Lý thuyết này lý giải cách thức chúng ta quyết định, dựa trên các mẫu hành vi của một cá nhân, những gì là nguyên nhân riêng có của hành vi ấy.
Khi cố hiểu nguyên nhân làm nảy sinh hành vi nhất định, thường thì đầu tiên cá nhân thử xác định xem nguyên nhân là do cảnh huống hay thuộc khuynh hướng riêng. (Heider, 1958). Nguyên nhân cảnh huống (situational cause, của hành vi) là nguyên nhân xuất phát từ các yếu tố môi trường.
Ví dụ, một ai đó lỡ làm đổ lít sữa nên lau sạch, thì hành động này cơ bản là do hoàn cảnh đòi hỏi, hơn là vì người ấy cực kỳ sạch sẽ. Trái lại, việc một người lau chùi sàn bếp hàng giờ liền chắc chắn là bởi người ấy thích sống ngăn nắp; do vậy, hành vi có nguyên nhân tính tình, thuộc khuynh hướng riêng (dispositional cause) là bởi tính tình người ấy thúc đẩy.
Sự quy kết, bất luận đúng hay sai, thể hiện trách nhiệm của bản thân chúng ta với thực tế khách quan của những gì chúng ta nghĩ, cảm thấy và hành xử.
Một số nghiên cứu chỉ ra rằng, chẳng hạn, chúng ta thường quy kết nhiều phẩm tính nồng ấm hơn, gợi tình hơn và một số nét tính cách đáng thèm muốn khác dành cho người điển trai so với người thô kệch, chất phác.
Lại nữa, những ai đổ lỗi cho những phụ nữ lâm vào tình trạng nghề nghiệp kém và thang bậc lương thấp là do kinh sợ thất bại và thiếu kiên quyết thì đối xử với họ hoàn toàn khác biệt so với người tin rằng nguyên nhân nằm ở sự định kiến của đàn ông, sự thống trị của phái mạnh tại nơi làm việc, và thái độ truyền thống về vai trò phù hợp của người phụ nữ.
Một câu chuyện cười về hiện tượng quy kết. Hai người đàn ông, một theo đạo Tin Lành, một là tín đồ Công giáo, nhìn thấy một linh mục bước vào một nhà thổ. Trong khi người theo đạo Tin Lành mỉa cười chua chát cho thói đạo đức giả của đạo Công giáo thì tín đồ Công giáo lại mỉm cười đầy tự hào về việc linh mục của mình có thể vào bất cứ nơi đâu, thậm chí cả nhà thổ, để cứu rỗi linh hồn một con chiên đang hấp hối.
Với những người thích một ví dụ nghiêm túc hơn, có thể minh họa thuyết quy kết bằng thực nghiệm lần đầu tiên được thực hiện bởi hai sinh viên cũ của nhà tâm lý học theo trường phái Gestalt Kurt Lewin (sáng giá trong nghiên cứu nhân cách và tầm ảnh hưởng rộng trong nghiên cứu động cơ nhóm; là John Thibaut và Henry Riecken.
Nhân tiện, cũng từ cách tiếp cận theo trường phái Gestalt, người ta còn lượng giá ảnh hưởng của khái niệm cái tôi/ self-concept như là hành vi làm tăng trưởng bản ngã (C.Rogers, Client-Centered Therapy, Boston: Houghton Mifflin, 1951).
Thực tế là chúng ta thường không xử lý thông tin về người khác một cách logic, như thuyết quy kết gợi ý. (Funder, 1987; Gillbert, Jones, & Pelham, 1987).
Nghiên cứu chỉ ra một số thành kiến cơ bản khi tiến hành quy kết:
* Lỗi quy kết đặc trưng (fundamental attribution error): xu hướng rất thịnh hành khi quy kết hành vi của người khác là do nguyên nhân tính tình, khuynh hướng riêng và thiếu hụt tương ứng trong việc nhận ra tầm quan trọng của nguyên nhân cảnh huống. (Ross, 1977; Ross & Nisbett, 1991). Khi trình bày hành vi của người khác, chúng ta có khuynh hướng phóng đại tầm quan trọng của các đặc tính cá nhân (nguyên nhân tính tình) và giảm thiểu tác động của môi trường (yếu tố cảnh huống).
* Hiệu ứng vầng hào quang (halo effect): lần đầu tiên được hỗ trợ bởi thực nghiệm do E.L. Thorndike tiến hành, đây là hiện tượng mà trong đó các hiểu biết ban đầu về một người có các nét tính cách tích cực được sử dụng để quy nạp, theo cùng tiêu chuẩn, những nét tính cách tích cực khác. (Cooper, 1991).
Lý do nảy sinh hiệu ứng vầng hào quang, là vì chúng ta bị tác động bởi các thuyết nhân cách ẩn (implicit personality theories): phản ánh quan niệm của chúng ta về một tổ hợp các nét tính cách tìm thấy trong những cá nhân riêng biệt. Các lý thuyết này dựa trên cả kinh nghiệm và logic. Việc áp dụng thuyết này coi chừng là chẳng thích hợp mấy với một tình huống xác định và nó có thể hoàn toàn sai lầm. Đa phần người ta không thuần tiêu cực hay tích cực mà bao gồm cả hai nét tính cách.
Có liên hệ mật thiết với hiệu ứng vầng hào quang là hiệu ứng ma quỷ (devil effect): bằng cách gì đấy mà người ta lượng giá một cá nhân dưới mức, bởi vì niềm tin rằng cá nhân ấy là dưới mức ở một nét tính cách ra vẻ bị chỉ trích. Hiệu ứng vầng hào quang và hiệu ứng ma quỷ thường khuếch trương tầm mức rằng nét tính cách bị đánh giá là mập mờ, khó khăn để đo lường, hoặc nhìn nó như là tập hợp con của một nét tính cách được lượng giá khác.
*Thành kiến giả định tương tự (Assumed-similarity bias): khuynh hướng nghĩ về người khác khi họ giông giống với mình, ngay cả lúc mới lần đầu tiên gặp nhau. (Ros, Greene, & House, 1977; Hoch, 1987; Marks & Miller, 1987). Hầu hết người đời đều tin là bạn bè và người thân của mình thì khá giống với bản thân mình.
Hậu quả là, nếu thực tế người ta khác biệt so với mình thì thành kiến này làm giảm sự chính xác của phán đoán đã tiến hành. Tuy thế, nó lại gợi ra một khả năng thú vị: có thể một đánh giá về kẻ khác xác lập tốt hơn các đặc tính về người đánh giá hơn là đặc tính của kẻ được đánh giá.Trong một số trường hợp, chân dung chúng ta vẽ về kẻ khác- nhất là đối tượng chúng ta có ít thông tin- thực ra có thể là bức phác họa cách thức chúng ta nhìn chính mình.
Tóm lại, thuyết quy kết quan tâm đến cách thức người ta lý giải hoặc quy lỗi về hành vi của những kẻ khác, thành 2 kiểu:
- Quy gán hướng ngoại hoặc quy gán cảnh huống: đổ tại nguyên nhân bên ngoài, như thời tiết chẳng hạn.
- Quy gán hướng nội hoặc quy gán tính tình: nguyên nhân do các yếu tố bên trong con người, như mức độ thông minh hoặc các biến số khác để quy trách nhiệm cá nhân về sự kiện.
Theo Harold Kelley, có 3 phương pháp cơ bản để quy hành động thuộc loại hướng nội hay hướng ngoại: điểm nổi trội (người này hành xử theo cách phù hợp với tình huống xác định hay luôn hành động như thế này?), sự nhất trí (những người khác có nên hành xử như thế trong tình huống tương tự?), và kiên định (nói chung người ta có hành xử theo cách này trong tình huống tương tự thế?).
Được nhà tâm lý học người Áo là Fritz Heider đề ra ngay từ năm 1927, song thuật ngữ quy kết (attribution) chỉ thực sự gây sự chú ý vào những năm 1970 để thay cho sự bất hòa của nhận thức (cognitive dissonance)-chủ đề hàng đầu của tâm lý học xã hội , ám chỉ tiến trình suy ra nguyên nhân của các sự kiện trong đời sống bản thân và hành vi của người khác.
Trong những năm 1980, thuyết quy kết thẩm thấu sâu vào một lĩnh vực rộng hơn là “nhận thức xã hội” (social cognition: những tiến trình làm nền tảng cho hiểu biết của chúng ta về đời sống xã hội); bên trong khung tham chiếu này, nó trở thành khái niệm trung tâm của Tâm lý học Xã hội đương thời, bổ sung giá trị thực sự cho việc giải thích hành vi con người.
Thuyết này cũng đem lại nhiều ứng dụng trong thực tiễn giáo dục (sinh viên nhận lỗi của việc thi rớt là là do chưa chịu cố gắng chứ không phải vì thiếu khả năng), điều trị bệnh trầm cảm (người mắc trầm cảm bị quyến rũ để giảm tối thiểu ý thức trách nhiệm đối với những sự kiện tiêu cực trong đời họ), nâng cao tinh thần thực hiện và động cơ cho người sợ thất bại (họ được dẫn dắt để quy kết nỗi sợ thất bại là do thiếu vắng kỹ năng thực hành hơn là vì những nhược điểm của tính cách), v.v...
-----------
Tài liệu tham khảo:
1. Raymond J. Corsini & Alan J. Auerbach, eds., Concise Encyclopedia of Psychology, USA: John Wiley & Sons, Inc, 2nd edn, 1996, p.398, p.859
2. Robert S. Feldman, Essentials of Understanding Psychology, USA: The McGraw-Hill Companies, Inc., 3rd edn, 1997, pp.474-476
3. Julius Gould & William L. Kolb, eds., A Dictionary of the Social Sciences, compiled under the auspices of UNESCO, 1964, pp.663-665
4. Morton Hunt, The Story of Psychology, New York: Anchor Books, 1994, pp. 427-430
5. Từ điển bách khoa toàn thư mã nguồn mở Wikipedia, mục từ “Social Psychology.”
Phân loại: Nghiên cứu, Tâm lý học Xã hội, Thuyết Quy kết
Bài đăng Mới hơn Bài đăng Cũ hơn Trang chủ