Hiển thị các bài đăng có nhãn Stress. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Stress. Hiển thị tất cả bài đăng

(Nguồn ảnh)

Với
hơn một nửa sử dụng điện thoại di động và trên 1/5 dân số truy cập mạng lưới điểm toàn cầu (internet), người Việt Nam-- đặc biệt giới trẻ-- xem ra đã phần nào mê mải với những blog, offline, SMS, YM, chát chít, ...

Do làm một blogger không mặn mà Yahoo 360! mấy nên tôi thực sự ngạc nhiên khi biết cái gọi là blast lại bắng nhắng lắm trò đến thế; giời ạ, chỉ cần dăm chữ cảm thán kêu to nỗi niềm day dứt mơ mơ hồ hồ hay vài dấu câu, ký hiệu bỏ lửng tưng tửng huyền hoặc là cộng đồng mạng xa gần quen lạ đổ xô tranh nhau bóc tem hay sẵn sàng hỏi han kỹ càng, an ủi nhiệt tình hết mức ngay tắp lự.

Đa phần xoay quanh cuộc sống cá nhân buồn vui nắng mưa à ơi đưa đẩy đôi lúc sát sườn đến từng chi tiết, thế giới Yahoo 360! gây ấn tượng mạnh cho tôi khi tình cờ ghé xem về cái vòng tròn dan díu buộc ràng cùng nhau thật thú vị.

Vụt liên tưởng bài thơ nổi tiếng của một thi sĩ Soviet: Chẳng có ai tẻ nhạt ở trên đời...

Lại nhớ bài báo nghiêm túc đăng trên tạp chí Scientific American lưu ý "nền tảng thần kinh học" của việc blog, rằng thì là chơi blog đồng nghĩa với chuyện diễn đạt câu chữ, viết lách.

Các khoa học gia Hoa Kỳ đùa vui tí chăng; bởi thực tế, blog mang tính biên niên sử theo thứ tự thời gian và liên kết, dẫn nguồn đủ món trực tuyến hấp dẫn khác. Báo chí, ngược hẳn, có bề dày phong phú xưa hơn thế giới trực tuyến, rồi tích hợp trong nó kiểu dạng như là nhật ký cá nhân.

Một câu chuyện khác mô tả cách thức người ta sử dụng
tin nhắn văn bản (texting) để giải quyết các sang chấn vừa xảy ra gần đây, kèm lời khẳng định của một nhà tâm lý học rằng "dù tin nhắn văn bản có thể là phương cách hữu hiệu giúp đối phó với sự thống khổ đớn đau mới chớm hình thành, song nó thật hời hợt, nông cạn khi muốn hỗ trợ người ta vượt thoát trở ngại trong đời".

Thực sự đúng vậy sao?

Trong khi giới hạn của tin nhắn là rõ ràng (chừng 160 chữ), cho dù thông thường chẳng thể nói hết tất tật các xúc cảm chực ứ tràn thì tôi nghĩ, viết tin nhắn có thể đem lại sự hỗ trợ thiết thực và quyền năng đối với ai đó tựa lúc họ gửi một lá thư điện tử dài, đầy suy tư.

Bởi vì tất cả đều là truyền thông; tức hàm nghĩa chia sẻ, cởi mở sâu xa, và không giấu giếm, đóng chặt cửa lòng khi ta có thể nhận ra nó dễ dàng thực hiện hơn.

Chẳng có bất cứ điều thứ, nguyên tắc đơn lẻ duy nhất nào đáng được chấp nhận trên tiến trình giải tỏa đau đớn, mất mát, muộn phiền hay phát hiện sự khép kín cả.

Vì thế, thật khó giải thích rốt ráo tại sao tin nhắn văn bản-- với ai đó-- lại có thể là một phần quan yếu của một tiến trình khiến họ tìm thấy nó trợ giúp thật hữu ích.

Tin nhắn là phương thức tốt đẹp để truyền thông với tha nhân khi ta không cảm thấy thích việc trò chuyện hoặc sử dụng các phương tiện kỹ thuật khác.

Và dĩ nhiên, cần khẳng định rõ ràng rằng dẫu thể hiện 'hỉ, nộ, ái ố...' thế nào đi nữa thì blog, tin nhắn các kiểu nhiều dạng xem chừng hữu ích hơn hẳn việc đơn giản tỏ thái độ "bế quan tỏa cảng", cắt đứt mọi ngõ ngách truyền thông với thế giới bên ngoài.

Rối loạn ăn uống có thể xảy đến do nhiều yếu tố; gần đây, một số nghiên cứu kết nối áp lực xã hội và rối loạn ăn uống, tìm hiểu cách thức làm thế nào sang chấn quá khứ lại tạo ra quan hệ không lành mạnh với thực phẩm những năm về sau.

Nhóm chuyên gia thuộc Đại học Syracuse tiến hành điều tra 209 sinh viên năm thứ nhất (18-19 tuổi) về sang chấn họ từng trải qua trong quá khứ.

Cuộc điều tra phản chiếu một bối cảnh rộng: ly dị, cái chết của người thân yêu, bị lạm dụng thể lý và lạm dụng tình dục; đồng thời, ngoài việc báo cáo sang chấn
, các đối tượng tham gia còn cho biết mức độ tồi tệ của trải nghiệm ảnh hưởng đến họ ra sao.

Sinh viên đối đầu với sang chấn thời thơ ấu thường biểu hiện các dấu hiệu của rối loạn ăn uống, và các nhà nghiên cứu đã định dạng được mối liên kết giữa các kiểu dạng sang chấn với nhiều triệu chứng khác nhau của rối loạn ăn uống.

Đối tượng nào từng trải qua sang chấn bạo lực thì hay bỏ bữa, ăn nhanh, háu ăn, và sử dụng quá mức các loại thuốc ăn kiêng hoặc thuốc nhuận tràng, cùng lúc việc lạm dụng thuốc nhuận tràng, ăn vô độ và nôn mửa có liên quan với chuyện ly dị và cái chết của người thân yêu.

Các sinh viên được theo dõi từ lúc bắt đầu cho đến khi kết thúc học kỳ. Những ai từng trải nghiệm sang chấn trong quá khứ thì hay biểu hiện rối loạn ăn uống ngay lúc bắt đầu học kỳ, và họ cũng thường có những thói quen ăn uống thiếu lành mạnh lúc kết thúc học kỳ.

Các kiểu rối loạn ăn uống xem ra bùng phát do căng thẳng tinh thần, và chúng thường nổi rõ ở thời điểm học phổ thông hoặc lúc bước vào đại học. Giai đoạn quá độ chuyển từ phổ thông sang đại học càng dễ làm tăng thêm nguy cơ hình thành các thói quen ăn uống thiếu lành mạnh với các đối tượng vốn có tiền sử sang chấn.

Các khía cạnh khác của tình huống hiện tại cũng tác động mạnh mẽ đối với sức khỏe tâm thần của người ta, như minh họa trong một nghiên cứu của Hệ thống chăm sóc sức khỏe thành phố VA Iowa.

Một số nghiên cứu trước đây về ảnh hưởng xã hội với hành vi ăn uống cho thấy, rối loạn ăn uống xem chừng 'lây lan' những người xung quanh.

Tác động này có vẻ xảy đến với các cô gái, đáng chú ý, rất có khả năng là do áp lực từ bạn cùng hội cùng thuyền hoặc vì họ thường xuyên ăn kiêng rồi thảo luận cách thức của việc giảm cân.

Để tìm hiểu sâu hơn ý tưởng này, các nhà nghiên cứu phân tích dữ liệu mang tầm quốc gia với hơn 15.000 học sinh phổ thông trung học.

Khi so sánh các cặp đôi học sinh sống khác tỉnh, thì các cặp đôi sống cùng địa phương biểu hiện gấp 4 đến 10 lần việc ăn kiêng, chối bỏ quyết liệt lượng thức ăn nạp vào, sử dụng viên thuốc ăn kiêng, hoặc dính tới các hành vi thiếu lành mạnh khác thuộc rối loạn ăn uống.

Các hành vi tương tự cũng được thể hiện ở nông thôn, thành thị, vùng ngoại ô phụ cận tỉnh lỵ; chỉ mỗi biểu hiện của hành vi dùng thuốc xổ tẩy ruột là không thấy lan tràn trong các nhóm bạn bè tụ tập cùng nhau: từ góc độ lý thuyết, việc uống thuốc tẩy ruột được xem là ít được chấp nhận và mang tính giấu giếm nhiều hơn so với các hành vi ăn uống khác; cho nên, nó hiếm khi được truyền từ cá nhân này sang cá nhân khác.


Rối loạn ăn uống có thể để lại vô số tác hại nghiêm trọng trong đời sống của trẻ vị thành niên và người mới lớn, thậm chí gây nên tử vong ở một số trường hợp.

Hiểu biết về các yếu tố nguy cơ là điều cốt yếu để xác định đối tượng cần trợ giúp. Cần cung cấp kiến thức, chương trình cho học sinh- sinh viên nhận ra các dấu hiệu của rối loạn ăn uống; thảo luận lựa chọn phương thức điều trị thích hợp cũng khuyến khích họ tìm kiếm sự trợ giúp với những vấn đề họ trải nghiệm.

Trường phổ thông và đại học tạo ra nhiều thách thức cần nỗ lực vượt qua, nhất là những ai từng phải đương đầu với các biểu hiện sang chấn và bệnh tâm thần, song với sự trợ giúp và điều trị, họ có thể cải thiện đời sống và sức khỏe của chính mình.

Định kết thúc bài viết ở đây, sực nhớ đang có dịp ăn uống truyền thống giết sâu bọ...




Mắt phải, chân phải, tay phải

Hễ lúc nào rời khỏi phòng là tôi nhìn chăm chăm vào ngọn đèn điện với con mắt phải, trong khi chân phải tôi vẫn còn chưa rời khỏi cửa và bàn tay phải tôi thì đang nắm chặt quả đấm.


Tôi cứ đứng ở đúng vị trí vừa chạm chân tôi như thế để mà mở chúng và đóng cửa 3 lần. Nếu đèn đã tắt thì tôi lại bật sáng lên và cứ tiếp diễn chuyện bật tắt này.

Cuối cùng, tôi phải đóng cửa sau chừng 3 hoặc 7 lần, tùy thuộc trạng thái căng thẳng tinh thần.


Còn bạn, bạn có nghĩ mình từng rối nhiễu?
Một blog bắt mắt và thu hút tâm trí người đọc; càng ấn tượng về những dòng viết ngắn gọn, bởi dù trời vừa đột ngột đổ mưa, sấm nổ đì đùng song chưa kịp xua hết cái không khí bức bối dồn ứ từ trưa hè nóng nực.

(nguồn)

Nếu bạn từng cho rằng trầm cảm sau sinh chỉ xảy ra ở phụ nữ, thì giờ là lúc nên dừng suy nghĩ ấy lại.

Thực tế, đàn ông cũng kinh qua trầm cảm sau sự kiện đôi vợ chồng sinh hạ em bé.

Một khi trạng thái trầm cảm hiếm thấy này tăng lên mà không điều trị, thì nó có thể ảnh hưởng tới cả em bé lẫn bà mẹ nặng nề chẳng kém gì so với trầm cảm sau sinh ở phụ nữ.

Nói chung, trầm cảm sau sinh thường hay ám chỉ đến giai đoạn trải nghiệm trầm cảm lâm sàng sau khi một em bé chào đời.

Tờ
U.S. News and World Report đăng tải câu chuyện:

10% người vừa lên chức bố và 14% bà mẹ trẻ bị trầm cảm, nhà tâm lý học James F. Paulson, trợ lý giáo sư Nhi khoa tại trường Y Eastern Virginia ở Norfolk, Va. cho biết.

Tuy thế, hầu hết ông bố bà mẹ đều không thật chú ý đầy đủ đến trạng thái này khi nó khởi phát.


Các triệu chứng thì tương tự với cả hai giới, song nguyên nhân lại khác biệt hẳn.


Nỗi đau đớn của bà mẹ xem chừng được quy bởi những sự thay đổi
hormone, trong khi nguyên nhân lụt sâu trầm cảm ở ông bố là do lối sống bị thay đổi đột ngột và không lường trước.

"Sau khi em bé chào đời, cấu trúc gia đình thay đổi", ông Thomas Newmark-- Trưởng khoa Tâm thần thuộc Bệnh viện Đại học Cooper ở Camden, N.J. kiêm người tổ chức Hội thảo tại APA phát biểu. "Phải chịu nhiều áp lực để chăm sóc bé thật tiết kiệm. Người đàn ông có thể không còn nhận được sự quan tâm, chăm sóc của vợ như trước đây. Và, dĩ nhiên, giấc ngủ của anh ấy, sẽ bị ảnh hưởng."

Trầm cảm ở ông bố rất giống bà mẹ với không ít hành vi mang tính tiêu cực như uống rượu bia hoặc sử dụng ma túy nhiều hơn, tỏ thái độ giận dữ, gây chuyện lục đục, và có việc làm nguy hiểm như lái xe bất cẩn hay quan hệ tình dục ngoài hôn nhân. Một số người, như Hyman, lại chọn cách tăng giờ lao động lên.

Vài dấu hiệu khác biệt: cảm xúc buồn bã hoặc trầm uất, mất hứng thú hoặc khoái cảm, tăng hay giảm cân, ngủ li bì hoặc khó ngủ, bồn chồn, mỏi mệt, cảm giác mình vô dụng hoặc tội lỗi, thiếu khả năng tập trung, nảy sinh ý nghĩ tự sát hoặc muốn chết.

Trầm cảm có thể bắt đầu trong vòng vài ngày hoặc vài tuần để rồi có thể kéo dài đến cả năm hoặc lâu hơn.
Ai phát hiện ông bố trầm cảm? Một câu hỏi dễ đoán; dĩ nhiên là bà mẹ, người nhận ra những sự thay đổi trong hành vi của vị phu quân và biết trạng thái lộ rõ.

Tin vui là trầm cảm sau sinh- ở đàn ông và phụ nữ-- đều không khó điều trị lắm. Chỉ khoảng vài tháng thôi, đa phần các đối tượng trầm cảm sau sinh sẽ cảm thấy hồi phục, tốt hơn rất nhiều.


Dưới đây là 7 mẹo vặt giúp đỡ người bị trầm cảm sau sinh được bài báo chỉ ra cụ thể:

- Tham gia các lớp học dành cho đối tượng làm cha làm mẹ do bệnh viện tài trợ.

- Lên kế hoạch tài chính liên quan mật thiết với chuyện em bé sắp ra đời.

- Nghĩ ra các chiến lược nhằm chia sẻ trách nhiệm chăm sóc em bé. Ví dụ, người bố có thể lo việc cho bé ăn đêm theo công thức có sẵn hoặc chuẩn bị bình sữa cho bé bú.

- Chú ý dồn tâm trí đến các vấn đề quan hệ gia đình trước khi em bé chào đời.

- Thuê mướn người giúp việc hoặc nhờ người thân trong gia đình trông giữ giùm em bé mỗi tuần một lần.

- Hiểu rằng đời sống tình dục sẽ thay đổi sau khi sinh nở và nó có thể không trở lại bình thường trong vòng một năm hoặc lâu hơn.

- Tìm kiếm nhóm tương trợ cùng cảnh ngộ những người mới làm bố, hoặc tra cứu thông tin về trầm cảm và thử tự kiểm tra tình hình trên các trang điện tử trên mạng như PostpartumMen.com.

Có em bé và rồi làm cha làm mẹ là sự thay đổi cực kỳ lớn lao trong đời-- càng lớn lao vô cùng khi lần đầu tiên người ta trải qua.

Do đó, cần chuẩn bị chu đáo cho sự kiện này, đủ để biết rằng trầm cảm sau sinh dễ có khả năng xảy ra-- với cả bà mẹ lẫn ông bố còn trẻ.

Cá nhân tôi, hiện thêm phần kính trọng đồng thời càng chứa đầy ngạc nhiên thú vị về tiến trình kỳ diệu để một con người ra đời, khi mới đây ghé xem trưng bàyBảo tàng Dân tộc học Việt Nam.

@ Cập nhật, 24.5: Cái nhìn sơ qua về cuộc triển lãm nêu trên.


Chẩn đoán ung thư thường khiến người ta lo lắng cao độ. Phần vì đối đầu với cái chết, mặt khác họ phải chọn một phương pháp điều trị và chấp nhận các tác dụng phụ đi kèm.

Hóa trị liệu (chemotherapy)-- giết rất nhiều tế bào lành mạnh cùng với các tế bào ung thư- bị nghi ngờ là phá hoại cả tâm trí lẫn cơ thể bệnh nhân.

Vì thế, nhiều đối tượng báo cáo các trục trặc xảy ra cho suy nghĩ và trí nhớ như là tác dụng phụ về mặt nhận thức mang tên là 'não hóa trị liệu' (chemo brain)-- mất tập trung, khó xử lý việc phức tạp, quên những điều vốn rất quen thuộc,...

Danh xưng nhiều khi không phản ánh sự thật, và hai nghiên cứu đăng tại Hội nghị thường niên Viện Thần Kinh Hoa Kỳ (AAN) đã hé lộ đôi chỗ về hiện tượng này.

Các nghiên cứu trước dường như xác quyết rằng, hóa trị liệu là nguyên nhân gây nên sự sa sút về mặt nhận thức.

Hai nghiên cứu gần đây của TS. Michael J. Boivin & TS. David G. Darby đã chỉ ra rằng, sự sa sút thực sự thích hợp với cơn đau và nỗi lo lắng hơn là bởi tính ác nghiệt của hóa chất.


Nhóm nghiên cứu thiết lập các trắc nghiệm nhận thức với 30 phụ nữ trước và sau một số vòng hóa trị liệu.

Kết quả, có 03 phụ nữ thể hiện sự giảm sút trong tốc độ xử lý thông tin, song những biểu hiện giảm sút này là các thiếu hụt không mấy ý nghĩa-- có thể được tìm thấy khi so sánh phụ nữ trước lúc tham gia điều trị đối với cộng đồng chung.

Thực chất, còn có một số điều không thuộc hóa trị liệu quấy nhiễu luồng suy nghĩ của bệnh nhân ung thư.

Rõ ràng không loại trừ khả năng rằng hóa trị liệu là một trong những nguyên nhân gây ra sự thiếu hụt, khiếm khuyết tâm thần tức thời, song ta nên xem xét, lắng nghe các sự kiện vặt vãnh với thái độ hoài nghi, bởi vì không có mối tương quan nào giữa các báo cáo cá nhân về thiếu hụt trong tri giác với sự thiếu hụt thực sự.

Chẳng có ai trong số 3 phụ nữ- kết quả test rõ ràng tồi tệ-- lại cảm thấy chính họ suy nghĩ tồi tệ hơn so với người thường.

TS. Boivin giải thích khả năng thiếu hụt ban đầu trong nghiên cứu của ông.

Theo đó, Boivin tập trung thành 3 nhóm phụ nữ: những người mới đây được chẩn đoán là ung thư vú song chưa bắt đầu tham gia hóa trị liệu; những người mà sinh thiết của họ chứng tỏ lành tính, và những người điều trị sống sót cũng như có dấu hiệu thuyên giảm trong vòng một năm.

Các thành viên của mỗi nhóm được kiểm tra qua bộ công cụ Lượng giá Trạng thái Tâm lý- Thần kinh và một số loại trắc nghiệm đánh giá tâm trạng khác nhau như Thang đo Chất lượng Cuộc sống Bệnh nhân Ung thư vú mang tên HOPE.

Trái ngược với ước đoán của Boivin, những phụ nữ trước khi hóa trị liệu có điểm số thật kém cỏi trong các trắc nghiệm về nhận thức hơn là các phụ nữ sau điều trị.

Sự thể hiện kém cỏi này liên quan chặt chẽ với mức độ khó khăn và sợ hãi trong đời sống.

Điều đó chứng tỏ rằng, không phải do điều trị hóa chất mà chính sự căng thẳng tinh thần (stress) khiến tâm trí u ám.

Đây là phát hiện quan trọng giúp bệnh nhân lên tinh thần, bởi vì vấn đề thực sự chính là hiểu biết sai lệch về các nguy cơ của hóa trị liệu có thể làm tăng thêm mức độ stress.

Các nhà tham vấn chuyên nghiệp và công tác hỗ trợ xã hội là thành phần quan trọng góp phần trong tiến trình chữa trị bất cứ bệnh tật thể lý cơ bản nào, vì nó có thể giúp giảm nhẹ gánh nặng nhận thức dường như là nguyên nhân tạo ra sự giảm sút.



Với tựa đề thật ấn tượng, bài báo đăng trên tờ Psychology News Today cho rằng, tranh thủ chợp mắt nghỉ ngơi tí chút vào buổi trưa sẽ nâng cao khả năng nhận thức và góp phần làm cho công ty thêm phần năng sản.

Ngoài ra, một giấc ngủ ngắn ban trưa còn đóng vai trò quan trọng trong chuyện cải thiện tâm trạng.

Bài báo ghi nhận một công ty mang tên MetroNaps chuyên hưởng lợi nhờ việc chợp mắt nghỉ trưa tại bất kỳ công sở nào.


MetroNaps đề xuất các dịch vụ nhằm "giảm nhẹ sự mệt mỏi" cho tất cả các công ty lớn, bé; bao gồm các đánh giá về giấc ngủ (trắc nghiệm và phỏng vấn để xem công nhân có thiếu ngủ không và chuyện đó tác động tới công việc của họ như thế nào), sau đó cung ứng những chiếc ghế ngủ hướng tới tương lai mang tên EnergyPod.

Tổng hành dinh của công ty còn có một nơi ẩn dật tĩnh tâm đặt tại tòa nhà Empire State Building (New York) dành cho các khách hàng muốn ngủ suốt cả ngày.
Cá nhân tôi thường tranh thủ ngủ gà gật chừng hơn nửa tiếng đồng hồ.

Cụ thể, xuất phát lúc hơn một giờ chiều trên chiếc xe bus số 22 (Viện 103- Gia Lâm), để rồi xuống bến Công viên ở phố Hoàng Diệu tranh thủ nghó nghiêng tí chút Cột Cờ và tượng đài Lenin nắm vạt áo (dân gian hay gọi là "tượng ông móc túi"); sau đó, gà gật tiếp trên xe bus số 50 (Sân Vận động Quốc gia Mỹ Đình- Long Biên) qua Đài Tưởng niệm Liệt sĩ, phố Quán Thánh, vòng theo đường Thanh Niên hai bên Hồ Tây và Hồ Trúc Bạch gió thổi lồng lộng mà ra đê Yên Phụ...

Thật tình, cho dù sáng hay tối, hễ bất cứ lúc nào lên xe bus là tôi tranh thủ chợp mắt định thần; tự thấy, thói quen này giúp tôi luôn tỉnh táo và tập trung lắng nghe cao độ khi vào ca trị liệu, lại tránh được cảm giác căng thẳng vì kẹt xe-- điều xảy ra hàng ngày như cơm bữa tại Hà Nội.


Các vấn đề tâm thần xảy đến khi còn bé xem chừng để lại hậu quả kéo dài, như khẳng định của một nghiên cứu mới đây.

Theo đó, những rối nhiễu tâm thần mắc phải hồi nhỏ có thể tạo nên nhiều tác động trầm trọng cho tương lai học hành và thành tựu trong công việc sau này.

Đội ngũ chuyên gia Anh quốc đã tra cứu dữ liệu thống kê của 8.000 cá nhân, sinh từ 3.1958.

Các đối tượng được theo dõi thuở mới chào đời và lượng giá sức khỏe tâm thần của họ tại các thời điểm lên 11, 16, 23 và 45 tuổi-- nhờ các thông tin do bố mẹ và thầy cô giáo cung cấp, cũng như phỏng vấn riêng.

Kết quả, định dạng một số đặc điểm liên quan tới trầm cảm và lo hãi ở tuổi trung niên, như chuyện cư ngụ tại khu nhà trọ, mắc một căn bệnh mãn tính, sống độc thân và bị căng thẳng tinh thần (stress) vì công việc.

Đáng lưu ý, với ngưỡng 45 tuổi, những ai ít điều kiện kiểm soát các quyết định trong công việc, hoặc cho thấy sự hỗ trợ xã hội thấp tại sở làm thì thường có nguy cơ cũng như phải đương đầu với trầm cảm, lo hãi gấp 2 đến 4 lần.

Đặc biệt, sự căng thẳng tinh thần cao độ tại nơi làm việc ở tuổi trưởng thành được phản ánh sâu sắc một khi tuổi thơ hiện diện các vướng mắc nội tâm-- triệu chứng lo hãi, trầm cảm và thu mình.

Bệnh tật tâm thần tác động tới thành tựu nghề nghiệp tương lai của trẻ dưới nhiều dạng thức khác nhau, nhất là kết quả học tập bị ảnh hưởng vì sức khỏe tâm thần kém cỏi.

Trẻ trải nghiệm rối nhiễu tâm thần-- các vướng mắc nội tâm nói riêng-- sẽ gặp khó khăn khi làm bài tập hoặc kém tập trung trong lớp, để rồi những phiền muộn này thu hẹp sự chọn lựa nghề nghiệp thích hợp khi ra trường.

Với những ai từng phải học hành chật vật thì sau này lựa chọn duy nhất là công việc lương thấp kèm nguy cơ chuyển chỗ làm cao.

Còn chưa nói, lo hãi và trầm cảm gây tổn hại cho sự tự trọng của trẻ, chi phối cách chúng nhìn nhận tiềm năng bản thân. Những đứa trẻ này khi trưởng thành hay tìm kiếm công việc ít mang tính chất thách thức lại giúp chúng dễ xoay xở nhất.

Rốt cục, việc vàng được trả lương thấp và chẳng đáng bõ công làm đời sống cá nhân càng khốn khổ; sự căng thẳng tinh thần này góp phần tăng cao hơn cơn trầm cảm và lo hãi.

Căng thẳng, rối nhiễu người ta từng trải nghiệm lúc nhỏ tuổi có thể tiếp tục tác động sâu xa tới suy nghĩ và hành động ngay cả lúc đã tốt nghiệp rồi, và hậu quả căng thẳng tinh thần vì công việc làm tồi tệ thêm các vấn đề lo hãi và trầm cảm.

Điều quan trọng là gia đình và nhà trường phải hỗ trợ trẻ đương đầu với bệnh tật tâm thần, cải thiện kết quả học tập và ngăn ngừa hậu quả tiêu cực do tích tụ bệnh tật tâm thần gây ra.

Cần biết cách tiến hành các bước giảm thiểu căng thẳng tinh thần tại sở làm. Thực tế chứng tỏ rằng nhờ điều chỉnh đồng thời chữa trị đúng đắn, nhiều người đã có thể hiện thực hóa tối đa tiềm năng và không ngừng thỏa mãn sâu xa nghề nghiệp của bản thân.



"Chín người mười ý", nên chắc chắn có nhiều lý do giải thích tại sao chúng ta xem film kinh dị.

Nghiên cứu tâm lý chỉ ra mối tương quan bền chặt giữa ước muốn xem film hồi hộp căng thẳng/ film kinh dị và có nhu cầu cao về cảm xúc hoặc độ kích thích.

Vì vậy, nhiều người xem film kinh dị để cảm nhận sự rùng mình tê cóng.

Điều này an toàn, bởi chúng ta xem chứ không phải sống qua.

Như bậc thầy film kinh dị Alfred Hitchcock (ấn tượng Kẻ tâm thần) nói, "mọi người thích khiếp đảm khi họ cảm thấy an toàn."

Một số khác thì muốn xem các film kinh dị nhằm củng cố kiểu nền tảng xưa cũ về đạo đức và lẽ công bằng ở đời.

Hoặc để giải quyết vấn đề, nhờ phát hiện các cách thức vượt thoát khỏi nỗi kinh hoàng.

Hoặc tái diễn lại sang chấn mà không cần phải hồi tưởng nó lần nữa trong đời thực.

Rồi, cũng có những người xem film để phóng thích lắm ao ước bạo lực và xung hấn, bằng phương thức mang tính xã hội dễ tiếp cận hơn. Xem chỉ để xem mà thôi.

Nghiên cứu của Đại học Hoàng gia London cho rằng, chìa khóa của một bộ film kinh dị hấp dẫn là sự cân bằng giữa nỗi căng thẳng đợi chờ và trạng thái lạnh run vì sợ.

Theo họ, Jaws (Hàm cá mập) là bộ film kinh dị xuất sắc, vì "đạo diễn Steven Spielberg đã đạt tới giải pháp tối ưu khiến cho khán giả nhìn thấy con cá mập trắng khổng lồ là đủ đông máu kinh hoàng, song nó lại không làm chúng ta ghê tởm quá mức."

(Sông Hồng ở Bát Tràng)

Vào thu đã lâu. Mùi hoa sữa vô tư hắc sực.

Lũ lụt, ngập nước, cúm gà, dịch bệnh, thực phẩm,...

Dưới bầu không khí se buốt pha rét dịu của
một ngày gió mùa đông bắc, trên chiếc xe bus băng qua cầu Chương Dương, thấy sông Hồng ngầu đục, cạn trơ và mờ mờ hình hài cầu Long Biên duyên dáng xa kia.

Vừa đi qua sau lưng Văn Miếu- Quốc Tử Giám; xuyên suốt con đường Hoàng Diệu rợp bóng cây và biệt thự kiểu cổ; đài tưởng niệm Anh hùng - Liệt sĩ, nhà thờ Cửa Bắc (nơi tổng thống Mỹ gần năm trước từng tới cầu nguyện); trờ ngay đấy là tường thành cổ Hà Nội còn mang dấu tích 2 vết đạn thời Pháp công thành gợi nhớ danh tướng Nguyễn Tri Phương; náo nức mấy phố hàng và chợ Đồng Xuân; ô Quan Chưởng;...

Ngẫm nghĩ tại sao mãi không thôi áy náy, cứ cố đánh mắt với chàng soát vé trẻ tuổi cho đến khi cậu ta nhận từ tay ta tờ bạc giấy nãy giờ hết đút túi rồi lại rút ra huơ huơ.

Và nhớ về cái tin má thằng bạn bác sĩ Nội khoa ở quê nhà đang mắc ung thư cũng như liên tưởng đến nghiên cứu chỉ ra rằng, cảm xúc không giữ vai trò chính quyết định tỷ lệ sống sót như người đời gắng tin tưởng bấy lâu.

(Thực tế, căn bệnh nan y này làm xấu đi sức khỏe tâm thần, nên bệnh nhân ung thư cần được lượng giá nghiêm túc; việc kết hợp giữa điều trị ung thư và trị liệu tâm lý chứng thực hiệu quả ấn tượng; dĩ nhiên, người bệnh cũng cần sự hỗ trợ từ gia đình, bạn bè và tôn giáo, bởi chí ít thì qua điều tra,
90% các bệnh nhân ung thư tin sự hồi phục là nhờ lòng thành.)

Một ngày sắp kết thúc, mệt nhọc thể lý rõ ràng. Đêm khuya thấu lạnh.

Dù sao, vẫn còn hy vọng và cơ hội; vì "mai là một ngày khác" (lời nhân vật
Scarlett O'Hara trong bộ film Cuốn theo chiều gió.)


Phòng vệ là cơ chế tâm lý thao tác nhằm tạo lập thế cân bằng, khi người ta cảm thấy mất kiểm soát cảm xúc từ sự xung đột hoặc tổn thương.

Là việc diễn ra suốt đời của tất cả chúng sinh; khiến ai đó quyết định lập Công ty để thoát nỗi nhục nghèo đói; là nụ cười thầm đắc thắng miên man; cơn đau cổ dai dẳng, hoặc bị hành hạ bởi chứng đau đầu không rõ nguyên nhân,...

Nếu muốn tìm hiểu chi tiết, cụ thể thêm về phòng vệ, bạn có thể đọc ở đây.

[ảnh: Vietimes]

Không phải lạ lùng sao khi mà tâm ta không thể ở yên lâu hơn vài phút mà không bị xao lãng?

Nó quá hiếu động và lơ đãng đến nỗi thỉnh thoảng tôi nghĩ rằng, sống trong một thành phố hiện đại là ta đã giống những linh hồn đau khổ trong trạng thái trung gian sau khi chết., lúc mà tâm được mô tả là "đứng ngồi không yên" một cách khổ sở.

Ta bị chia cắt thành quá nhiều phương tiện khác nhau. Ta không biết mình thật sự là ai, hay ta nên hợp nhất mình với phương tiện nào của bản thân mình hoặc nên tin tưởng cái gì. Vì có quá nhiều giọng nói, lời kêu gọi và cảm xúc trái ngược tranh đấu giành quyền kiểm soát đời sống bên trong đến nỗi ta nhận thấy mình bị phân tán ở mọi nơi, mọi hướng.

Lúc đó, thiền định sẽ mang tâm về nhà.

[Rinpoche, Soyal. (2006). Mỗi ngày trầm tư về sinh tử. Thế Hùng dịch. Hà Nội: Nxb. Tôn giáo, tr.168]
Đời sống sẽ chẳng còn gì hay ho và thú vị, khi không có một căng thẳng (stress) nào hết.

Theo tài liệu của Mayo Clinic, đáp ứng căng thẳng- còn được biết như đáp ứng chống chọi hay bỏ chạy- xảy ra một cách tự động và nhanh chóng khi con người cảm thấy bị đe dọa.

Đáp ứng thể lý có thể làm tăng thêm sức mạnh và sự nhanh nhẹn, thời gian phản ứng nhanh hơn, và nhịp tim rồi huyết áp cũng vọt lên.

Xét từ góc độ lịch sử, đáp ứng này quan trọng cho sự sống còn. Song các yếu tố gây căng thẳng ngày nay, như công việc, quan hệ hay tài chính, lại thường có khuynh hướng kéo dài ra và chất thành đống.

Hậu quả, xem chừng là đáp ứng chống chọi hay bỏ chạy đã hoạt động quá lâu để rồi dễ gây nên hiệu ứng tiêu cực cho sức khỏe như lắm nỗi phiền muộn tiêu hóa: hết đau dạ dày là đến ỉa chảy, lo hãi, cáu gắt, mất ngủ và trầm cảm,...

Thường, vào những lúc căng thẳng không phải ai cũng đủ khả năng để nhớ về hình ảnh tuổi thơ. Rằng bạn đang ở nhà, ba mẹ bạn la mắng, hét ỏm tỏi vì mấy cái trò đùa nghịch ồn ào của lũ con cái.

Có thể, bạn từng cảm thấy thái độ đó của bậc sinh thành thật mang hơi hướng bạo lực. Song giờ đây, bạn nhớ về quãng đời ấy như một cái gì mình phải tất yếu trải qua-- trong khổ đau và hoan lạc.

Và dĩ nhiên, đó là câu chuyện về sự hợp nhất giữa thân xác và tâm trí, cũng như những hệ lụy do tiến trình thiếu kết nối giữa chúng mà giờ đây người trưởng thành đang phải gánh chịu.

Đó là chủ đề dành chia sẻ trong một dịp thích đáng khác.

Bởi vì lúc này, đơn giản chúng ta đang ở nhà.

(ảnh: NYT)

Một bài báo đáng đọc, nếu ta muốn dành thời gian và tâm trí làm hòa với chính bản thân mình:

Cái thói đến lượt mình lại đi gây hấn tiếp (redirected aggression) [chuyển nỗi đau từ một nạn nhân này sang một nạn nhân khác] không đơn giản khởi phát bởi thứ gì thậm phi lý hoặc thuộc tính bẩn thỉu của con người, mà nó-- kéo theo sự trả đũa và lòng thù hận-- thâm căn cố đế trong tận cùng kết cấu của thế giới tự nhiên rồi, là diễn tiến đáp ứng tất yếu với nỗi đớn đau.

Cách thức tồn tại lâu dài về mặt sinh học của thói tiếp tục gây hấn không chỉ lý giải sự vô nghĩa rõ ràng mà còn cả tính phổ quát của nó nữa.

Chuyện này phơi bày qua bao thời đại-- như chúng ta đã và đang chứng kiến--, xuyên suốt các nền văn hóa, các đơn vị xã hội, ở các cá nhân và hiển hiện nơi các cộng đồng, các quốc gia.

......


Gần đây, các nhà sinh lý học đã khám phá ra cơ sở
hormone của hành vi này. Cả động vật lẫn con người đều trải nghiệm sự đe dọa, bị tấn công do việc "hạ thấp tầm quan trọng của stress"; kết cục, tăng hormone adrenaline, cùng với huyết áp cao và viêm loét lan rộng là chắc chắn.

Chưa hết, điều này mới chính yếu: khi được dịp "trả thù" ai đó khác thì các nạn nhân không hề thấy một dấu hiệu căng thẳng (stress) nào.


Chuyển dọc nỗi đau đớn của bản thân, các nạn nhân định hình mối ưu phiền nội tại riêng có, đồng thời tạo nên rắc rối cho những nạn nhân kế tiếp xếp phía sau hàng.

Nghĩ mà xem-- nhà sinh học Robert Sapolsky đề nghị-- về kẻ không hề mắc phải loét nhưng mặt khác lại gây ra các vết loét!



Nắm xôi dường như cũng đã khác theo mùa.

Khi tinh mơ còn dịu nhẹ mặt người, không gian sực mùi nhún thuận, đẹp và cụ thể.

Nắm xôi sáng thu này không màu mè "hị hị", "ha ha", "hê hê", "hơ hơ", hoặc hay ho chêm vào thập cẩm ký cảm điểm tô ý tưởng. Tự nó đã đảm bảo đủ đầy thực tế sống động.

Bất luận cá thể nào đều luôn sẵn có cái gì đấy để chia sẻ, cho đi: "Phú ông xin đổi nắm xôi... Bườm cười."

Gói vào lá chuối, bọc ngoài bằng nilon, đựng ở bát, để nguyên trên nồi chõ,... thì rốt cục ăn xôi vốn chỉ nhón tay bốc từng miếng mới đúng điệu; sành hơn nữa, cứ tình ngay mà ngắt véo, vân vê, thong thả nhai nuốt,... cốt sao hài hoà giữa hạt ngọc của đất đai với vị mặn mà, thô mộc của trời bể.

Rồi ra mọi thứ thơm thảo dần được thẩm thấu tận đáy sâu dạ dày; nhờ thế, sự biết ơn chắc chắn không thể phù du, hư ảo, nhợt nhạt bề nổi.

Vaswani, J.P. bảo, sự đói khổ cùng cực của thế giới hiện thời là thiếu vắng tình yêu; cả đàn ông lẫn đàn bà đều không mấy hạnh phúc, dù lắm đồ dùng, tiện nghi hiện đại. Mong mỏi thảm hại của mỗi người chúng ta là tình yêu; thứ tình yêu chân thực, không vị kỷ; một tình yêu bày tỏ bản thân qua các hành động phục vụ và hy sinh.

Tôi muốn bổ sung ngắn gọn: căng thẳng, bất an.

Thực tế thì việc học hỏi đã trở thành tiêu điểm xem xét của tâm lý học ngay từ các phòng thực nghiệm đầu tiên vào những năm 1800. Kể từ đó, một mục tiêu quan trọng của nghiên cứu tâm lý học là mô tả cách thức đạt được và lưu giữ thông tin thiết yếu cho sự sống còn.

Ngoài lựa chọn tự mình trải nghiệm, may mắn thay, người ta còn có thể học hỏi nhờ quan sát người khác (làm thay); chẳng hạn, nếu muốn biết vật này nóng như thế nào, mình thường: a) chạm tay vào nó; b) xem người khác sờ vào nó.

Và con đường nhẹ nhàng, dễ dãi hơn được thực hiện trong não, thông qua quyết định của hệ thống thuỳ trán trước trung gian (mPFC)-- vùng có gắn bó chặt chẽ với năng lực hiểu biết hành vi người khác-- biểu hiện cho những gì họ đang cảm nhận, suy nghĩ; đóng vai trò chủ chốt trong học hỏi xã hội.

Nghiên cứu gần đây của Olsson & Phelps chỉ ra: việc học hỏi thông qua quan sát có thể là tiến trình nhận thức xã hội phức tạp-- song song với dạng quyền năng học hỏi cơ bản hơn ở cả người và động vật của amygdala (xem tìm hiểu của LeDoux).

Từ bối cảnh lâm sàng, nghiên cứu trên gợi nhiều ứng dụng: khám phá những thiếu hụt của hình thức học hỏi qua quan sát (chẳng hạn, có hay không và bằng cách nào mà sự thiếu hụt năng lực quy vào các trạng thái tinh thần-- như với hội chứng Asperger và tự kỷ); phương thức học hỏi nhờ quan sát có tuơng tự nhau giữa con người và các giống loài khác,...

Cần nhớ, các nhà trị liệu hành vi cũng đã cho thấy tầm quan trọng của việc học hỏi nhờ quan sát người khác so với điều kiện hoá cổ điển và điều kiện hoá công cụ: chúng ta hiểu những điều mang tính thao tác như mô hình củng cố hoặc phạt lỗi, chú ý tới mô hình, áp dụng mô hình tương tự của người quan sát; rằng, nỗi sợ có thể bị "bỏ lỡ" nhờ học hỏi qua quan sát (ví dụ, nghiên cứu của Albert Bandura về ám sợ rắn chẳng hạn).

... Nắm xôi An bình trong thực đơn điểm tâm. Cuộc sống bận rộn và những lo toan thường nhật khiến người đời nhiều lần không thực sự đủ thời gian, tâm trí thậm chí chỉ để ăn một nắm xôi thật ngon lành.

Trái với tưởng nghĩ lâu nay, sự giảm sút, thiếu hụt sức chú ý không khoanh vùng riêng cho đối tượng trẻ em; chủ đề này ở người lớn không thể bị lờ đi nữa, bởi tác động của nó ngày càng lan rộng hơn rất nhiều so với nghiên cứu trước đây, chí ít do tính dai dẳng của các vấn đề thuộc chức năng và hành vi của người trưởng thành.

Mức độ phổ biến và các tương quan của hội chứng tăng động, giảm chú ý ở người lớn là rất đáng quan tâm. Bây giờ, hầu như bất cứ ai đều có thể biết một người bạn, đồng nghiệp hoặc thành viên trong gia đình mình phải chịu đựng vài ba dấu hiệu, triệu chứng liên quan đến ADHD của người lớn.

Các cá nhân này dễ quên; quen thói để đầu óc "ngoài vùng phủ sóng" suốt thời gian trò chuyện; đi làm hoặc đến điểm hẹn muộn giờ; thường bị đánh giá là "kẻ cách biệt và kiêu ngạo, hoặc lắm lời đến phát chán"; hay gặp trục trặc lúc khởi sự hoặc vào thời điểm kết thúc công việc được giao; thiếu khả năng tự mình hoàn thành nhiệm vụ.

Sống với tính khí lãng quên trẻ con, các cá nhân này thường duy trì những tiêu chuẩn cực cao về tự đánh giá bản thân, và thể hiện một sự hụt hẫng triền miên với tri nhận thiếu hụt năng lực vượt thoát của chính bản thân.

... Xúm quanh thúng xôi nóng hổi đầu con hẻm nhỏ thấy cả người già lẫn em bé, phụ nữ và đàn ông, học sinh và công chức, với vô vàn sắc thái hành vi: ngồi trên xe máy thúc giục, đảo mắt liên tục chờ đến lượt, huơ huơ tiền giấy trong tay, cắm cúi mặt thinh lặng xúc xôi, ồn ào pha trò, rung chân lia lịa cùng cái miệng tóp tép, khép nép dạt vào góc,...

Nguyên nhân dẫn đến ADHD gồm cả yếu tố sinh học và môi trường; trong đó, nghiên cứu dinh dưỡng phát hiện liên hệ giữa các chất thêm vào thực phẩm và hội chứng ADHD, đặc biệt là vai trò của những phụ gia trong các loại đồ uống nhẹ, không cồn.

Hà Nội, nắm xôi một sáng thu này. Mưa vội vàng rơi và ngày dần chuyển khẩn trương trên khuôn mặt người che kín đang thay thế không gian sực mùi nhún thuận, đẹp và cụ thể.


http://www.perio.org/consumer/graphics/toothdiagram.gif
"Cái răng, cái tóc là gốc con người"; khiếp, ai chia tay ai về nhà ngồi nhớ nhung xao xuyến "hàm răng mình cười" ở đâu không tỏ không tường, chứ ta đây thì khó quên mỗi bận đau nhức buốt đến tận óc...

Biết răng là khôn, răng là dại; tưởng chỉ có nỗi khổ kêu thấu trời thấu đất, nào ngờ câu chuyện về răng thật da diết, dây dưa khởi sự từ thuở bé tí cơ: căng thẳng (stress) tuổi nhỏ có thể gây trở ngại cho việc phát triển răng, đến mức là trải nghiệm sang chấn sẽ để lại một đường dễ nhận ra trên men răng như dấu chỉ của sang chấn quá khứ.

Nghiên cứu sử dụng các đường nổi trên men răng này để so sánh số lượng trải nghiệm sang chấn thời trẻ thơ ở người được chẩn đoán tâm thần phân liệt và nhóm đối chứng khoẻ mạnh.

Tâm thần phân liệt vốn bị gán cho nguyên nhân phần lớn bởi các yếu tố di truyền, song thập niên gần đây, nhiều công trình đã chứng tỏ sang chấn thời thơ ấu góp phần, tạo cơ hội phát triển rối loạn này.

[Báo chí đưa tin, 90% người Việt Nam bị sâu răng vĩnh viễn; rồi theo thống kê mới nhất, số người mắc bệnh về răng miệng ngày càng tăng.]

Răng cỏ, như biểu tượng tiêu cực ghê rợn gắn với cái hộp sọ, đầu lâu người chết; vì thế chăng mà lắm kẻ nằm mộng thấy răng hay tỏ ra bứt rứt, gặp xui xẻo, buồn bực?

"Răng"; tiếng địa phương miền Trung, xứ Huế thường mang nghĩa "làm sao, như thế nào". Tình hình là "mô tê" chi chưa rõ, chứ thực tế đã có người hoài cố hương, ngóng trông về quê cha bằng dẫn giải học Anh ngữ qua những từ "Huế chay " như "rứa" đó:

... Những điều vừa thấy giải thích tại sao răng, rạng, ngời, sáng có nghĩa là sao trong Việt ngữ (răng rứa = sao rứa), bởi vì sao cũng có nghĩa là sáng, là ngời. Sao là vật sáng trên trời đêm. Sao tiếng cổ Việt gọi là sáng, ta thấy sao đi đôi với sáng như sao sáng, sáng sao (Một ông sao sáng hai ông sáng sao…). Theo duy âm, sao là nàng sáng, theo duy dương sao là ông sáng. Anh ngữ star, sao có s(t)ar = sáng. Và ta cũng giải thích được tại sao về phương diện biến âm ta thấy, theo biến âm s = h như sói = hói, Việt ngữ sao = /hao/ = Anh ngữ how. Sao là sáng là ngời và how liên hệ với Phạn ngữ ka là kẻ là người, là ngời nên how là sao, vì thế how biến âm với sao.

Trước đây có người nghe tôi nói how liên hệ với Việt ngữ sao cho rằng tôi nói chuyện không tưởng, nhưng ở đây rõ như ban ngày, nếu so sánh hai phương trình:

. sao = sáng = Phạn ngữ ka, ánh sáng (càn), ngời.

. how = hwá, who = ka =người, ngời, sáng.

thì hiển nhiên how = sao.

How là sao là sáng là rạng là răng.

Cuối cùng how liên hệ với who, kẻ, người, ai thì răng phải liên hệ với người. Như đã thấy răng liên hệ với Mã Lai ngữ orang là người. Ta cũng thấy răng liên hệ với lang, lạng, lạn, láng có nghĩa là sáng như sáng lạng, sáng láng, lang là trắng (như chứng lang da), là ánh sáng, là mặt trời, lang là chàng là đực là dương là mặt trời. Các Lang là những Chàng Ánh Sáng, Mặt Trời. Các Vua Hùng là những Vua Mặt Trời (di duệ của Đế Minh, cháu ba đời của Thần Mặt Trời Viêm Đế). Người của Đại tộc lang Hùng gọi là lang và có chỗ ở gọi là làng (người Mường gọi nhà làng là nhà lang). Lang với nghĩa là Người ruột thịt với Mã ngữ orang (r=l, phát âm kiểu Trung Hoa). Như thế răng liên hệ với lang có nghĩa là người, với Mã ngữ orang, người. Ngoài ra răng cũng có thể với Quan thoại ren là người...

Ngôn ngữ học là chuyên ngành khó; muốn thẩm định, cần trình độ học thuật trong giới. Đọc thấy ngồ ngộ, là lạ, thú vị và đáng trân trọng một tấm lòng; thậm chí, xem chừng đó là cái nhìn sáng suốt; "răng" không?!

Và nếu hứng chí, bạn có thể ngậm vui miệng cây kẹo mút mang hình ông tổ Phân tâm học Sigmund Freud nè...

(A Beautiful Mind- film đã từng được trình chiếu và dễ tìm thấy đĩa VCD tại Việt Nam- dựa trên câu chuyện có thật, giải thích rất hay bệnh lý Tâm thần phân liệt.)

@ Một nghiên cứu
năm ngoái của Đại học Maastricht (Hà Lan) chứng thực mối tương quan giữa đời sống chốn thị thành với việc phát triển các triệu chứng loạn thần, làm tăng cao hơn nguy cơ mắc bệnh Tâm thần phân liệt (TTPL).

Các
nghiên cứu trước đó của cùng nhóm tác giả trên khẳng định rằng, tỷ lệ TTPL cao hơn trong dân cư đô thị có thể giải thích bởi mức căng thẳng (stress) nhiều, kết hợp tính dễ nhạy cảm với stres ở người trẻ tuổi phát triển bệnh TTPL; ngoài ra, nhóm nghiên cứu còn cho thấy tại những khu dân cư đô thị tỷ lệ lây nhiễm cao hơn.

Một số nghiên cứu
khác cũng tìm ra mối tương quan dương giữa đời sống nông thôn với tỷ lệ thấp hơn người mắc TTPL.

Như vậy, các yếu tố môi trường và sinh học có thể liên quan đến sự phát triển bệnh TTPL. Gợi ý hữu ích cho công tác điều trị là các biện pháp hướng đến giải quyết sự căng thẳng do các yếu tố môi trường.

@ Thời gian qua, trên website
Schizophrenia.com đã đăng tải báo cáo đặc biệt dài 20 trang về người hút thuốc lá và bệnh TTPL.

Theo đó, nghiên cứu xác quyết rằng ngày càng tăng dần tỷ lệ người hút thuốc lá mắc các rối loạn não bộ, bởi vì chất nicotine đem lại cho họ đôi chút ích lợi trong việc giảm thiểu một triệu chứng hay gặp là suy giảm năng lực nhận thức.

Báo cáo này cung cấp thông tin về các tác động cả tiêu cực lẫn tích cực của nicotine đối với bệnh TTPL; tổng quan các nghiên cứu đương đại lý giải tại sao đối tượng mắc TTPL và các rối loạn lưỡng cực dễ có xu hướng hút thuốc lá; giới thiệu cách thay thế chất nicotine và nguồn từ bỏ việc hút thuốc lá.

@ Một
bài báo gần đây kể câu chuyện người mắc TTPL ngày nay được quyền chọn lựa và vướng phải vài hạn chế ra sao.

Thực tế, nhờ sử dụng các loại thuốc chống loạn thần (như Ryprexa và Risperdal) và tiến trình trị liệu tâm lý hợp lý, những người mắc TTPL có nhiều cơ hội sống đời độc lập và năng sản.

Trông ra thiên hạ, ngẫm về nước ta. Buồn thay là tại Việt Nam- bất chấp những tiến bộ khoa học và công nghệ- hiện còn có không ít người mắc TTPL vẫn chưa được hưởng thụ chế độ điều trị hiệu quả và tích cực nhất-- chí ít bởi giá cả thuốc men và sự thiếu quan tâm thích đáng của người thân.

Thực trạng đau lòng dường như còn lâu lắm mới cải thiện nổi: người mắc TTPL thường bị hắt hủi, xa lánh, thất nghiệp, xem như đồ bỏ đi, dễ trở thành kẻ lang thang đầu đường xó chợ, vô gia cư, hay luôn cần người nhà chăm nom, hoặc bắt buộc vào sống trong các trung tâm, cộng đồng để được bảo vệ, hỗ trợ và rồi có thể giã từ thế giới một cách êm thấm.

Hôm nay, báo Tuổi trẻ đưa tin, Tòa án Nhân dân tỉnh Thừa Thiên-Huế bắt đầu xét xử vụ tai nạn tàu E1 tại Lăng Cô hồi tháng 3 năm 2005 làm chết 11 người và bị thương 86 người, thiệt hại tài sản trên 6,2 tỷ đồng.

Tôi có quen một giáo viên là Thạc sĩ Ngữ văn dạy tại một trường chuyên PTTH đã thoát chết trong vụ lật tàu nói trên, có những biểu hiện của rối loạn stress sau sang chấn (PTSD: Post-Traumatic Stress Disorder). Điều nghịch lý trêu ngươi là căn bệnh tâm thần này lại ít được cộng đồng biết đến.


Song thiết nghĩ, trước khi đề cập đến PTSD, có lẽ cần giới thiệu về cái từ có nguồn gốc nước ngoài là Stress dường như đầy ma thuật tới độ mà chẳng mấy chốc đã thu hút đa số người Việt Nam, và để lại dấu ấn không thể nào quên trong ký ức.

Chúng tôi hiểu stress là “phản ứng của con người trước các sự kiện đang đe dọa hay thách thức họ.” [Robert S. Feldman. (1997). Essentials of Understanding Psychology. (3rd edn). USA: The McGraw-Hill Companies, Inc., pp.307-315].

Có thể nói không ngoa rằng, cuộc đời đầy rẫy những hoàn cảnh hay sự kiện, được xem là các nhân tố gây nên áp lực căng thẳng/ stressor rình rập, đe dọa sinh mệnh chúng ta.

Thậm chí, những sự kiện vui thú như lập kế hoạch cho một bữa tiệc hay khởi sự một công việc mong chờ bấy lâu, cũng có thể tạo nên stress, dù cho những sự kiện tiêu cực thì để lại hậu quả bất lợi hơn so với sự kiện tích cực. (Sarason, Johnson, & Siegel, 1978; Brown & McGill, 1989).

Tất cả, không loại trừ một ai, đều phải đối mặt với stress. Một số nhà tâm lý học y học/ health psychologist tin là đời sống hàng ngày thực sự gồm một chuỗi liên tục lặp đi lặp lại các cảm nhận đe dọa, cân nhắc cách thức ứng phó, và sau rốt thì thích ứng ít hoặt nhiều thành công với các mối đe dọa đó. (Gatchel & Baum, 1983).

Lúc bình thường, sự thích ứng luôn thứ yếu và xảy ra mà chúng ta không để ý. Nhưng trong những trường hợp mà stress diễn ra nghiêm trọng và kéo dài thì sự thích ứng đòi hỏi nỗ lực lớn lao, có thể gây nên những biến đổi tâm sinh lý để rồi làm phát sinh vấn đề cho sức khỏe của chúng ta.

Stress” là một thuật ngữ có liên quan đến rất nhiều khái niệm và thao tác khác nhau (Appley & Trumbull, 1967; Dodge & Martin, 1970; Hinkle, 1973; Janis, 1958; Lazarus, 1966; Levine & Scotch, 1970; Moss, 1973; McGrath, 1970).

Đối với một số nhà nghiên cứu, stress là một kích thích đôi khi ít hoặc nhiều phức tạp; với những người khác, thì nó là một trạng thái quấy nhiễu nội tâm; và một số khác nữa thì cho rằng nó là đáp ứng có thể quan sát được đối với một tình huống hay kích thích. [Barbara S. Dohrenwend & Bruce P. Dohrenwend. (eds). (1974). Stressful Life Events: Their Nature and Effects. USA: John Wiley & Sons, Inc., pp.1-5].

Do vậy, việc sử dụng thuật ngữ stress, ở khía cạnh nào đó, mang tính liều mạng, may rủi. Trong nghiên cứu, người ta có thể chia sẻ hai mối quan tâm chính:

1. Tập trung chủ yếu vào một loại tình huống hay kích thích gây stress đối với người bị phơi nhiễm/ expose thuộc phạm vi nhỏ hay lớn trong tiến trình đời sống tự nhiên. Các kích thích hoặc tình huống này, gọi là “biến cố/ life event”, bao gồm trải nghiệm kết hôn, sinh con, ly dị và cái chết của một người thân yêu.

2. Giả định rằng, các biến cố gây stress giữ một vai trò trong bệnh căn/ etiology của các rối loạn tâm thể và tâm thần khác nhau; được thể hiện qua các cách tiếp cận lâm sàng và thực nghiệm.

Người đặt nền móng cho việc nghiên cứu thực nghiệm tương đốii có hệ thống về những ảnh hưởng của stress là Walter Cannon- nhà sinh lý học trường Harvard qua các quan sát chi tiết của ông (1927) về sự thay đổi của cơ thể khi bị đau đớn, đói và một số cảm xúc căn bản khác.

Kế tục xứng đáng,vào những năm 1930, Adolf Meyer- người đứng đầu chuyên khoa Tâm thần lâm sàng của Bệnh viện Johns Hopkins (Hoa Kỳ), đã đề xuất ra biểu đồ đời người/ life chart làm công cụ chẩn đoán y khoa.

Như Hans Selye (1956) lưu ý: stress là chuyện bình thường ở đời; nó là một phần tất yếu nảy sinh trong các họat động của con người chúng ta. Điều đáng nói là cái giá cao phải trả có thể gây thiệt hai bằng nhiều cách, tạo nên vô số hậu quả tâm sinh lý.

Đáp ứng tức thì mang tính sinh lý, sự phơi nhiễm đối với stress làm tăng một số hormone của tuyến thượng thận/ adrenal glands, tim đập nhanh và huyết áp lên, những chuyển biến rõ rệt về mức độ truyền xung điện ở da. (Mason, 1975; Selye, 1976).

Trên cơ sở ngắn hạn, những đáp ứng này có thể thích nghi được vì chúng sinh ra “đáp ứng khẩn cấp” do cơ thể chúng ta tự mình chuẩn bị phòng vệ bằng hoạt động của hệ thần kinh giao cảm/ sympathetic nervous system; những đáp ứng này cho phép chúng ta đối phó hiệu quả hơn với tình huống stress.

Mặc dù vậy, sự phơi nhiễm không ngừng đối với stress làm giảm sút toàn bộ chức năng sinh học của cơ thể (vì hormone tiết ra liên tục).

Qua thời gian, các phản ứng căng thẳng có thể thúc đẩy sự suy yếu của các mô, như mạch máu và tim chẳng hạn. Kết cục, chúng ta dễ nhiễm bệnh hơn khi sự đề kháng vi trùng bị giảm sút. (Kiecolt-Glaser& Glaser, 1986; Schneiderman, 1983; Cohen, Tyrrell, & Smith, 1993).

Ngoài những trục trặc sức khỏe trầm trọng, nhiều cơn đau nhức nhỏ hơn có thể là nguyên nhân hoặc trở nên tồi tệ hơn do stress: đau lưng, tim, da nổi mụn, khó tiêu, mệt mỏi và táo bón, thậm chí, liên quan đến cảm cúm thông thường nữa. (Brown, 1984; Cohen, Tyrrell, & Smith, 1993).

Còn có thể kể thêm các rối loạn tâm thể do stress. Các rối loạn này tạo nên từ sự tương tác của các trục trặc tâm lý, cảm xúc và sinh lý; phổ biến nhất là loét/ ulcer, hen suyễn/ asthma, viêm khớp/ arthitis, huyết áp cao/ high blood pressure và eczema. (Shorter, 1991). Thực tế thì rất có thể những tấn công của bất kỳ chứng bệnh chủ yếu nào cũng đều liên quan đến số lượng và kiểu loại sự kiện gây stress mà người ta trải qua.

Từ góc độ tâm lý, cấp stress cao ngăn chặn người ta đối phó một cách thỏa đáng ở đời. Cái nhìn của họ về môi trường sống trở nên u ám. Với các mức stress ghê gớm, đáp ứng xúc cảm thái quá đến độ không thể hành xử gì nổi.

Người phải chịu đựng quá nhiều stress cũng kém khả năng đáp ứng với tác nhân gây stress mới. Nguồn lực để chiến đấu chống lại stress trong tương lai sẽ suy giảm do hậu quả stress của quá khứ. (Echenrode, 1984; Glaser & Kiecolt-Glaser, 1994; Avision & Gotlib, 1994).

Mô hình Hội chứng thích ứng chung (GAD: General Adaptation Syndrome) do lý thuyết gia stress nổi tiếng Hans Selye đề ra đã minh họa sâu sắc về hậu quả của stress. (Selye, 1976). Theo đó, có cùng một tập hợp các phản ứng sinh lý như nhau đối với stress xảy ra bất kể sự khác biệt của các nguyên nhân gây stress.

Mộ hình này có 3 giai đoạn:

- Cảnh báo và linh động/ alarm and mobilization: xảy ra khi con người nhận thấy sự hiện diện của tác nhân gây ra stress;

- Đề kháng/ resistance: tự mình chuẩn bị đối phó với tác nhân gây stress;

- Kiệt sức/ exhaustion: năng lực thích ứng với stressor suy giảm đến điểm chốt xảy ra hậu quả tiêu cực- bệnh thực thể, các triệu chứng tâm lý như mất tập trung, dễ bị kích thích, trong một số trường hợp nghiêm trọng là mất định hướng và nhận thức về thực tại.

Mô hình này, dù vẫn còn được xem là hiểu biết cơ bản về stress, song vì nó quá dựa vào yếu tố sinh lý nên đã không chú ý nhiều đến yếu tố tâm lý.

Về tính chất của các tác nhân gây stress. Có thể là mô hình GAD khó giải thích nổi những gì cấu thành yếu tố gây stress ở một cá nhân cụ thể.

Dù chắc chắn rằng một số loại sự kiện nào đó, như người thân yêu chết hay tham gia chiến trường, là các yếu tố gây stress phổ quát ở mọi nơi, song trong những tình huống khác thì chúng có thể hoặc không thể gây stress đối với một ai đó. (Fleming, Baum, & Singer, 1984; Affeck & al., 1994).

Còn có nhiều chuyện khác ảnh hưởng đến tính khắc nghiệt của stress. Ví dụ, stress cao hơn khi tầm quan trọng và số thành tựu phải đạt được gây mối lo lớn, sự đe dọa trông thấy nhãn tiền hoặc việc dự đoán sự kiện ấy diễn ra lâu dài về sau. (Paterson & Neufeld, 1987).

- Các biến cố chấn động/ cataclysmic events: stressor mạnh, xảy ra đột ngột, ảnh hưởng đến nhiều người một lúc (thảm họa tự nhiên). Stress do các biến cố chấn động được chia sẻ bởi những người cùng cảnh ngộ; cho phép người ta nhận đuợc sự hỗ trợ xã hội và mối cảm thông trực tiếp, kịp thời. (Cumming, 1987; Pennerbake & Harber, 1993).

- Các stressor cá nhân: sự kiện trọng đại trong đời như việc mất người thân trong gia đình, bị đuổi việc,… mà hậu quả tiêu cực tức thời sẽ nguôi ngoai đi theo thời gian. Trong một số trường hợp, tác động stress vẫn còn kéo dài.

- Những tác nhân gây stress nền tảng là các rắc rối hàng ngày như kẹt xe, tạo sự bực bội nho nhỏ nhưng không để lại hiệu quả xấu về sau, trừ khi chúng tiếp diễn hay kết hợp với các tác nhân gây stress khác.

Đó cũng có thể là vấn đề dài hạn, mãn tính: sự bất mãn về trường học hay việc làm, dính vào quan hệ khổ sở, sống trong những nơi đông đúc hạn chế tính riêng tư,… Các trục trặc sức khỏe có liên quan đến các rắc rối hàng ngày: cảm cúm, đau cổ, nhức đầu và đau lưng (DeLongis, Folkman, & Lazarus, 1988; Jones, Brantley, & Gilchrist, 1988; Kohn, Lareniere, & Guevich, 1991).

- Các yếu tố kích thích/uplift: sự kiện tích cực nhỏ nhặt khiến cho người ta cảm thấy thoải mái, dễ chịu. Điều thú vị ở đây là càng trải nghiệm nhiều các yếu tố kích thích thì các triệu chứng tâm lý kể lể về sau càng ít.

Để xử lý stress, chúng ta sử dụng các cơ chế đối phó: nỗ lực để kiểm soát, giảm thiểu hay học hỏi nhằm dung hòa các nguy cơ dẫn đến stress.

Một trong những phương tiện ấy diễn ra ở cõi vô thức, với việc sử dụng các cơ chế phòng vệ/ defense mechanisms [Hope R. Conte & Robert Pluthchik. (eds) (1995). Ego Defenses: Theory and Measurement. USA: John Wiley & Sons, Inc, pp. 239-240]; đây là những chiến lược của cõi vô thức giúp giảm bớt lo âu nhờ cách che đậy những nguồn gây âu lo từ chính bản thân mình và người khác; duy trì sự kiểm soát bản thân và tự đánh giá mình qua việc chối bỏ hay làm lệch đi bản chất nguyên thủy của tình huống.

Đôi khi người ta sử dụng sự cô lập cảm xúc để chấm dứt mọi cảm nhận, tỏ thái độ dửng dưng không bị tác động trước mọi trải nghiệm tích cực hay tiêu cực. Thực tế, cách này chỉ là sự che giấu, không giải quyết vấn đề được.

Người ta sử dụng cách khác, trực tiếp và mang nhiều ý nghĩa tích cực mang tính tiềm năng hơn để đối phó với stress (Aldwin & Revenson, 1987; Compass, 1987; Miller, Brody, & Summerton, 1988).

Nhìn chung, các chiến lược đối phó có thể được chia làm hai loại: đối phó tập trung vào cảm xúc và đối phó tập trung vào giải quyết vấn đề.

Đặc điểm của loại đối phó đầu là điều chỉnh lại nhận thức về cảm xúc (nhìn mặt tươi sáng của vấn đề); loại sau thì kiểm soát các kích thích hoặc tình huống gây stress (lập kế hoạch hành động và áp dụng nó).

Trong số những người đối phó với stress thành công nhất có kiểu người đối phó dũng cảm: một đặc điểm nhân cách có tỷ lệ dính bệnh đến stress hơn, gồm 3 thành phần cơ bản- cam kết/ commitment, thách thức/ chanllenge và kiểm soát/ control. (Kobasa, 1979; Gentry & Kobasa, 1984).

Các nhà nghiên cứu đề nghị một số chiến lược đối phó hiệu quả với stressor như sau:
- Chuyển mối đe dọa thành thách thức;

- Làm cho tình huống đe dọa thành tình huống ít đe dọa hơn;

- Thay đổi mục tiêu cá nhân;

- Thực hiện các hoạt động tay chân, tập thể dục;

- Chuẩn bị cho stress trước khi nó xuất hiện. (Folkman, 1984; Everly, 1989; Holahan & Moos, 1987, 1990).

Rõ ràng, toàn bộ những gì trình bày ở trên, suy cho cùng, đều liên quan đến việc cố gắng tìm hiểu hai trong số những vấn đề trung tâm mà đến nay vẫn còn để ngỏ trên tiến trình nghiên cứu biến cố đời sống gây stress:

- Những thuộc tính và điều kiện nào để phân biệt mức độ nhiều hay ít của các sự kiện gây stress?

- Những sự kiện gây stress để lại hậu quả gì về mặt bệnh học?

Bài đăng cũ hơn Trang chủ