình có thể diễn ra chậm chạp và các kết quả nhiều khi rất khó nhìn thấy tức thì.
- Ung dung tự tại, tích cực và nhất quán.
- Mỗi đứa trẻ mắc ASD có những khả năng và nhu cầu riêng-- những gì phù hợp với đứa này chưa chắc thích đáng với đứa khác.
- Mỗi đứa trẻ có thể đang dở người, gặp điều khó chịu.
Đừng cảm thấy có lỗi nếu nhiều chuyện diễn ra chẳng tốt đẹp như ý muốn.
(Dưới bàn tay của trẻ tự kỷ, giấy và kéo có thể diễn tả một thứ quang phổ kỳ thú)
Phân loại: Học vấn, Não-Thần kinh, Nghiên cứu, Phương pháp luận, Trẻ em, Tự kỷ
(nichd.nih.gov)
Theo bài báo trên tờ Sciencedaily, có mối liên quan giữa bệnh tâm thần của bố mẹ và hội chứng tự kỷ ở trẻ.
Nghiên cứu xem xét các báo cáo tại bệnh viện Thụy Điển trẻ em sinh từ 1977 tới 2003 được chẩn đoán là tự kỷ, và so sánh số đối tượng này với những trẻ không mắc.
Sau đó, nhóm nghiên cứu khảo sát tỷ lệ nhập viện vì các bệnh tâm thần của bố mẹ thuộc cả hai nhóm.
Sẽ không thừa, khi lưu ý rằng, một sự gắn bó không phải là liên quan mang tính nhân quả, và nghiên cứu nêu trên không khẳng định bố mẹ tâm thần nên con bị tự kỷ.
Hiểu thấu đáo chuyện tự kỷ có thể chiếm ưu thế cao hơn trong những gia đình mang tiền sử về bệnh tâm thần; bất luận mối liên quan tới môi trường (ví dụ, thông qua môi trường nuôi dạy trẻ trong gia đình) hoặc bởi di truyền, hay cả hai; suy cho cùng, tất cả đều góp phần giúp chúng ta biết cách nỗ lực ngăn ngừa cũng như chăm chữa cho trẻ tốt hơn.
Phân loại: Hôn nhân-gia đình, Nghiên cứu, Phương pháp luận, Sức khỏe tâm thần, Tâm bệnh học, Trẻ em, Truyền thông, Tự kỷ
Đó là tên một bài thơ nổi tiếng của "người phu chữ"- cố thi sĩ Lê Đạt (1929-2008).
Chưa đầy nửa tiếng đồng hồ trước, tôi vừa đọc tin một chàng trai 16 tuổi, học sinh lớp 8, quyên sinh.
Điểm khiến tôi quan tâm qua các vụ tự tử gần đây là đối tượng trẻ về độ tuổi, chịu tác động chủ yếu vì chính đời sống tình cảm cá nhân hoặc buồn chuyện gia đình.
Nghiên cứu cho thấy, trẻ có bố bị căng thẳng tinh thần quá sức vì công việc thường tăng nguy cơ tự tử.
Không thể bỏ qua thống kê: cứ 4 trẻ thì có 1 đứa nói rằng chúng "thường xuyên cảm thấy u uất".
Việc định danh và hỗ trợ kịp thời, càng sớm càng tốt các dấu hiệu trầm cảm ở lứa tuổi vị thành niên là cực kỳ cấp thiết; bởi, tự tử là nguyên nhân xếp thứ hai thông thường nhất dẫn đến cái chết với thanh thiếu niên 15-24 tuổi ở Anh và xứ Wales.
Gắn bó với học đường, gợi nhớ những câu chuyện về sự bắt nạt. Kết quả thực nghiệm cho thấy, nỗ lực huấn luyện giáo viên nhận ra các dấu hiệu trầm cảm bị phá sản.
Tự tử là vấn đề nan giải nảy sinh cực kỳ phức tạp trong xã hội hiện đại, và không thuần túy khu trú chỉ ở mỗi căn bệnh trầm cảm.
Câu chuyện chia tay, đổ vỡ trong quan hệ đủ khiến ai đó phải giã từ cõi đời một lần nữa, nhắc ta về "cơn điên tình ái"; theo giáo sư sinh học- thần kinh Zeki, dưới con mắt của người đang cuồng si thì đối tượng của họ được/ bị đánh giá, nhìn nhận dưới trạng thái ít nhiều hồi hộp, đợi chờ căng thẳng với vô vàn biểu hiện phong phú, xảy ra dồn dập trong hệ thống não.
Tự tử, nhất là tự tử xảy ra ở độ tuổi vị thành niên, có liên quan đến chuẩn mực xã hội, quan niệm văn hóa, sự buồn chán cũng như việc tự làm hại bản thân.
Song đó là câu chuyện dài thích hợp cho một không- thời gian khác đã nguôi ngoai, vơi bớt nỗi buồn khổ.

Các cuộc điều tra khoa học về nguyên nhân của tự kỷ vẫn tiếp tục được bao bọc trong một bầu không khí tranh luận đầy xúc cảm.
Nhiều bậc phụ huynh-- do thiếu kiên nhẫn khi tìm kiếm lời giải thích cho các vấn đề của con em mình-- đổ tội cho vaccines, đặc biệt do chúng dung dưỡng chất thủy ngân.
Tuy nỗi sợ vaccines hiện chẳng còn được tín nhiệm nhờ nhiều bằng chứng hiển nhiên, thì câu chuyện ấy vẫn tiếp tục lưu giữ các yếu tố môi trường có vẻ khá hợp lý như thủy ngân-- chất xem chừng tàn phá ghê gớm sự phát triển bào thai, góp phần tạo nên nguy cơ mắc tự kỷ.
Một nghiên cứu mới đây tiến hành tại các trường cấp quận thuộc tiểu bang Texas (Hoa Kỳ), tiến sĩ Raymond Palmer đã phát hiện mối tương quan sâu sắc giữa khoảng cách của chất gây ô nhiễm và tỷ lệ mắc tự kỷ.
TS. Palmer đối chiếu các số liệu thu thập được trong khoảng 1998 đến 2002 tại cơ quan Giáo dục Texas và cơ quan Bảo vệ Môi trường, với đối tượng nhắm tới là sự phóng thích thủy ngân của các công ty, xí nghiệp và nhà máy điện.
Mối tương quan rõ ràng có thể thấy ngay: từ mỗi 1.000 pound (cỡ 453,6 kg) thủy ngân của các công ty, xí nghiệp và nhà máy điện, có chừng 2,6% và 3,7% mức tăng tương ứng chứng tự kỷ.
Sự khác biệt 1% xem chừng phản ánh mức tăng nguy hiểm theo các cách thức khác biệt của hiện tượng phân tán chất thủy ngân, song điều này là quan trọng thứ yếu vì những gì được hiểu chỉ là sự ô nhiễm thủy ngân có vẻ đem lại nguy cơ ghê gớm đối với sự phát triển não bộ.
Mối tương quan thú vị hơn đã được TS. Palmer chứng thực nhờ việc vẽ bản đồ các khoảng cách giữa trường học trong quận và chất gây ô nhiễm.
Ông nhận ra rằng cứ mỗi khoảng cách 10 dặm (tương ứng 16.093,44m) từ một công ty hay nhà máy điện, thì kéo theo tỷ lệ nguy cơ tự kỷ tương ứng là 2,0% và 1,4%.
Khi không khí và nước bị ô nhiễm được giảm bớt nhờ khoảng cách, các con số tương ứng là bằng chứng môi trường trong thời gian mang thai có thể làm sai lệch sự phát triển bình thường.
Tuy thế, bằng chứng này phải được dùng một cách cẩn trọng, bởi có rất nhiều yếu tố tiềm năng cực kỳ phức tạp.
Chẳng hạn, TS. Palmer không xét đến tiềm năng của các yếu tố nhân khẩu học khác tác động tới khoảng cách với các chất gây ô nhiễm.
Điều này giống như chuyện hàng xóm sống gần các nhà máy thì bị ô nhiễm nặng nề hơn so với giai tầng kinh tế thấp hơn của bố mẹ.
Dĩ nhiên, các bậc phụ huynh tại Texas chẳng nên hoảng loạn quá với những phát hiện mang tính khởi đầu như nghiên cứu vừa nêu trên.
Thực tế, có rất nhiều cách thức để diễn giải chúng, song chí ít chúng hàm ý đòi hỏi nghiên cứu sâu thêm trong tương lai.
Một nghiên cứu tương tự cho thấy có mối liên quan giữa tỷ lệ tự kỷ tại California với các các loại thuốc trừ sâu, và như thế tự kỷ có thể được khởi phát hoặc làm trầm trọng thêm-- tuy nhỏ bé song đang tăng lên-- từ các yếu tố môi trường.
Đến đây thử tìm hiểu vấn đề tự kỷ từ góc độ phương thức chẩn đoán lâm sàng.
Một bài báo đăng trên The Economist viết về cái gọi là "đại dịch tự kỷ"-- vốn thu hút sự chú ý cao độ của giới truyền thông-- cho thấy việc tỷ lệ tự kỷ tăng lên có thể chỉ đơn giản là do sự thay đổi trong cách thức chẩn đoán các vấn đề phát triển.
Dựa trên một nghiên cứu rằng, làm điều gì đó thực sự đơn giản-- các nhà nghiên cứu theo dõi 38 người hồi còn bé đã được chẩn đoán là bị trục trặc, chậm phát triển ngôn ngữ và quyết định lượng giá lại vấn đề nhờ sử dụng các phỏng vấn chẩn đoán tân tiến nhất.
Họ dùng ADOS (thời gian biểu ghi nhận quan sát và họat động trẻ) và ADI (một phỏng vấn dành cho phụ huynh).
Sự kết nối này thường được đánh giá là 'tiêu chuẩn vàng' để một chẩn đoán đáng tin cậy và hiểu rõ.
Toàn bộ đối tượng trong nghiên cứu vốn được chẩn đoán ban đầu liên quan với một vấn đề phát triển ngôn ngữ, vì thế rõ ràng là họ sẽ gặp khó khăn.
Sự trục trặc ngôn ngữ thuộc chẩn đoán tự kỷ, cho nên giờ đây các nhà nghiên cứu thử tìm cách định dạng chúng hoàn toàn khác trước.
Khi lượng giá lại bằng các phương pháp hiện đại, dù không có ai trước đó từng được chẩn đoán là rối loạn phổ tự kỷ, nay một thành phần thứ ba (thiếu khả năng thấu cảm với người khác) đã được phân loại thuộc về phổ tự kỷ.
Phát hiện của TS Bishop dù chỉ là một nghiên cứu nhỏ bé, song nó phù hợp với nghiên cứu trước đây rằng, khi thu hẹp chẩn đoán tự kỷ thì ít nhất 0,4% đối tượng ở nước Anh càng chiếm ưu thế (chỉ trên 1%) với định nghĩa mới hơn và rộng hơn về chẩn đoán kém nghiêm trọng là "phổ tự kỷ".
Nói cách khác, sự chẩn đoán càng không chính xác thì càng có nhiều người thỏa tiêu chí, và ngày càng nhiều bằng chứng tốt gia tăng các nguyên nhân mắc tự kỷ thì sự phân loại sẽ rộng hơn, khiến cho có nhiều trường hợp tự kỷ mới theo "định nghĩa hẹp".
Phân loại: Hôn nhân-gia đình, Phương pháp luận, Tâm lý học Lâm sàng, Trẻ em, Truyền thông, Tự kỷ

Một câu chuyện thương tâm.
Thật khốn khổ khi phải nhập viện điều trị tập trung (ICU); vì thế, các bác sĩ từ tâm luôn cố sức giúp cho trẻ khỏi trải nghiệm ấn tượng nặng nề đó.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, dù ý định là thiện lành, song thực sự việc dùng thuốc an thần có khả năng tạo ra nguy cơ lớn hơn của hội chứng rối loạn stress sau sang chấn (PTSD).
Tiến sĩ Colville đã tiến hành thăm khám 102 trẻ sau hai tháng nằm ở phòng ICU.
Đáng kinh ngạc, nhận thấy 32 cháu có các ký ức hoang tưởng kết hợp với một số ảo giác ghê rợn.
Số trẻ này ghi nhớ một cách lệch lạc lắm cơn sợ kinh hoàng-- kiểu như mấy con bọ cạp bò lổn nhổn trên da--, còn hơn cả số mũi kim tiêm và các cô y tá, điều dưỡng nghiêm nghị.
Hậu quả, khiến chúng dễ tiến triển hội chứng PTSD; thậm chí ngay cả khi nhóm nghiên cứu khống chế những tổn thương trầm trọng.
64 cháu biểu lộ khả năng nhớ chính xác, đúng thực tế các chi tiết, song các ký ức này-- thường hay bị bóp méo-- lại không làm nảy sinh nguy cơ PTSD.
Dường như, vấn đề mà các bậc cha mẹ và bác sĩ nên tập trung chính là những ký ức hoang tưởng.
Tiến sĩ Colville xác định rõ rằng, mối tương quan ý nghĩa nhất về các ký ức hoang tưởng xảy đến trong khoảng thời gian trẻ sử dụng thuốc an thần và giảm đau; thấy tỷ lệ các hoang tưởng lập tức tăng vọt sau 2 ngày liền dùng biệt dược giảm đau.
Tâm trí người trưởng thành trải nghiệm đủ đầy tổn thương do sang chấn; nghiên cứu của tiến sĩ Colville chứng tỏ họ còn có thể gặp nhiều nguy cơ bị PTSD từ các loại thuốc tạo nên những hoang tưởng ám ảnh.
Người lớn cũng dễ bị ảo giác khi dùng thuốc an thần, song họ thừa khôn ngoan để chẳng thèm chú ý tới các ký ức khó tin đó.
Đặc biệt, với đối tượng trẻ em thì hoặc chỉ cho chúng dùng ít thuốc an thần thôi, hoặc cần sàng lọc các ký ức hoang tưởng nhằm giúp cho trẻ không phải chịu đựng âm thầm những hình ảnh khủng khiếp.
Phân loại: Ảo giác, Hoang tưởng, Loạn thần, PTSD, Tâm bệnh học, Thuốc men, Trẻ em
Gần đây, báo chí trong nước thay nhau đăng tải câu chuyện về một người đàn ông có khả năng kỳ lạ: ăn tươi, nuốt sống bất cứ côn trùng nào gặp phải; kèm cả băng vidéo minh họa.
Thực chất đây là một dạng rối loạn ăn uống, định danh "pica" (ăn bậy bạ, xuất phát từ thuật ngữ Latin 'magpie' chỉ loài chim ác là), và đã được Tổ chức Y tế Thế giới xác định trong ICD-10 với mã F50.8 (chứng ăn bậy bạ ở người lớn) và F98.3 (ăn bậy ở trẻ nhỏ) [tham khảo Bộ Y tế. (2007). Bảng Phân loại Quốc tế Bệnh tật ICD- 10. Hà Nội: Nxb. Y học, tr. 235, tr.275].
Cần nói ngay rằng, khi dùng cụm từ "ăn bậy bạ" chúng tôi chẳng hề hàm ý kinh tởm hoặc liên tưởng chút gì tới bệnh Huntington.
Kỳ thực, ăn bậy bạ (pica) thể hiện khao khát muốn ăn khó cưỡng lại nổi những thứ không phải thực phẩm.
Tùy chất sử dụng mà chứng ăn bậy bạ ở người được chia thành các nhóm khác nhau, thông thường có các kiểu như ăn đất trồng trọt, đất sét (geophagia), ăn băng tuyết (pagophagia) và hồ bột (amylophagia).
Ngoài ra, còn nhiều các chất nữa được tống vào mồm như ăn tàn và mẩu thuốc lá, tóc, sơn vẽ và giấy.
Cá biệt, có bệnh nhân từng ăn miếng băng dính tẩm chất fentanyl, một loại thuốc chứa morphin có tác dụng giảm đau cấp tính cực mạnh,...
Nhìn chung, các lĩnh vực sau đây dễ dính tới việc ăn bậy bạ:- Mang thai;
Dù ăn bậy bạ (pica) là chẩn đoán tâm thần biệt định, song nó cũng được gán nhãn rộng rãi để chỉ bất cứ hành vi ăn uống nào nhắm tới các đối tượng chẳng thể ăn được hoặc không mang giá trị dinh dưỡng.
- Chậm phát triển và rối nhiễu tâm trí;
- Bệnh tâm thần và tự kỷ;
- Trẻ sơ sinh;
- Dinh dưỡng nghèo nàn, hoặc hàm lượng sắt và các khoáng chất khác trong máu thấp;
- Truyền thống tôn giáo và văn hóa.
Thời Hy- La cổ đại người ta đã bàn tới hiện tượng này, song thuật ngữ ăn bậy bạ (pica) chỉ bắt đầu xuất hiện từ thế kỷ XVI.
Y văn thế giới ghi lại hai trong số các trường hợp gây ấn tượng nhất, có liên quan đến việc ăn tiền đồng.
Bản chụp X- quang của một điển cứu đăng trên tờ NEJM cho biết, các bác sĩ đã tìm thấy trong dạ dày bệnh nhân 5,5 kg tiền đồng, vòng đeo cổ và kim khâu.
Một điển cứu khác báo cáo vào năm 1998, bệnh nhân người Anh đã nuốt 175, 32 pound (cỡ chừng 79,5kg) lắm thứ hổ lốn với lịch sử từng ăn các món kỳ cục sau:Tại nhiều thời điểm, nữ bệnh nhân đã ăn bàn ghế, tiền đồng, đai ốc, dây điện, đồ nhựa, huy chương, bột ăn Bob Martin dành cho chó và xác hoa khô.
Rõ ràng, hành vi thể hiện trong các trường hợp thái quá ở người trưởng thành-- như với hai cá nhân vừa nêu-- biểu hiện sâu xa trạng thái loạn thần.
Rất nhiều lời bình luận ghi chú về trường hợp của nữ bệnh nhân này với đầy đủ chi tiết cụ thể và phong phú về màu sắc, kích cỡ, số lượng, định lượng thời gian và hỗ trợ thuốc men-- bao gồm cả đống thư viết tay-- được gửi đến cho bác sĩ điều trị.
Đó cũng là trường hợp của một quý ông khác đã phải chịu đau đớn dẫn đến ngộ độc, sau khi nuốt hơn 200 đầu đạn chưa nổ.
Tuy vậy, thông thường thì ăn bậy bạ chủ yếu thấy ở trẻ em gặp khó khăn trong chuyện học tập hoặc được chẩn đoán là phổ tự kỷ.
Xem chừng, ít nhiều phản ánh quan điểm thành kiến rập khuôn khi nghĩ rằng việc mang thai khiến cho phụ nữ khát thèm một số thực phẩm bất thường-- hiện tượng khá quen thuộc ở phụ nữ có thai-- đặc biệt với các đối tượng thuộc gia đình có thu nhập thấp hơn.
Chưa đủ cơ sở để lý giải thấu đáo hiện tượng thèm ăn lắm đồ lạ lùng ở phụ nữ mang thai, song điều thú vị là dường như nó liên quan tới sự thiếu hụt sắt và kẽm.
Với trường hợp người đàn ông sắp đạt ngưỡng "tri thiên mệnh" ở đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi)-- nơi mấy ngày trước vừa tổ chức 'lễ khao lề thế lính Hoàng Sa', có khả năng nghiêng về lý do ăn uống để có sức khỏe phi thường và mang hơi hướng tác động tâm linh.
Bạn đọc có biết trường hợp nào tương tự, và thực lòng nghĩ gì về các đối tượng này?
Phân loại: Định kiến, Huntington, Khái niệm cái tôi, Mẫu rập khuôn, Não-Thần kinh, Phụ nữ, Rối nhiễu, Tâm bệnh học, Tôn giáo, Trẻ em, Trị liệu Hành vi, Tự kỷ
"Không chân, không tay, không vướng bận đọa đày"!
Đó là chuyện ở xứ trời Tây xa xôi.
Chú tâm giật tít "Đôi chân độc đáo của em Trí", báo trong nước kết thúc bài viết bằng tâm sự của bà mẹ.
Gia đình tôi nghèo, lại không ruộng đất, quanh năm sống dựa vào những đồng tiền làm thuê nên chưa biết có lo nổi cho Trí học tiếp hay không. Cũng vì nghèo khó mà bốn đứa anh chị của nó chỉ mới học hết cấp một đều đã nghỉ. Bây giờ gia đình chỉ còn trông mong vào một mình nó thôi” - bà Hây tâm sự.
Phân loại: Đời sống, Khái niệm cái tôi, Ô, Suy tư, Tâm lý học Dân tộc, Trẻ em, Truyền thông

Các vấn đề tâm thần xảy đến khi còn bé xem chừng để lại hậu quả kéo dài, như khẳng định của một nghiên cứu mới đây.
Theo đó, những rối nhiễu tâm thần mắc phải hồi nhỏ có thể tạo nên nhiều tác động trầm trọng cho tương lai học hành và thành tựu trong công việc sau này.
Đội ngũ chuyên gia Anh quốc đã tra cứu dữ liệu thống kê của 8.000 cá nhân, sinh từ 3.1958.
Các đối tượng được theo dõi thuở mới chào đời và lượng giá sức khỏe tâm thần của họ tại các thời điểm lên 11, 16, 23 và 45 tuổi-- nhờ các thông tin do bố mẹ và thầy cô giáo cung cấp, cũng như phỏng vấn riêng.
Kết quả, định dạng một số đặc điểm liên quan tới trầm cảm và lo hãi ở tuổi trung niên, như chuyện cư ngụ tại khu nhà trọ, mắc một căn bệnh mãn tính, sống độc thân và bị căng thẳng tinh thần (stress) vì công việc.
Đáng lưu ý, với ngưỡng 45 tuổi, những ai ít điều kiện kiểm soát các quyết định trong công việc, hoặc cho thấy sự hỗ trợ xã hội thấp tại sở làm thì thường có nguy cơ cũng như phải đương đầu với trầm cảm, lo hãi gấp 2 đến 4 lần.
Đặc biệt, sự căng thẳng tinh thần cao độ tại nơi làm việc ở tuổi trưởng thành được phản ánh sâu sắc một khi tuổi thơ hiện diện các vướng mắc nội tâm-- triệu chứng lo hãi, trầm cảm và thu mình.
Bệnh tật tâm thần tác động tới thành tựu nghề nghiệp tương lai của trẻ dưới nhiều dạng thức khác nhau, nhất là kết quả học tập bị ảnh hưởng vì sức khỏe tâm thần kém cỏi.
Trẻ trải nghiệm rối nhiễu tâm thần-- các vướng mắc nội tâm nói riêng-- sẽ gặp khó khăn khi làm bài tập hoặc kém tập trung trong lớp, để rồi những phiền muộn này thu hẹp sự chọn lựa nghề nghiệp thích hợp khi ra trường.
Với những ai từng phải học hành chật vật thì sau này lựa chọn duy nhất là công việc lương thấp kèm nguy cơ chuyển chỗ làm cao.
Còn chưa nói, lo hãi và trầm cảm gây tổn hại cho sự tự trọng của trẻ, chi phối cách chúng nhìn nhận tiềm năng bản thân. Những đứa trẻ này khi trưởng thành hay tìm kiếm công việc ít mang tính chất thách thức lại giúp chúng dễ xoay xở nhất.
Rốt cục, việc vàng được trả lương thấp và chẳng đáng bõ công làm đời sống cá nhân càng khốn khổ; sự căng thẳng tinh thần này góp phần tăng cao hơn cơn trầm cảm và lo hãi.
Căng thẳng, rối nhiễu người ta từng trải nghiệm lúc nhỏ tuổi có thể tiếp tục tác động sâu xa tới suy nghĩ và hành động ngay cả lúc đã tốt nghiệp rồi, và hậu quả căng thẳng tinh thần vì công việc làm tồi tệ thêm các vấn đề lo hãi và trầm cảm.
Điều quan trọng là gia đình và nhà trường phải hỗ trợ trẻ đương đầu với bệnh tật tâm thần, cải thiện kết quả học tập và ngăn ngừa hậu quả tiêu cực do tích tụ bệnh tật tâm thần gây ra.
Cần biết cách tiến hành các bước giảm thiểu căng thẳng tinh thần tại sở làm. Thực tế chứng tỏ rằng nhờ điều chỉnh đồng thời chữa trị đúng đắn, nhiều người đã có thể hiện thực hóa tối đa tiềm năng và không ngừng thỏa mãn sâu xa nghề nghiệp của bản thân.
Phân loại: Rối nhiễu, Stress, Sức khỏe tâm thần, Tâm lý học Phát triển, Trẻ em
(Không thể đùa với tài mà)
Câu chuyện hành hạ con mình đăng tải hôm nay, cũng như vô vàn chi tiết phản ánh việc tự làm hại bản thân của người nghiện ma túy không quá xa lạ với cộng đồng.
Blog Cái tôi từng đề cập đến lối nghĩ giản dị hóa phần nào trong cách tiếp cận vấn đề.
Tới thời điểm này, người ta đã biết rõ rằng sử dụng cần sa/ tài mà (cannabis: dầu gai) thúc đẩy thêm nguy cơ-- tuy lần hồi bé nhỏ song luôn đầy ý nghĩa-- các biểu hiện loạn thần.
Chẳng nổi tiếng như hoạt chất tetrahydrocannabinol (THC), người anh em cannabidiol (CNB, tham khảo danh sách) xem chừng chưa phải chịu trách nhiệm cho cảm giác 'mê tơi' dù thực chất nó thường trực trong cây dầu gai.
Dùng kỹ thuật chụp ảnh cộng hưởng từ (MRI) phát hiện ra, kích họat cần sa chứa THC sẽ khiến suy giảm chức năng của thùy não trước (frontal lobe)-- chịu trách nhiệm xử lý những đáp ứng cảm xúc và hành vi bất hợp lý, nơi vẫn thường được cho là quyết định các suy nghĩ cao cấp, lập kế hoạch, hình thành mục tiêu.
Giới nghiên cứu đã tích lũy được bằng chứng CNB có tác dụng chống loạn thần, CNB hứa hẹn kiềm chế các ảnh hưởng tăng loạn thần của THC.
Tùy loại chế phẩm cần sa mà đặc tính CNB khác biệt, chẳng hạn CNB ít nhất khi chơi 'skunk' -- loại ma túy nặng đô này hầu như loại trừ CNB để ưu tiên nuôi dưỡng hàm lượng cao THC.
Một nghiên cứu tài tình mới đây chú tâm kiểm tra mẫu tóc của các nhóm chơi cần sa để đánh giá mức độ dung nạp CNB.
Theo đó, các nhóm nào có mức độ CNB thấp nhất thì thường hay trải nghiệm các trạng thái tương tự loạn thần.
Ngược lại, dùng đồ chơi chứa chủ yếu CNB thì hiếm hoi lắm mới trải nghiệm giống như loạn thần-- cùng mức độ với nhóm so sánh chẳng phát hiện thấy các hoạt chất cần sa ở những người giả định không hút.
Lưu ý tí chút: đối tượng thuộc nhóm trên đều toàn là người mới tham gia từ một nghiên cứu với dân chơi ketamin (chất làm tăng nguy cơ loạn thần), vì thế nghiên cứu sẽ còn phải tiến hành với những ai chỉ dùng duy nhất cần sa để chắc chắn rằng, tác dụng không phải do tương tác riêng biệt giữa hai loại ma túy vừa kể.
Rốt cục, khi tự thân CNB dường như không có tác dụng gây mê sảng thì hy vọng trong tương lai kẻ sản xuất sẽ gắng sức để tối đa hóa hàm lượng CNB, nhằm góp phần giảm thiểu nguy cơ tàn phá sức khỏe tâm thần của các tay chơi ma túy.
(ảnh)
Theo nghiên cứu đăng trên Tạp chí Tâm thần học Hoa Kỳ tháng này, thì dường như Prozac (fluoxetine) có tác dụng tốt khi được dùng điều trị lâu dài bệnh trầm cảm cho trẻ em và vị thành niên.
Nghiên cứu chú tâm xem xét mẫu 168 trẻ em và vị thành niên tuổi từ 7 đến 18 tái phát trầm cảm hay không, và việc đó nếu có, diễn ra nhanh chóng đến mức nào.
Và họ nhận thấy, trong nhóm trẻ dùng Prozac, tỷ lệ tái phát là 42% trong vòng 6 tháng sau giai đoạn bình ổn nhờ uống thuốc (9 tháng từ lúc bắt đầu điều trị); cùng giai đoạn trên, tỷ lệ tái phát của nhóm trẻ dùng thuốc giả vờ (placebo) là 69%.
Áp dụng một định nghĩa khắt khe về sự tái phát (relapse), các nhà nghiên cứu nhận thấy kết quả tương tự-- 22% ở nhóm Prozac và 48% ở nhóm thuốc giả vờ; ngoài ra, họ còn phát hiện thời gian tái phát trầm cảm ở nhóm Prozac ngắn hơn.
Vậy, khuyến nghị từ nghiên cứu là gì?
Nếu một đứa bé hay vị thành niên trầm cảm đang dùng Prozac mà cảm thấy có tác dụng thì chúng cứ nên tiếp tục duy trì theo ý bác sĩ điều trị, nhằm làm giảm tối thiểu nguy cơ tái phát.
Điều còn chưa rõ ràng từ nghiên cứu trên là liệu có thể khái quát hiệu quả với các thuốc chống trầm cảm thuộc dạng SSRI khác.
Prozac là thuốc chống trầm cảm thông dụng hay được kê đơn cho cả người lớn và trẻ nhỏ.
Nhân tiện, có một phóng sự điều tra vén lộ bí mật xấu xa liên quan đến việc thử nghiệm thuốc chống trầm cảm gần đây; tác giả bài báo, dựa trên nghiên cứu (thích nhẹ nhàng hơn thì đọc thêm), góp phần phản ánh hiện tượng mang tên "hiệu ứng tô hồng"- chỉ trình bày các kết quả tích cực.
Phân loại: Phương pháp luận, Tâm bệnh học, Thuốc men, Trầm cảm, Trẻ em, Truyền thông

Bà mẹ trẻ cuống lên khi cậu con trai 8 tuổi của mình được một trung tâm chăm sóc và dạy dỗ trẻ tự kỷ tại Hà Nội đánh giá là đối tượng thuộc diện 'lọt khung'.
Nếu cơ sở vừa nêu "tuyên án" chắc nịch sau cuộc gặp gỡ ngắn với trẻ, thì ở một khoa phòng của bệnh viện nổi tiếng khác lại đưa ra phán quyết phủ định- chỉ nhờ tiến hành trắc nghiệm IQ.
Thực trạng nhập nhằng, trái khoáy, đáng quan ngại như trên cho thấy việc hiểu biết thật chính xác chẩn đoán về tự kỷ không hề dễ dàng, chẳng những cực kỳ quan yếu mà còn phải thận trọng; đòi hỏi cả trình độ chuyên môn lẫn đạo đức nghề nghiệp.
Nhìn chung, phổ tự kỷ (autistic spectrum) là tập hợp các triệu chứng, chứ không đơn giản một vấn đề do nguyên nhân duy nhất; thực chất, các rối loạn này bao gồm tự kỷ, cũng như hội chứng Asperger và PDD-NOS.
Thực tế, sự tiến bộ trong nghiên cứu một mặt góp phần nâng cao hiệu quả chăm chữa cụ thể, mặt khác trở thành thách thức to lớn đối với việc định danh đúng đắn căn bệnh này, thậm chí, có khả năng thúc đẩy nhu cầu hết sức mạnh mẽ mang tính cách mạng nhằm xem xét lại hiểu biết của chúng ta về tự kỷ-- từ góc độ nhân văn và khoa học.
@ Chẳng hạn, giới chuyên môn khẳng định rằng trẻ mắc tự kỷ dường như 'miễn nhiễm' với việc lây truyền cơn ngáp- có lẽ đây là hậu quả của tiến trình thiếu hụt nhận thức xã hội của trẻ.
Một trong ba khía cạnh cơ bản của hội chứng tự kỷ là sự khó khăn trong tương tác xã hội; hai vấn nạn kia bao gồm các kiểu loại khác nhau của lối suy nghĩ khó hiểu, và hàng dãy biểu hiện kiềm chế hoặc lặp đi lặp lại liên quan đến hành vi.
Không dễ đưa ra câu trả lời giải thích tại sao hiện tượng lây ngáp lại bị giảm thiểu ở đối tượng mắc tự kỷ dù thông thường, các khó khăn gặp phải xét dưới góc độ xã hội của đối tượng tự kỷ vẫn được cho là vấn đề thuộc "lý thuyết tâm trí"-- khả năng hiểu các ước muốn, dự tính và niềm tin của người khác.
@ Nghiên cứu phát hiện thấy: kỹ thuật trị liệu thần kinh (NFB: neurofeedback/ EEG biofeedback) giúp ích cho các đối tượng có những rối loạn tự kỷ.
Cụ thể hơn, nghiên cứu chỉ ra rằng, kỹ thuật chụp quét não đã được thần kinh học chứng thực-- có thay đổi cho phù hợp trong bộ video game tương tác-- xem chừng hỗ trợ đắc lực việc luyện tập bộ não của trẻ mắc tự kỷ, cốt làm dịu đi rối loạn nặng nề nhất của các chứng hành vi máy giật.
Sự kiện này càng làm tăng thêm hy vọng về khả năng ngăn ngừa từ khía cạnh hành vi và tâm-sinh lý để điều chỉnh mức độ ác liệt của hội chứng phổ tự kỷ.
Việc chụp điện não đồ (EEG: electroencephalogrophy) vốn dùng lâu nay để chẩn đoán và phân tích thực tế các kiểu dạng rối nhiễu thần kinh gây nên chứng bệnh Động kinh, Alzheimer, Tâm thần phân liệt, tổn thương não, v.v....
Vì nguồn gốc vấn đề dính dáng tới sự nối kết thần kinh ẩn bên dưới các trường hợp tự kỷ, nên chuyện chụp EEG trở nên thông dụng và là công cụ chính đối với bệnh nhân.
Cách tiếp cận theo hướng NFB cơ bản cho phép bệnh nhân 'huấn luyện' não bộ mình thông qua việc họ tuân theo chỉ dẫn của công cụ máy tính tựa như video game.
Thành công vang dội trong việc điều trị rối loạn stress sau sang chấn (PTSD) và tăng động- giảm chú ý (ADHD), luyện tập tâm trí nhằm giúp bệnh nhân tránh rơi vào hố vực sâu thẳm của cơn sợ hãi, giờ đây, cách tiếp cận theo hướng NFB còn được thử nghiệm áp dụng điều trị hội chứng tự kỷ và thực tế đã chứng tỏ kết quả khả quan.
@ Tuy không dự tính hành động đập phá, song các biểu hiện nhu cầu và cảm xúc của trẻ mắc tự kỷ dưới dạng căng thẳng, hụt hẫng và tức giận lại gây khó khăn cho chính chúng cũng như người chăm sóc.
Cứ 150 trẻ thì có một em mắc rối loạn phổ tự kỷ. Thử xem cuộc đối đầu với hội chứng tai ác này.
@ Sử dụng video và các diễn đàn trực tuyến, người phụ nữ mắc tự kỷ 27 tuổi Amanda Baggs đã buộc các nhà khoa học phải xem xét lại những gì họ nghĩ mình đã biết.
Nêu ra quyền lợi của người mắc tự kỷ trong phong trào online, Amanda Baggs thách thức cách chúng ta hiểu biết và lượng giá những ai trải nghiệm thế giới hoàn toàn khác biệt.
Dẫu không hề nói năng gì được, song cô đã tự mình 'diễn dịch' sự tương tác với môi trường thông qua các dạng ngôn ngữ và tri giác thần kinh đặc thù. Cô cũng đẩy lên mạng các giấy tờ y khoa có liên quan.
Quan điểm nhìn nhận tự kỷ như một biến thể (variation) chứ không phải là rối loạn (disorder) này đã được nhiều nhà nghiên cứu theo trường phái Thần kinh học Nhân văn ủng hộ, và bài báo về cô Amanda trên tờ Wired thêm bằng chứng cho thấy các nghiên cứu của chuyên ngành Tâm lý học Thần kinh đang tiếp tục xác định lại khung tham chiếu thỏa mãn điều kiện tự kỷ.
Ý nghĩ cho tự kỷ là một trạng thái bệnh lý cần bị trừ tiệt hẳn, họ nói. Không phải là não của người mắc tự kỷ khiếm khuyết mà đơn giản là não của họ khác biệt-- một minh họa cho sự phát triển phong phú của con người.Bài báo ghi nhận thành tựu đáng khích lệ của nhóm nghiên cứu đứng đầu là bà Michelle Dawson:
Các nhà nghiên cứu này khẳng định rằng, chính việc chú tâm vào việc chữa trị chứng tự kỷ-- mô hình bệnh tật-- đã khiến giới khoa học quên đặt các câu hỏi căn bản về chức năng bộ não người tự kỷ.
... Điều mà các nhà nghiên cứu tìm thấy là: trong khi các đối tượng không mắc tự kỷ có cùng điểm số-- trên mức trung bình một chút-- ở cả hai trắc nghiệm [test Thang đo Trí tuệ Wechsler (WIS) và test Ma trận Lũy tiến Raven (RPM)] thì nhóm đối tượng mắc tự kỷ có điểm số tốt hơn ở test Raven.Tôi muốn kết thúc bài điểm tin này bằng ý kiến của nhà tâm thần học Laurent Mottron rằng, một ngày nào đó, chúng ta sẽ ngoái nhìn các ý tưởng hôm nay về tự kỷ với cảm giác hổ thẹn như những gì chúng ta từng cảm thấy khi nói về quan điểm của tâm lý học những năm trước cột mốc 1974- DSM-IV đã coi đồng tính luyến ái là một căn bệnh tâm thần.
Hai cá nhân có điểm số thoát khỏi ranh giới chậm phát triển tâm thần đạt đến thứ hạng bách phân 94. Đáng lưu ý hơn, số liệu chi tiết còn tỏ lộ điểm số của trẻ mắc tự kỷ ở test Raven xê dịch quanh điểm bách phân C30 nhiều hơn- so với điểm số thực hiện test chủ yếu dựa vào ngôn ngữ là Wechsler; tuy không kéo tất cả lên song đã khiến đôi người trong nhóm thoát khỏi ranh giới chậm phát triển tâm thần.
Phân loại: Đồng tính luyến ái, IQ, Não-Thần kinh, Phương pháp luận, Quan hệ, Tâm bệnh học, Tâm lý học Lâm sàng, Test, Trẻ em, Truyền thông, Tự kỷ
Xem chừng sáng tinh mơ là thời điểm tinh thần sảng khoái, khá phù hợp để giới thiệu tí chút về Tâm bệnh học.
Hội chứng Alice lạc vào xứ thần tiên (Alice in Wonderland syndrome) liên quan tới việc "hình ảnh cơ thể" hoặc "sơ đồ cơ thể" bị bóp méo, khiến cho đối tượng cảm thấy một số phần hay toàn bộ cơ thể mình chợt thay đổi hình dạng, kích thước (Macrosomatognosia: bé nhỏ lại/ phì nộn ghê gớm).
Trung tuần tháng trước, trên tờ The Guardian có đăng tải kinh nghiệm cá nhân của một nhà báo về hội chứng này.
Dù không phải lúc nào hội chứng AIWS vừa nêu cũng bao gồm những ảo thị trực tiếp, song nó lại có thể làm thế giới xung quanh ta biến thái quá cỡ, hay tạo cơn say.
Người đầu tiên mô tả hội chứng AIWS là nhà tâm thần học John Todd, vào năm 1955 trong một bài báo đăng trên tạp chí lâm sàng thần kinh học, phản ánh hiện tượng gắn bó với bệnh động kinh và đau nửa đầu (migraine).
Các cuộc phiêu lưu của Alice ở xứ thần tiên là câu chuyện cổ tích kinh điển cuả phương Tây và không phải quá xa lạ với trẻ em Việt Nam; nó đã được dựng thành film.
Phân loại: Ảo giác, Động kinh, Film, Sức khỏe tâm thần, Tâm bệnh học, Tâm lý học Phát triển, Tâm lý trị liệu, Trẻ em
[Bức tranh Những Người Đang Ăn Khoai Tây của Vincent Van Gogh]
Tối 27.2 trời đất tê tái, lục tìm đọc lại lời thề Hippocrates, rồi tình cờ thấy bài viết của ông Bộ trưởng Bộ Y tế Việt Nam về Danh y Hải Thượng Lãn Ông; ngoài hai ý tưởng cơ bản-- hết mình cứu chữa cho người bệnh và sống đời trong sáng--, cá nhân tôi nhận ra phầm chất đáng quý cần gìn giữ đối với những ai hành nghề này: chấp nhận, tôn trọng sự khác biệt.
Cuộc sống nhân quần nơi nơi còn rất nhiều khốn khó, điêu đứng trước lắm hoàn cảnh đói rét, ốm đau, dịch tật, tai ương, bất công, chết chóc.
Đâu cứ gì tuổi 40, trẻ nhỏ đã sớm phải chịu cảnh bỏ học để chẳng mấy chốc lao theo dòng đời, bươn chải kiếm kế mưu sinh.
Tôi nhớ tờ giấy mang gam màu lạnh tô nguệch ngọac của cô bé lớp 5 mới vẽ chiều hôm kia tại phòng trị liệu (hai cái cây lưa thưa lá, một con gà cúi đầu và cô bạn thân không có mặt rõ ràng); theo lời bố em, cô bé uống thuốc chống trầm cảm theo toa thuốc của bác sĩ tâm thần từ 6 tháng nay.
Nỗi niềm u buồn, uất hận, thống khổ đậm chất hiện sinh thực chất ẩn chứa trong căn bệnh trầm cảm-- đề tài thời thượng quen thuộc.
Dưới góc độ chuyên môn lẫn đời thường, người ta hay phân chia trầm cảm do nguyên nhân "sinh học" hoặc khởi phát bởi "hoàn cảnh", đối lập giữa trầm cảm "lâm sàng" và "không lâm sàng",...
"Trầm cảm hiện sinh" xem chừng kết cục nảy nở vì những trăn trở, thao thức khôn nguôi, chẳng thể hài lòng về ý nghĩa cuộc đời, sự sống, cái chết,... dần dần đưa đối tượng chìm hẳn vào trầm cảm.
Trầm cảm hiện sinh có thể xảy đến khi người ta đối đầu với các kiểu dạng phức tạp thuộc loại vấn đề liên quan tới sự sống, cái chết, ý nghĩa ở đời,... (người yêu giã biệt mãi mãi, mất việc làm,.. hoặc chẳng xảy ra sự cố gì ghê gớm cả) của chính họ.
Là một trường phái, trào lưu triết học nổi tiếng, chủ nghĩa hiện sinh (existentialism) nhấn mạnh rằng con người ta được thúc đẩy bởi việc sống ý nghĩa đời mình chứ không phải bị quyết định từ Thượng đế, thánh thần hay các lực lượng ngoại giới.
Theo quan điểm chủ nghĩa hiện sinh, con người thì hoàn toàn tự do, và do đó, hoàn toàn chịu trách nhiệm về niềm hạnh phúc hay sự khốn khổ của chính mình. Mỗi một sinh thể người tự tạo ý nghĩa động cơ sống của bản thân, bất kể là thông qua công việc, sở thích, làm từ thiện, tôn giáo, quan hệ, con cái, gia đình, hay điều gì đấy khác.
Trầm cảm hiện sinh xem chừng được đặc trưng như là trạng thái tuyệt vọng độc nhất, thể hiện cảm nhận rằng đời chúng ta thực sự vô nghĩa lý. Nên biết, người mắc trầm cảm lâm sàng thông thường cũng có thể trải nghiệm các vấn đề hiện sinh dính dáng tới ý nghĩa đời họ- trong tiến trình trị liệu tâm lý nhằm chữa trị căn bệnh trầm cảm.
Thuốc men tỏ ra không hiệu quả bằng trị liệu tâm lý trong các trường hợp mắc trầm cảm hiện sinh. Nhân tiện, khám phá của các nhà nghiên cứu Anh quốc thật đáng ngạc nhiên: dữ liệu thuốc chống trầm cảm chứng tỏ nó không hiệu quả như ta vẫn tưởng lâu nay.
Và các cách thức giúp người mắc rối loạn lưỡng cực (bipolar) hồi phục, tìm lại trạng thái cân bằng là tha thứ, biết ơn và minh triết; câu chuyện sinh động của một phụ nữ Canada xứng danh anh hùng.
... Nỗi trầm buồn hiện sinh. Không biết bạn ra sao, tôi thì chưa từng nói rằng đời mình tốt hơn những thân phận nêu trên.
Bởi sống một cuộc sống có mục đích, đầy ý nghĩa luôn là thách thức lớn lao, đòi hỏi chúng ta ngẫm nghĩ thêm về các quyết định đã tiến hành, nhìn nhận xem hiện tại ta đang định vị nơi nào; quan trọng hơn nữa, nó thách thức chúng ta ra quyết định đôi lúc ở những bước chuyển đổi cực kỳ giá trị, nhằm duy trì ý nghĩa cuộc sống mà ta mưu cầu.
Và nỗi buồn đau hiện sinh trong cơn trầm cảm đọa đày nhiều khi giúp người ta nhận ra rằng, hành trình là trị liệu.
Phân loại: Hội họa, Phụ nữ, Tâm bệnh học, Tâm lý học Lâm sàng, Tham vấn Tâm lý, Thuốc men, Tơ tưởng J., Trầm cảm, Trẻ em
Tham khảo nghiên cứu của đại học Yale, để thêm một lần nữa ngẫm nghĩ về câu nói thật chí lý của cổ nhân: Nhân chi sơ tính bổn thiện...
Theo đó, trẻ sơ sinh có thể nhận ra sự khác nhau giữa hành vi giúp đỡ, hữu ích với hành vi làm hại, gây tổn thương; ngay cả khi chúng chưa từng trải nghiệm mà chỉ trông thấy vậy thôi.
Các nhà khoa học cho trẻ sơ sinh xem một trò chơi nhỏ gồm 2 đối tượng: đang lúc một đối tượng trèo lên đỉnh núi, thì đối tượng kia băng qua-- đối tượng thứ hai này hoặc hỗ trợ đối tượng thứ nhất trèo lên hoặc đẩy đối tượng thứ nhất xuống dưới.
Khi được quyền lựa chọn, trẻ đa phần giành chơi cùng phía đối tượng cần được hỗ trợ, đối lập với đối tượng đẩy kẻ khác xuống núi. Ngoài ra, số lần trẻ chọn đối tượng giúp đỡ cũng nhiều hơn đối tượng trung gian, và đối tượng trung gian lại được trẻ chọn nhiều hơn đối tượng làm hại.
Nghiên cứu này chứng tỏ trẻ sơ sinh có thể phân biệt hành vi tốt, xấu từ những năm tháng mới chào đời, trước cả lúc chúng biết nói.
Thậm chí, nhiều nhà nghiên cứu còn khẳng định: hiểu biết hành vi tốt, xấu xem chừng được kế thừa thay vì là dấu vết, nét tính cách nhờ học hỏi (learned trait).
Và dẫu rằng thực tế ở đời hành vi không được củng cố thông qua cách biểu lộ như nghiên cứu nêu trên, tôi luôn tin là bạn đọc cũng nhận thấy lòng mình thật phấn khích sâu xa để nghĩ tới việc ủng hộ, ưu đãi cho điều thiện lành mạnh mẽ thêm trên thế giới này.
Phân loại: Đạo đức, Khái niệm cái tôi, Tâm lý học Giáo dục, Tâm lý học Phát triển, Trẻ em

Tâm thần phân liệt (TTPL) là dạng loạn thần phổ biến nhất, đồng thời mức độ tàn phá của nó cũng khủng khiếp nhất; tiếc thay, việc phơi bày bệnh cảnh TTPL vẫn còn chậm chạp.
Hầu như suốt thế kỷ XX, TTPL được nhìn nhận như dạng rối loạn đột ngột tấn công mà chẳng hề cảnh báo trước, làm cho những vị thành niên bình thường tự dưng chuyển biến trọn vẹn sang bạo lực với trạng thái tâm thần không thể chữa chạy nổi.
Gần đây hơn, nhiều chương trình đã chứng thực rằng, người mắc TTPL có thể được xem là an toàn trong quá trình tái hòa nhập cộng đồng.
Nghiên cứu cũng chỉ ra khả năng đoán định các cơn loạn thần đảm bảo đủ thời gian chuẩn bị và thậm chí, dự phòng nữa.
Viện Sức khỏe Tâm thần Quốc gia Hoa Kỳ (NIMH) công bố một số tiến bộ đầy ý nghĩa hướng tới công tác dự đoán và điều trị.
Thông qua việc quan sát trẻ em có nguy cơ cao mắc TTPL do tiền sử gia đình, các nhà Tâm thần học lưu ý: thường tồn tại giai đoạn tiền triệu (prodromal phase) khoảng chừng 1 năm hoặc hơn trước khi chẩn đoán xác định, mà lúc đó đối tượng biểu hiện hàng loạt vấn đề ảnh hưởng rất nguy hại đến đời sống mặc dù chưa loạn thần hoàn toàn.
Tỷ dụ, những người mang suy nghĩ là ai đó đang theo dõi mình sẽ không bị rơi vào trạng thái hoảng loạn, nếu họ được thoải mái trình bày bằng chứng liên quan đến nghi ngờ dễ gây tranh cãi này. Dĩ nhiên, cần xem như một dấu hiệu cảnh báo với những nghi hoặc tương tự vừa nêu.
Hoang tưởng (paranoia) chỉ là một trong nhiều dấu hiệu cảnh báo mà các nhà nghiên cứu của NIMH dùng để lượng giá TTPL như tiêu chí dự đoán dương tính đảm bảo độ tin cậy nhất (PPP).
Các đồ hình lượng giá mới về TTPL tập trung vào 3 nguy cơ chính yếu: các hoang tưởng hoặc niềm tin kỳ cục; yếu tố di truyền đi kèm với chuyện gần đây có biểu hiện suy giảm chức năng; và sự trục trặc kỹ năng xã hội.
Việc từng sử dụng ma túy cũng được xem là một biến số độc lập mang tính nguy cơ đáng kể. Các kết quả theo lối lượng giá thật ấn tượng này được trình bày tại đây.
Một trong các trắc nghiệm thường hay sử dụng rộng rãi, test Phỏng vấn sâu về các hội chứng tiền triệu (SIPS) có khả năng đạt yêu cầu PPP chỉ vào khoảng 35%, song với lượng giá mới tinh còn chưa được gọi tên bên trên thì tiêu chí PPP đạt tới 74%- 81%.
Chẳng hạn, giới chuyên môn thiết kế test nhằm đánh giá xu hướng rút tỉa các thông điệp từ những tiếng ồn vô nghĩa (ảo giác) như một dấu hiệu tiền triệu của TTPL.
Với hai thành tựu vừa giới thiệu, tuyên bố của NIMH cho thấy giới khoa học đang nỗ lực cải thiện các phương pháp chăm sóc người mắc TTPL, vì vậy gia đình của các đối tượng này hy vọng sẽ có nhiều lựa chọn tốt từ đó.
Phân loại: Ảo giác, Loạn thần, Tâm bệnh học, Tâm lý học Lâm sàng, Tâm thần phân liệt, Test, Trẻ em