Hôm nay, báo Tuổi trẻ đưa tin, Tòa án Nhân dân tỉnh Thừa Thiên-Huế bắt đầu xét xử vụ tai nạn tàu E1 tại Lăng Cô hồi tháng 3 năm 2005 làm chết 11 người và bị thương 86 người, thiệt hại tài sản trên 6,2 tỷ đồng.

Tôi có quen một giáo viên là Thạc sĩ Ngữ văn dạy tại một trường chuyên PTTH đã thoát chết trong vụ lật tàu nói trên, có những biểu hiện của rối loạn stress sau sang chấn (PTSD: Post-Traumatic Stress Disorder). Điều nghịch lý trêu ngươi là căn bệnh tâm thần này lại ít được cộng đồng biết đến.


Song thiết nghĩ, trước khi đề cập đến PTSD, có lẽ cần giới thiệu về cái từ có nguồn gốc nước ngoài là Stress dường như đầy ma thuật tới độ mà chẳng mấy chốc đã thu hút đa số người Việt Nam, và để lại dấu ấn không thể nào quên trong ký ức.

Chúng tôi hiểu stress là “phản ứng của con người trước các sự kiện đang đe dọa hay thách thức họ.” [Robert S. Feldman. (1997). Essentials of Understanding Psychology. (3rd edn). USA: The McGraw-Hill Companies, Inc., pp.307-315].

Có thể nói không ngoa rằng, cuộc đời đầy rẫy những hoàn cảnh hay sự kiện, được xem là các nhân tố gây nên áp lực căng thẳng/ stressor rình rập, đe dọa sinh mệnh chúng ta.

Thậm chí, những sự kiện vui thú như lập kế hoạch cho một bữa tiệc hay khởi sự một công việc mong chờ bấy lâu, cũng có thể tạo nên stress, dù cho những sự kiện tiêu cực thì để lại hậu quả bất lợi hơn so với sự kiện tích cực. (Sarason, Johnson, & Siegel, 1978; Brown & McGill, 1989).

Tất cả, không loại trừ một ai, đều phải đối mặt với stress. Một số nhà tâm lý học y học/ health psychologist tin là đời sống hàng ngày thực sự gồm một chuỗi liên tục lặp đi lặp lại các cảm nhận đe dọa, cân nhắc cách thức ứng phó, và sau rốt thì thích ứng ít hoặt nhiều thành công với các mối đe dọa đó. (Gatchel & Baum, 1983).

Lúc bình thường, sự thích ứng luôn thứ yếu và xảy ra mà chúng ta không để ý. Nhưng trong những trường hợp mà stress diễn ra nghiêm trọng và kéo dài thì sự thích ứng đòi hỏi nỗ lực lớn lao, có thể gây nên những biến đổi tâm sinh lý để rồi làm phát sinh vấn đề cho sức khỏe của chúng ta.

Stress” là một thuật ngữ có liên quan đến rất nhiều khái niệm và thao tác khác nhau (Appley & Trumbull, 1967; Dodge & Martin, 1970; Hinkle, 1973; Janis, 1958; Lazarus, 1966; Levine & Scotch, 1970; Moss, 1973; McGrath, 1970).

Đối với một số nhà nghiên cứu, stress là một kích thích đôi khi ít hoặc nhiều phức tạp; với những người khác, thì nó là một trạng thái quấy nhiễu nội tâm; và một số khác nữa thì cho rằng nó là đáp ứng có thể quan sát được đối với một tình huống hay kích thích. [Barbara S. Dohrenwend & Bruce P. Dohrenwend. (eds). (1974). Stressful Life Events: Their Nature and Effects. USA: John Wiley & Sons, Inc., pp.1-5].

Do vậy, việc sử dụng thuật ngữ stress, ở khía cạnh nào đó, mang tính liều mạng, may rủi. Trong nghiên cứu, người ta có thể chia sẻ hai mối quan tâm chính:

1. Tập trung chủ yếu vào một loại tình huống hay kích thích gây stress đối với người bị phơi nhiễm/ expose thuộc phạm vi nhỏ hay lớn trong tiến trình đời sống tự nhiên. Các kích thích hoặc tình huống này, gọi là “biến cố/ life event”, bao gồm trải nghiệm kết hôn, sinh con, ly dị và cái chết của một người thân yêu.

2. Giả định rằng, các biến cố gây stress giữ một vai trò trong bệnh căn/ etiology của các rối loạn tâm thể và tâm thần khác nhau; được thể hiện qua các cách tiếp cận lâm sàng và thực nghiệm.

Người đặt nền móng cho việc nghiên cứu thực nghiệm tương đốii có hệ thống về những ảnh hưởng của stress là Walter Cannon- nhà sinh lý học trường Harvard qua các quan sát chi tiết của ông (1927) về sự thay đổi của cơ thể khi bị đau đớn, đói và một số cảm xúc căn bản khác.

Kế tục xứng đáng,vào những năm 1930, Adolf Meyer- người đứng đầu chuyên khoa Tâm thần lâm sàng của Bệnh viện Johns Hopkins (Hoa Kỳ), đã đề xuất ra biểu đồ đời người/ life chart làm công cụ chẩn đoán y khoa.

Như Hans Selye (1956) lưu ý: stress là chuyện bình thường ở đời; nó là một phần tất yếu nảy sinh trong các họat động của con người chúng ta. Điều đáng nói là cái giá cao phải trả có thể gây thiệt hai bằng nhiều cách, tạo nên vô số hậu quả tâm sinh lý.

Đáp ứng tức thì mang tính sinh lý, sự phơi nhiễm đối với stress làm tăng một số hormone của tuyến thượng thận/ adrenal glands, tim đập nhanh và huyết áp lên, những chuyển biến rõ rệt về mức độ truyền xung điện ở da. (Mason, 1975; Selye, 1976).

Trên cơ sở ngắn hạn, những đáp ứng này có thể thích nghi được vì chúng sinh ra “đáp ứng khẩn cấp” do cơ thể chúng ta tự mình chuẩn bị phòng vệ bằng hoạt động của hệ thần kinh giao cảm/ sympathetic nervous system; những đáp ứng này cho phép chúng ta đối phó hiệu quả hơn với tình huống stress.

Mặc dù vậy, sự phơi nhiễm không ngừng đối với stress làm giảm sút toàn bộ chức năng sinh học của cơ thể (vì hormone tiết ra liên tục).

Qua thời gian, các phản ứng căng thẳng có thể thúc đẩy sự suy yếu của các mô, như mạch máu và tim chẳng hạn. Kết cục, chúng ta dễ nhiễm bệnh hơn khi sự đề kháng vi trùng bị giảm sút. (Kiecolt-Glaser& Glaser, 1986; Schneiderman, 1983; Cohen, Tyrrell, & Smith, 1993).

Ngoài những trục trặc sức khỏe trầm trọng, nhiều cơn đau nhức nhỏ hơn có thể là nguyên nhân hoặc trở nên tồi tệ hơn do stress: đau lưng, tim, da nổi mụn, khó tiêu, mệt mỏi và táo bón, thậm chí, liên quan đến cảm cúm thông thường nữa. (Brown, 1984; Cohen, Tyrrell, & Smith, 1993).

Còn có thể kể thêm các rối loạn tâm thể do stress. Các rối loạn này tạo nên từ sự tương tác của các trục trặc tâm lý, cảm xúc và sinh lý; phổ biến nhất là loét/ ulcer, hen suyễn/ asthma, viêm khớp/ arthitis, huyết áp cao/ high blood pressure và eczema. (Shorter, 1991). Thực tế thì rất có thể những tấn công của bất kỳ chứng bệnh chủ yếu nào cũng đều liên quan đến số lượng và kiểu loại sự kiện gây stress mà người ta trải qua.

Từ góc độ tâm lý, cấp stress cao ngăn chặn người ta đối phó một cách thỏa đáng ở đời. Cái nhìn của họ về môi trường sống trở nên u ám. Với các mức stress ghê gớm, đáp ứng xúc cảm thái quá đến độ không thể hành xử gì nổi.

Người phải chịu đựng quá nhiều stress cũng kém khả năng đáp ứng với tác nhân gây stress mới. Nguồn lực để chiến đấu chống lại stress trong tương lai sẽ suy giảm do hậu quả stress của quá khứ. (Echenrode, 1984; Glaser & Kiecolt-Glaser, 1994; Avision & Gotlib, 1994).

Mô hình Hội chứng thích ứng chung (GAD: General Adaptation Syndrome) do lý thuyết gia stress nổi tiếng Hans Selye đề ra đã minh họa sâu sắc về hậu quả của stress. (Selye, 1976). Theo đó, có cùng một tập hợp các phản ứng sinh lý như nhau đối với stress xảy ra bất kể sự khác biệt của các nguyên nhân gây stress.

Mộ hình này có 3 giai đoạn:

- Cảnh báo và linh động/ alarm and mobilization: xảy ra khi con người nhận thấy sự hiện diện của tác nhân gây ra stress;

- Đề kháng/ resistance: tự mình chuẩn bị đối phó với tác nhân gây stress;

- Kiệt sức/ exhaustion: năng lực thích ứng với stressor suy giảm đến điểm chốt xảy ra hậu quả tiêu cực- bệnh thực thể, các triệu chứng tâm lý như mất tập trung, dễ bị kích thích, trong một số trường hợp nghiêm trọng là mất định hướng và nhận thức về thực tại.

Mô hình này, dù vẫn còn được xem là hiểu biết cơ bản về stress, song vì nó quá dựa vào yếu tố sinh lý nên đã không chú ý nhiều đến yếu tố tâm lý.

Về tính chất của các tác nhân gây stress. Có thể là mô hình GAD khó giải thích nổi những gì cấu thành yếu tố gây stress ở một cá nhân cụ thể.

Dù chắc chắn rằng một số loại sự kiện nào đó, như người thân yêu chết hay tham gia chiến trường, là các yếu tố gây stress phổ quát ở mọi nơi, song trong những tình huống khác thì chúng có thể hoặc không thể gây stress đối với một ai đó. (Fleming, Baum, & Singer, 1984; Affeck & al., 1994).

Còn có nhiều chuyện khác ảnh hưởng đến tính khắc nghiệt của stress. Ví dụ, stress cao hơn khi tầm quan trọng và số thành tựu phải đạt được gây mối lo lớn, sự đe dọa trông thấy nhãn tiền hoặc việc dự đoán sự kiện ấy diễn ra lâu dài về sau. (Paterson & Neufeld, 1987).

- Các biến cố chấn động/ cataclysmic events: stressor mạnh, xảy ra đột ngột, ảnh hưởng đến nhiều người một lúc (thảm họa tự nhiên). Stress do các biến cố chấn động được chia sẻ bởi những người cùng cảnh ngộ; cho phép người ta nhận đuợc sự hỗ trợ xã hội và mối cảm thông trực tiếp, kịp thời. (Cumming, 1987; Pennerbake & Harber, 1993).

- Các stressor cá nhân: sự kiện trọng đại trong đời như việc mất người thân trong gia đình, bị đuổi việc,… mà hậu quả tiêu cực tức thời sẽ nguôi ngoai đi theo thời gian. Trong một số trường hợp, tác động stress vẫn còn kéo dài.

- Những tác nhân gây stress nền tảng là các rắc rối hàng ngày như kẹt xe, tạo sự bực bội nho nhỏ nhưng không để lại hiệu quả xấu về sau, trừ khi chúng tiếp diễn hay kết hợp với các tác nhân gây stress khác.

Đó cũng có thể là vấn đề dài hạn, mãn tính: sự bất mãn về trường học hay việc làm, dính vào quan hệ khổ sở, sống trong những nơi đông đúc hạn chế tính riêng tư,… Các trục trặc sức khỏe có liên quan đến các rắc rối hàng ngày: cảm cúm, đau cổ, nhức đầu và đau lưng (DeLongis, Folkman, & Lazarus, 1988; Jones, Brantley, & Gilchrist, 1988; Kohn, Lareniere, & Guevich, 1991).

- Các yếu tố kích thích/uplift: sự kiện tích cực nhỏ nhặt khiến cho người ta cảm thấy thoải mái, dễ chịu. Điều thú vị ở đây là càng trải nghiệm nhiều các yếu tố kích thích thì các triệu chứng tâm lý kể lể về sau càng ít.

Để xử lý stress, chúng ta sử dụng các cơ chế đối phó: nỗ lực để kiểm soát, giảm thiểu hay học hỏi nhằm dung hòa các nguy cơ dẫn đến stress.

Một trong những phương tiện ấy diễn ra ở cõi vô thức, với việc sử dụng các cơ chế phòng vệ/ defense mechanisms [Hope R. Conte & Robert Pluthchik. (eds) (1995). Ego Defenses: Theory and Measurement. USA: John Wiley & Sons, Inc, pp. 239-240]; đây là những chiến lược của cõi vô thức giúp giảm bớt lo âu nhờ cách che đậy những nguồn gây âu lo từ chính bản thân mình và người khác; duy trì sự kiểm soát bản thân và tự đánh giá mình qua việc chối bỏ hay làm lệch đi bản chất nguyên thủy của tình huống.

Đôi khi người ta sử dụng sự cô lập cảm xúc để chấm dứt mọi cảm nhận, tỏ thái độ dửng dưng không bị tác động trước mọi trải nghiệm tích cực hay tiêu cực. Thực tế, cách này chỉ là sự che giấu, không giải quyết vấn đề được.

Người ta sử dụng cách khác, trực tiếp và mang nhiều ý nghĩa tích cực mang tính tiềm năng hơn để đối phó với stress (Aldwin & Revenson, 1987; Compass, 1987; Miller, Brody, & Summerton, 1988).

Nhìn chung, các chiến lược đối phó có thể được chia làm hai loại: đối phó tập trung vào cảm xúc và đối phó tập trung vào giải quyết vấn đề.

Đặc điểm của loại đối phó đầu là điều chỉnh lại nhận thức về cảm xúc (nhìn mặt tươi sáng của vấn đề); loại sau thì kiểm soát các kích thích hoặc tình huống gây stress (lập kế hoạch hành động và áp dụng nó).

Trong số những người đối phó với stress thành công nhất có kiểu người đối phó dũng cảm: một đặc điểm nhân cách có tỷ lệ dính bệnh đến stress hơn, gồm 3 thành phần cơ bản- cam kết/ commitment, thách thức/ chanllenge và kiểm soát/ control. (Kobasa, 1979; Gentry & Kobasa, 1984).

Các nhà nghiên cứu đề nghị một số chiến lược đối phó hiệu quả với stressor như sau:
- Chuyển mối đe dọa thành thách thức;

- Làm cho tình huống đe dọa thành tình huống ít đe dọa hơn;

- Thay đổi mục tiêu cá nhân;

- Thực hiện các hoạt động tay chân, tập thể dục;

- Chuẩn bị cho stress trước khi nó xuất hiện. (Folkman, 1984; Everly, 1989; Holahan & Moos, 1987, 1990).

Rõ ràng, toàn bộ những gì trình bày ở trên, suy cho cùng, đều liên quan đến việc cố gắng tìm hiểu hai trong số những vấn đề trung tâm mà đến nay vẫn còn để ngỏ trên tiến trình nghiên cứu biến cố đời sống gây stress:

- Những thuộc tính và điều kiện nào để phân biệt mức độ nhiều hay ít của các sự kiện gây stress?

- Những sự kiện gây stress để lại hậu quả gì về mặt bệnh học?

Bài đăng Mới hơn Bài đăng Cũ hơn Trang chủ