
Thực tế cần quán triệt là, nhà trị liệu (tham vấn) được thân chủ nhìn nhận dưới một ánh sáng khác biệt.
Nhà trị liệu cũng nên nhận ra rằng, các ấn tượng này thuộc vấn đề viễn tượng và ít nhiều khác hẳn thực tế-- so với những gì do chính nhà trị liệu hoặc thân chủ tưởng tượng ra.
Như sự tự hiểu mình của thi sĩ Robert Burns: Thượng Đế cho chúng ta thứ quà tặng nhỏ nhặt nhất để bản thân có khả năng nhìn thấy chúng ta như người khác nhìn thấy.
Về nguyên tắc, tất cả chúng ta đều có món quà đó (dường như ngoại trừ đối tượng mắc Tự kỷ, song đó là một câu chuyện khác).
Trong thực tiễn đời sống, món quà ấy thường chưa được sử dụng hết khả năng, đặc biệt ở bối cảnh phòng trị liệu.
Ta biết rõ, ta chỉ có duy nhất hai bộ áo quần đắp đổi: thân chủ lại nhìn thấy ta trông thật tươi tắn, bảnh bao.
Ta biết rõ là ta đang trọ trong một căn phòng chật hẹp vừa để ngủ, làm việc và tiếp khách. Thân chủ cứ hình dung ta sở hữu một căn hộ riêng rộng rãi.
Ta biết sáng nay vội vàng ta chưa kịp dọn giường và ngăn đựng thức ăn trống rỗng, còn có vài thanh lương khô và gói bánh Ritz. Thân chủ đoán ta là người luôn luôn chu đáo, gọn gàng, ngăn nắp.
Ta biết đêm qua ta tranh cãi gay gắt với một người. Thân chủ nghĩ chắc là ta không bao giờ bị xuống tinh thần.
Việc tiếp xúc hạn chế mà nhà trị liệu có với thân chủ cho phép nhà trị liệu phô ra một hình ảnh xem chừng khó mà nhận ra nổi, thậm chí, thành thật là không thể tin được-- đối với người thân trong gia đình và bạn bè ta.
Tính chuyên nghiệp của nghề trị liệu tâm lý đòi hỏi sự rõ ràng, minh bạch và trạng thái bình tĩnh đến độ dường như không thể đạt tới với ai đó mà cuộc đời đang chịu sự va đập, tan nát tứ bề xung quanh họ.
Thân chủ hiếm khi biết rằng nhà trị liệu có thể chỉ duy trì tâm thế ấy mỗi lần tiếp xúc cùng họ trong một tiếng đồng hồ.
Điều này không phải để nói rằng, nhà trị liệu nên lấy làm khoái trá với thân chủ trước những câu chuyện ngớ ngẩn, lạc lõng và bất tương xứng, thiếu năng lực, có vẻ yếu đuối về mặt xã hội của chính bản thân mình.
Mặt khác, nhà trị liệu cũng chẳng nhất thiết phải làm bộ làm tịch, thu hút sự chú ý của công luận, rồi nhìn bản thân mình cực kỳ xa lạ so với thân chủ.
Những dòng tâm sự bên dưới phản ánh sự khác biệt giữa bộ phận nhân viên văn phòng với thân chủ (toàn bài ở đây):
Tôi là một kẻ thường trú nơi này. Còn ông có quyền nắm giữ ở đây.
Tôi phải nhập viện. Ông vào chỗ mới, thay đổi vị trí.
Tôi có nhiều vấn đề về hành vi. Ông thô lỗ.
Tôi không phải là kẻ dễ nhượng bộ. Ông chẳng hề thích được bảo phải làm gì.
Khi tôi xin phép ông ra ngoài ăn chiều, đó là cuộc đi chơi. Khi ông đề nghị ai đó ra ngoài, đó là cái hẹn.
Tôi không biết có bao nhiêu người đã đọc hồ sơ bệnh án của tôi, thậm chí, tôi còn chẳng biết trong đó viết những gì. Đã một tháng, ông không nói với người bạn thân nhất của ông sau khi cô ấy đọc nhật ký của ông.
Nhân tiện, chúng ta thử tham khảo tài liệu khám phá các trải nghiệm của bệnh nhân thông qua thư tín cá nhân giữa họ với người thân và giám thị trông nom tại Nhà Thương điên Gloucester những năm 1827-1843 (Vương quốc Anh).
Đôi lúc, thật hữu ích để nhà trị liệu tự nhắc nhở bản thân về cách thức ta được nhận biết từ cái nhìn ở chiếc ghế bên kia.

Khi nói tới nhân cách, đa phần các nhà tâm lý học thuận theo định nghĩa "các mẫu hình liên quan thật sâu xa, bền bỉ của những suy tư, cảm xúc và hành vi phân biệt người ta với nhau".
Suốt thời gian dài, các lý thuyết gia cho rằng nhân cách không hề thay đổi dưới bất cứ phương thức ý nghĩa nào, một khi cá nhân đạt tới độ tuổi trưởng thành.
Tuy thế, nghiên cứu gần đây khuyến nghị: nhân cách thay đổi chẳng những ở độ tuổi trưởng thành mà còn cả ở tuổi già nữa.
Hai nhà tâm lý học Brent Roberts & Daniel Mroczek tiến hành xem xét lại tài liệu phản ánh cách chúng ta thay đổi ra sao khi trưởng thành.
Người trung niên dường như đạt điểm số nhất quán cao hơn so với người trưởng thành trẻ ở sự hài lòng, thỏa thuận và sống có lương tâm, chu đáo; song họ lại thấp điểm với chuyện lý giải sự việc ít nhiều vượt trội, phản ứng cảm xúc vững vàng và cởi mở.
Xem ra, sự thay đổi tính hài lòng, thỏa thuận diễn ra ấn tượng nhất khi lớn tuổi hơn, và đáng chú ý sau 50.
Điều cốt yếu cần nhớ, những sự thay đổi nhìn chung xảy đến trong nhân cách với hầu hết người có tuổi là họ dần trở nên niềm nở thân thiện, tự tin, trách nhiệm và bình thản hơn.
Thức nhận rằng nhân cách đổi thay theo suốt tháng năm đời mình thực sự tạo nên nhiều hàm ý lớn lao với mỗi một chúng ta. Không những chỉ quan tâm thay đổi luôn có khả năng diễn ra mà còn cần hiểu biết cách thức diễn ra sự đổi thay nữa.
Với tư cách là một khoa học, tâm lý học phải cung cấp tốt hơn hiểu biết về các trải nghiệm phát triển thực sự tác động tích cực tới nhân cách.
Đã có một vài nghiên cứu cho thấy một mối quan hệ mang tính cam kết thì gắn bó chặt chẽ với các nét nhân cách tích cực như sự nồng nhiệt và vững vàng cảm xúc.
Dưới góc độ cá nhân, thông tin này xác quyết khả năng thay đổi và mỗi ngày chúng ta có thể đưa ra các quyết định giúp bản thân mình hướng tới một con người tốt đẹp hơn.
May mắn thay, tâm lý học cũng có nghiên cứu tỏ lộ nền tảng sinh học của lối suy nghĩ tích cực, cho thấy làm thế nào mà một nhân sinh quan tràn đầy hy vọng lại có thể tác động tích cực tới sức khỏe.
Con người chúng ta vốn là giống loài tích cực mà. Thực tế, các nhà tâm lý học đã thiết lập từ lâu rồi rằng con người ta có xu hướng tích cực một cách không thật hợp lý.
'Định kiến lạc quan'-- như tên gọi-- giải thích sự kiện là chúng ta mong mỏi sống thọ hơn và thành đạt hơn, cũng như khuynh hướng ước tính quá thấp những thứ như bệnh tật hiểm nghèo và ly dị.
Mang bản chất thích nghi, xu thế vừa nêu-- theo tuyên bố của nhiều nhà nghiên cứu-- là quan điểm tích cực thôi thúc chúng ta lập kế hoạch cho tương lai và thậm chí, gây hiệu quả về lâu về dài với sức khỏe thể lý của chúng ta.
Nghiên cứu đăng trên tạp chí Newsweek vừa dẫn đẩy ý tưởng đi xa hơn, rằng cái nhìn lạc quan là một nét nhân cách dựa trên nền tảng thần kinh sâu sắc: khi chụp quét, bộ não của người lạc quan thực sự lóe sáng hoàn toàn khác biệt so với số đối tượng bi quan hơn khi họ nghĩ về các sự kiện tương lai.
Và giờ là lúc thích hợp để trình bày về người lớn tuổi.
Bài báo mô tả các nghiên cứu khẳng định rằng so với nhóm bạn trẻ thì ở người lớn tuổi, sự chú ý trải rộng ra nhiều; chính khả năng này khiến cho người lớn tuổi biết hết sức chính xác hơn hẳn bạn trẻ về một tình huống và thông điệp gián tiếp.
Chẳng hạn, người lớn tuổi phải dành thời gian nhiều hơn để đọc các thông điệp bị làm ngắt quãng bởi những cụm từ ngữ không ngờ nổi, song chính họ lại dễ dàng thành công hơn trong việc buộc phải trả lời các câu hỏi nằm - ngoài - câu - chữ.
Với đời sống thực, điều đó đem lại nhiều thuận lợi cho người lớn tuổi-- nơi mà thông tin rõ ràng không phải luôn luôn được xem là quan trọng hoặc sẽ trở nên quan trọng.
Có lẽ, ý nghĩ thông thường rằng người lớn tuổi thì khôn ngoan hơn xuất phát từ chuyện đối tượng lớn tuổi nắm giữ nhiều thông tin từ một tình huống, và họ có khả năng nối kết nó-- một cách so sánh-- với lượng thông tin phổ quát lớn hơn đã tích lũy được.

Bạn vừa trông thấy rõ ràng rồi đó, đối tượng bi quan chẳng hề thất vọng bao giờ.
Món quà của những người yếm thế: ly uống nước mà người ta có thể khiến cho nó tuyệt đối cạn sạch khi chỉ còn một nửa mà thôi.
Nếu lối nhìn ấy chưa đủ gây ấn tượng nên bạn chẳng kịp nhận ra thông điệp gửi kèm, thì thử cái áo này xem: nó minh họa thật dễ thương nền tảng tâm lý học giấu bên dưới ẩn dụ.
Và đây cũng là suy ngẫm thú vị nghe được từ ai đó: Một người lạc quan sẽ bảo rằng ly nước vẫn còn một nửa, kẻ bi quan than van chỉ còn lại một nửa, và người kỹ sư (làm ra) thì tuyên bố kích cỡ ly nước lớn gấp đôi so với cần thiết.
Phân loại: Đời sống, Mẫu rập khuôn, Ô, Tâm lý học Xã hội, Thuyết Quy kết
(Dân nghèo mua bán ve chai tại phố cổ Hà Nội)
Những năm 80 xưa, mỗi lần radio nhà hàng xóm trong con hẻm nhỏ tại Đà Nẵng phát sóng bài hát đến câu có từ "cơm gạo" ấy (hồi đó, không phải gia đình nào cũng tậu được một cái để đón nghe chương trình Chuỵện Cảnh Giác, hoặc lắng lòng với bản giao hưởng êm dịu song thực sự chẳng hiểu mô tê), là tôi luôn cảm thấy khó chịu.
Chẳng rành rẽ tí ti gì về nhạc lý, một giọng điệu tâm tình khác liên quan tới làn "da em nâu tươi màu suy nghĩ " cũng khiến tôi điên cái đầu; trình độ thẩm âm của bản thân quá kém, thuộc hiện tượng gượng ép ca từ, hay sâu xa hơn, cả hai dẫn chứng nêu trên ám chỉ sự màu mè giả tạo khi khai thác đề tài nông nghiệp, nông dân?
Một loạt bài báo gần đây trên tờ Tuổi trẻ và Sài Gòn Tiếp Thị lại tiếp tục khuấy đảo, ám ảnh tôi khi nghĩ về từ "cơm gạo".
Vết đau hiện tại thật dễ cảm nhận: vượt trên thân phận đói truyền thừa, một nỗi sợ ghê gớm trước những biểu hiện hoành tráng, vĩ mô.
"Cơm gạo" dấp dính đọa đày thêm mớ bòng bong quẩn quanh "cơm- áo- gạo- tiền".
Từ góc độ lý luận, các kiểu dạng ra quyết định bọc sẵn thành kiến-- đã được các nhà kinh tế học hành vi chỉ mặt đặt tên-- vốn vẫn dùng xúc tiến các mục tiêu chính sách công.
Ý tưởng cực kỳ cơm gạo như thế xuất phát từ sự kiện: chúng ta quen thói chọn lấy cho mình một vài thứ tùy ý, dựa trên cách thức chúng được trưng bày.
Thực tế, các siêu thị lớn bé đều biết lợi dụng nó trong đặt để sản phẩm nhằm thu hút tối đa cơ hội thúc đẩy khách hàng mua lắm đồ hiệu đắt giá.
Bài viết trên tờ LA Times vừa dẫn khẳng định, điều này có thể đã được áp dụng với các mục tiêu của chính quyền, chẳng hạn tăng số người không được hưởng tiền trợ cấp, trong khi vẫn duy trì sự tự do lựa chọn mà chẳng cần tỏ lộ dù chỉ đôi chút ý khuyến khích.
Tự hỏi bằng cơ chế thăng hoa ra sao mà dân tộc "đói nghèo trong rơm rạ" chưa thôi đắm đuối mỹ từ "Mộc Miên" gián tiếp trỏ cây gạo tháng Tư phơi đầy dưới thân gốc xù xì xác hoa màu đỏ chói gắt rụng buồn tê tái; ấm áp, no đủ và bình yên trực diện nơi đâu?
24 phút trò chuyện với ông Vương Trí Nhàn
Tri thức hiện đại: Không được tạo "dịch nói xấu người Việt"(Nên dùng "tri thức" hay "trí thức"; "nghiêm trọng" hay "quan trọng" nhỉ?)
Người ta thường nói, đoán cái xấu thì dễ, đoán cái tốt mới khó. Do điều kiện lịch sử, đời sống hiện đại của chúng ta đã sinh ra một lớp người lấy chuyện đoán "cái xấu" ra để làm lớp áo tri thức của mình. Thậm chí có những người còn đi xa hơn bằng cách "làm yếu ớt đi, làm nhạt nhoà đi" chính nguồn cội của mình để mưu danh với thiên hạ.Mấy năm gần đây, trên báo chí xuất hiện mục bàn về “Thói hư, tật xấu của người Việt”, do ông Vương Trí Nhàn thực hiện. Để cho bạn đọc hiểu rõ hơn thực chất của chuyên mục này, phóng viên VieTimes đã trò chuyện cùng với ông Vương Trí Nhàn. Khi phóng viên liên lạc, ông Vương Trí Nhàn rất hồ hởi về những câu hỏi sẽ “phản biện chính xác” những gì ông đã nói. Nhưng tiếc thay, khi cuộc phỏng vấn diễn ra giữa chừng, chính xác là 24 phút, ông Vương Trí Nhàn đã tự ý bỏ về với một câu hỏi rất nghiêm túc và không kém phần nghiêm trọng về văn hóa dân tộc Việt…
Một cuộc dụng công cố tình hạ gục đối thủ, thay cho việc chứng tỏ trình độ dẫn dắt cùng cách đặt câu hỏi tài hoa và thái độ tôn trọng người đối thoại; người trả lời dù gắng hết sức kiềm chế, song rốt cục đã phải bực bõ; còn bạn đọc phản hồi bên dưới thì ngộ nghĩnh, vô lối.
Nói tóm lại: chọt, châm; chỏi, chênh; chã, chán.
Nguồn cơn gây hấn, khởi đi từ phát biểu này và những trích dẫn đây chăng?
Chịu!
Phân loại: Cơ chế phòng vệ, Định kiến, Học vấn, Kỹ năng sống, Mẫu rập khuôn, Ô, Tâm lý học Dân tộc, Thuyết Quy kết, Truyền thông

Như thể tuyệt đối chẳng hề có bất cứ sự kiện gây xôn xao gì vừa xảy ra chưa lâu, một ngày bình thường, yên ả, tí chút hơi lạnh mang mang đêm thu Hà Nội.
Thực tế thì ba, bốn ngày nay-- do Dân trí khơi mào chuyển tải--, 'Vàng Anh'- Hoàng Thùy Linh là từ khóa quyến rũ kiếm tìm thông tin nóng bỏng nhất trên mạng; trở thành chủ đề thu hút công luận cao độ, thể hiện cả sự thuyết phục, 'vận động hành lang' (lobby) dính dấp tiền bạc lẫn quyền lực thật tinh tế và lộ liễu, cũng như thúc đẩy thói tật chửi rủa tràn lan; đồng thời, hình ảnh về cô sinh viên Đại học năm thứ nhất còn tạo ấn tượng rờ rỡ khó phai cho lý thuyết điểm bùng phát (the Tipping point) của Malcolm Gladwell: biểu tượng trào lưu tình dục nước đôi mập mờ của lứa tuổi mới lớn ở đất nước Việt Nam thời kỳ đang phát triển.
@ Nhật ký của Thùy Trâm (Đặng) & 'Vàng Anh'-Thùy Linh (Hoàng) đều được viết vào độ tuổi hoa niên
Dẫu là một sự kiện để lại nhiều hệ quả nặng nề và sâu xa về mặt văn hóa- xã hội, song chắc chắn cỡ chừng một năm nữa thôi thì cả khổ chủ lẫn kẻ gây rối, hoặc bất cứ ai nghĩ mình bị tác động, đều cũng sẽ khó mà nhớ nổi điều gì đang xảy ra ồn ã vào ngày hôm nay với đủ thứ "hỉ, nộ, ái, ố" bám riết cõi lòng đến vậy.
Dư luận xôn xao dòm ngó, tỏ thái độ văng tục cay cú hết sức mê mải, liên tưởng linh hoạt ngay hình ảnh này vụt nhớ tới liền bài thơ nọ, đặt nghi vấn, thử lý giải, đưa ra phán quyết chắc nịch,...
Mỗi thời mỗi khác; quan niệm đạo đức, lối sống riêng- chung; nhân cách và ứng xử văn hóa không hề bất biến mà chuyển dịch thích hợp theo đà quay của lịch sử.
Trong bối cảnh đương đại Việt Nam, thói tật chửi rủa tràn lan trên cộng đồng blogger mạng lưới điểm toàn cầu-- như một chuyên gia chỉ ra-- chứa đựng quyền năng xúc cảm kỳ cục vốn hiện diện ở tất cả ngôn từ cấm đoán thuộc mọi nền văn hóa, có gắn kết sâu thẳm với các bộ phận não cũ của con người.
Chửi rủa không chỉ thu hút mối quan tâm của các nhà khoa học nhận thức vì các ứng dụng đời thường của nó. Thực sự, chửi rủa giữ một nơi chốn đặc biệt trong bộ não do sự tổn thương thần kinh làm ảnh hưởng đến năng lực ngôn ngữ.
Với hầu hết mọi người, ngôn ngữ đa phần nằm ở bán cầu não trái và chính việc phá hủy rộng rãi vùng não này dễ khiến sự thiếu hụt ngôn ngữ trở nên cực kỳ trầm trọng, đủ gây ra tính bất khả cho cả thao tác diễn đạt và hiểu biết ngôn ngữ-- một trạng thái được gọi là "mất ngôn ngữ toàn bộ" ('global aphasia').
Tuy thế, những bệnh nhân mắc chứng thiếu hụt ngôn ngữ trầm trọng này lại có thể chửi tục ghê gớm.Chửi tục xem chừng liên kết nhiều hơn với bán cầu não phải, chủ yếu như những từ thấm đẫm xúc cảm và dựa vào mạng lưới cảm xúc bên phía bán cầu não phải.
Dĩ nhiên, tác giả Pinker chứng tỏ mối quan tâm bao quát của ngôn ngữ; ông chia sẻ không chỉ nền tảng thần kinh của việc chửi tục mà cả vị trí kỳ cục nó nắm giữ trong nền văn hóa, cũng như cho thấy việc chửi tục tỏ lộ tự thân cấu trúc ngôn ngữ:
Khi sử dụng đúng đắn, chửi rủa có thể là sự mô tả vui nhộn, chua cay, huyền hoặc. Hơn bất cứ hình thức ngôn ngữ nào khác, chửi rủa bổ sung năng lực biểu đạt của chúng ta đầy đủ nhất: quyền lực của tổ hợp cú pháp; sức gợi của ẩn dụ; sự khoan khoái thích thú lặp lại phụ âm đầu, cái đo lường và nhịp điệu; và những cách chuyển đổi xúc cảm trong thái độ- có thể nghĩ tới hoặc không ngờ lại tưởng tượng ra được.
Sự chửi rủa xâm nhập toàn diện bộ não: trái và phải, cao và thấp, cũ xưa và mới mẻ. Shakespeare-- không hề xa lạ với vẻ trần tục của ngôn ngữ, đã cho nhân vật Caliban nói về đặc trưng giống người khi mớm lời: 'Anh dạy tôi ngôn ngữ, và tôi biết tai họa như thế nào khi chưa tận dụng được bổ ích của nó.'
(ảnh: Angles's Blog)Quay về vụ việc đang xảy ra, có rất nhiều ví dụ minh họa cho sự chửi rủa: "Nhatkyvanganhthoi"; "Cả nước bên em quanh giường nệm trắng"; "ngây thơ lơ tơ mơ con gà mái mơ"; "Khốn nạn cái thân gái, đã không còn tý hơi sức nào vẫn phải ra màn đóng nốt cái kiếp Kép Tư Bền"; "Vàng Anh: nước mắt đã rơi sau nhiều thứ nước đã rơi trước đó",... Chưa nói, còn có cả vidéo hát rap.
@ Truyền thông- sự thuyết phục tinh tế và cuộc "vận động hành lang" thật lộ liễu
Đột ngột vắng bặt và biến mất tăm hơi hàng loạt tin tức sục sôi liên quan đến nữ diễn viên chính xinh đẹp, ngoan hiền, giỏi giang trong bộ film truyền hình nhiều tập Nhật ký Vàng Anh (NKVA, phần 2) mà "đối tượng NKVA hướng tới là lứa tuổi học trò, cụ thể là học sinh cấp 3."
Là con người, chúng ta tin rằng mình vô tư miễn nhiễm khỏi các dự định rõ ràng trong ý kiến thuyết phục của ai đó với bản thân. Chúng ta cười cợt trước những quảng cáo tào lao, vô lối về xe hơi, dầu gội đầu, xà phòng tắm, đồ ăn thức uống,... trên TV.
Song, câu hỏi vẫn cứ nổi rõ mồn một... Nếu sự thuyết phục không xảy ra được thì tại sao chúng ta lại mắc lỡm ít nhiều vào các quảng cáo thương mại trên TV, nghe lời các nhân viên đại lý, trình dược viên,...?
Bởi vì, không thể chối bỏ là sự thuyết phục ứng hợp, ngay cả khi chúng ta tin rằng mình hoàn toàn miễn nhiễm khỏi tác động của nó.
Một bài báo thú vị về vấn đề thuyết phục và sự "vận động hành lang":
Với chuyện Vàng Anh (chim)-Hoàng Thùy Linh, sự thuyết phục và dàn xếp bên lề có vẻ hướng theo lộ trình kín kẽ kèm kịch bản phân vai thật tinh vi và lộ liễu.Tôi gọi cho GS. Tâm lý Đại học Yale John A. Bargh-- người nghiên cứu ảnh hưởng vô thức lên hành vi-- nhờ xem xét chi tiết vụ yến tiệc của tôi. Liệu ông ấy nghĩ rằng tôi bị khống chế bởi trải nghiệm này? "Tất nhiên, đúng thế;" ông ấy nói. "Cô hầu như đã mắc phải rồi. Và cô có thể không nhận ra điều đó."
Chìa khóa cơ bản trong nghệ thuật thuyết phục tinh tế, GS. Bargh cho hay, là sự 'có qua có lại': cho ai đó một trải nghiệm thú vị hoặc món quà để rồi tự họ cảm thấy trách nhiệm không thể cưỡng nổi trong việc đáp trả ân huệ nhận được.
Tính chuẩn mực của sự 'có qua có lại' tìm thấy ở mọi nền văn hóa, và giá trị của món quà tặng thì không thích đáng: một tách café lại tạo ra hiệu quả tương xứng với một chuyến đi phung phí, ăn chơi nhảy múa.
Một công cụ khác là tạo nên tình bằng hữu và sự gắn bó với nhau-- chắc chắn rằng, một quan hệ sẽ thêm phần củng cố bền vững khi bạn trải qua quãng thời gian thực sự cùng ai đó, đặc biệt ở một nơi xa lạ mà bạn phải phụ thuộc vào họ.
......Emily Pronin, trợ lý GS. Tâm lý học trường Princeton- nghiên cứu vấn đề định kiến trong tâm trí con người-, bảo với tôi rằng, bà ấy và những người khác đã phát hiện thấy rằng, dù chúng ta nhanh chóng nhận ra điểm mù định kiến nơi người khác, song sự định kiến của chính bản thân mình lại hầu như thao tác chủ yếu ở tầng bậc vô thức. Bà Pronin gọi nó là "điểm mù định kiến" ("bias blind spot').
Câu hỏi thực sự là, nếu biết rằng chúng ta đang bị tác động (hoặc ai đó đang gắng tác động đến chúng ta) thì tại sao chúng ta lại không thể đơn giản là hành động chống lại? Tại sao chúng ta phải bị tác động ngay cả khi không hề muốn? Lẽ nào sự tự do ý chí không tồn tại?
@ Yến Vi + Thùy Linh = Vi Thùy Linh ("Em vén áo lên để cho anh tràn tinh khôi và mãnh liệt")
Kinh nghiệm sống mách bảo với mỗi người chúng ta là phải tìm hiểu động cơ, tìm ra lợi ích nào chi phối, ẩn dưới hành vi của ai đó.
Kết cục hành vi, vì thế, là theo tiến trình.
Dư luận mấy ngày qua, có vẻ dễ đi đến điểm tán đồng về tính nhân quả trong những gì Vàng Anh- Hoàng Thùy Linh đang phải gặt hái, đương đầu.
Nhìn từ lý thuyết về "điểm bùng phát" của nhà tâm lý học Malcolm Gladwell đã dẫn trên, ta thấy sự hội tụ minh họa của ba yếu tố căn cốt tạo nên một đại dịch bất kỳ (làn sóng tội phạm, thời trang, tin đồn thổi,...): virus mang mầm bệnh, tác nhân truyền virus, và môi trường phát tán đi kèm.
Tuân theo quy luật từ không đến có, manh nha rất mỏng mảnh, yếu ớt; chất keo kết dính giữa chúng và quyền lực, sức mạnh của hoàn cảnh, môi trường-- ba thành phần này tương tác để tạo ra một đại dịch khá mới mẻ, mang chất cách tân trong đời sống Việt: trào lưu tình dục của tuổi mới lớn.
Những vấn đề gay cấn thuộc lĩnh vực pháp luật, quản lý, tự do ngôn luận và quyền riêng tư dính với blog, cũng như sự tồn tại của vô số sản phẩm film, ảnh, truyện liên quan đến hoạt động tình dục ê hề các kiểu dạng, loại hình trên mạng.
Vàng Anh- Hoàng Thùy Linh, diễn viên chính tỏa sáng bất ngờ, thu hút sự theo dõi hàng đêm của khán giả bộ film truyền hình nhiều tập Nhật ký Vàng Anh phát trên VTV3; được lứa tuổi 8X, 9X rất hâm mộ, đặc biệt là các em học sinh phổ thông, và ít nhiều đã trở thành chân dung, thần tượng của giới trẻ học đường đang trong thời điểm lựa chọn, kiếm tìm một hình mẫu phù hợp.
Và đoạn băng hình làm tình với một người con trai tự quay của Vàng Anh- Thùy Linh tung ra đã thúc đẩy sự việc đạt đến đỉnh điểm; một mặt, nó tức thì làm dư luận chỉ trích gay gắt, bộc lộ nhiều quan điểm đạo đức giả, không ít bạn trẻ đồng trang lứa với Thùy Linh tự xếp mình vào diện thức thời, biết "chia sẻ", kêu gọi "cảm thông, bao dung"; đồng thời mặt khác, nó vô hình trung dấn thêm một bước ngoặt thực sự mạnh mẽ, cổ vũ nhiệt tình cho trào lưu tình dục ở lứa tuổi mới lớn tại Việt Nam.

Lời cuối, đây là phát biểu của Karl Marx trích từ một bài báo triết lý dễ thương:
Hàng hóa đầu tiên được nhìn nhận như cái gì thật vô cùng rõ ràng, nhỏ nhặt.
Song, chính sự phân tích về nó lại chỉ ra một điều cực kỳ lạ lẫm, được tìm thấy trong vô số thứ siêu hình vi tế và thần học những năm của thập niên 90.
Phân loại: Blog, Đạo đức, Định kiến, Giới tính, Khái niệm cái tôi, Mẫu rập khuôn, Não-Thần kinh, Phụ nữ, Quan hệ, Sex, Thời sự, Thuyết Quy kết, Truyền thông
(ảnh: NYT)
Một bài báo đáng đọc, nếu ta muốn dành thời gian và tâm trí làm hòa với chính bản thân mình:
Cái thói đến lượt mình lại đi gây hấn tiếp (redirected aggression) [chuyển nỗi đau từ một nạn nhân này sang một nạn nhân khác] không đơn giản khởi phát bởi thứ gì thậm phi lý hoặc thuộc tính bẩn thỉu của con người, mà nó-- kéo theo sự trả đũa và lòng thù hận-- thâm căn cố đế trong tận cùng kết cấu của thế giới tự nhiên rồi, là diễn tiến đáp ứng tất yếu với nỗi đớn đau.
Cách thức tồn tại lâu dài về mặt sinh học của thói tiếp tục gây hấn không chỉ lý giải sự vô nghĩa rõ ràng mà còn cả tính phổ quát của nó nữa.
Chuyện này phơi bày qua bao thời đại-- như chúng ta đã và đang chứng kiến--, xuyên suốt các nền văn hóa, các đơn vị xã hội, ở các cá nhân và hiển hiện nơi các cộng đồng, các quốc gia.
......
Gần đây, các nhà sinh lý học đã khám phá ra cơ sở hormone của hành vi này. Cả động vật lẫn con người đều trải nghiệm sự đe dọa, bị tấn công do việc "hạ thấp tầm quan trọng của stress"; kết cục, tăng hormone adrenaline, cùng với huyết áp cao và viêm loét lan rộng là chắc chắn.
Chưa hết, điều này mới chính yếu: khi được dịp "trả thù" ai đó khác thì các nạn nhân không hề thấy một dấu hiệu căng thẳng (stress) nào.
Chuyển dọc nỗi đau đớn của bản thân, các nạn nhân định hình mối ưu phiền nội tại riêng có, đồng thời tạo nên rắc rối cho những nạn nhân kế tiếp xếp phía sau hàng.
Nghĩ mà xem-- nhà sinh học Robert Sapolsky đề nghị-- về kẻ không hề mắc phải loét nhưng mặt khác lại gây ra các vết loét!
Phân loại: Đạo đức, Định kiến, Ô, Rối nhiễu, Sợ hãi, Stress, Tâm linh, Tâm lý học Dân tộc, Tâm lý học Xã hội, Thấu cảm, Thuyết Quy kết
Có những lúc con người ta không biết tiêu thời gian cho việc gì, nhưng vẫn phải tiêu. Thời gian là cái không thể không tiêu, và con người đem vung phí nó ở bất cứ đâu một cách tùy tiện, cho đủ loại việc vớ vẩn. Có những người mà thời gian là gánh nặng- họ không biết trút nó đi đâu cả.
(nguồn)
Mới đó đã sang tuần thứ 14, xong quý đầu tiên của năm; ngày đầu tháng Ba trước được đề nghị là dịp nhận biết việc tự làm mình bị tổn thương.
(Self-injury: hành vi chủ ý, không tự sát song cố gây ra thiệt hại thể lý trên thân xác ta, nhằm trút bỏ xúc cảm buồn khổ, đớn đau; với các kiểu thường gặp như cắt chém; đốt, gây bỏng; lóc da thịt; phá vết thương sắp lành; giựt tóc; đánh sưng; cào xước; cấu véo; cắn; làm gãy xương; đập đầu,...)
Ấn bản tháng Tư của tạp chí Scientific American giới thiệu nghiên cứu về hạnh phúc và việc ra quyết định mang tính đạo đức.
Theo đó, tác giả Michael Shermer khẳng định: việc ra quyết định mang tính đạo đức được não thực hiện tương tự nhiều dạng thức khác của việc ra quyết định (decision-making), và nó có khả năng là nét tính cách nhờ đà tiến hoá lâu dài.
(Nói thêm, những ai sống tách biệt với xã hội lại dễ ra các quyết định kém cỏi).
Bài báo kia tiếp tục thu hút sự quan tâm của dư luận đến tâm lý học tích cực (positive psychology), khi tác giả tập trung xem xét mối quan hệ giữa hạnh phúc với những sự thoả mãn bền vững về sau, chứ không chỉ trong giai đoạn ngắn hạn.
(Sau những cuộc rong chơi chẳng biết bao nhiêu buổi chiều trên quê hương tôi, rồi đêm thấy ta là thác đổ đủ để ru ta ngậm ngùi, cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn chợt nghe tiếng bước chân trên đường khuya, cảm thấy ướt mi bởi mưa hồng và như chim ưu phiền cứ mãi tiến thoái lưỡng nan, nên quyết định mỗi ngày tôi chọn một niềm vui.)
Gần đây thôi, tờ Time tin cho biết, bất chấp tỷ lệ ly hôn thì các cuộc hôn nhân vẫn được nhìn nhận rất tích cực; lý giải trên xuất phát từ nghiên cứu rằng, những người độc thân chính là đối tượng bị phân biệt đối xử và rập khuôn một cách tiêu cực:Một dạng thức định kiến len lén lan rộng dưới sự kiểm soát của nền văn hoá và học thuật chúng ta. Người độc thân hướng đích đến chủ nghĩa độc thân (singlism): sự phân biệt đối xử và rập khuôn định kiến tiêu cực.
(Buồn lòng đón tiếng đong đưa- Chong đèn nghe mộng mê chừa xa chưa?- Nửa đêm về sáng còn mưa- Đọng lai láng giọt ai vừa hồi tâm.
So với người đã lập gia đình hoặc có vợ, chồng-- đối tượng thường được mô tả bằng những từ tích cực--, thì những kẻ độc thân bị gán là thiếu chín chắn, chưa trưởng thành, kém thích nghi và lấy mình làm tâm điểm. Dù mức độ tri nhận các khác biệt giữa người có gia đình và kẻ còn độc thân là lớn, thực tế lại không phải như thế.
Hơn nữa, hiện vẫn chưa đánh giá thật đầy đủ việc tồn tại của chủ nghĩa độc thân, và khi tán thành chủ nghĩa độc thân thì nó thường được nhìn nhận là hợp pháp.
Một người bạn vong niên gần 70 tuổi bảo, ông xác nhận thời gian mỗi ngày bằng số ly bia hơi cố định được uống, hàng tuần bằng một lần đi tẩm quất,... còn tôi đã lâu lắm không còn tính đếm tỉ mỉ thời gian, cộng trừ lời lỗ bao nhiêu giờ phút nữa.)
Nói như tác giả cuốn Kỳ lạ thế đấy cuộc đời này (Đaniin Granin, 1986, Đoàn Tử Huyến chuyển Việt ngữ, Hà Nội: Nxb. Văn học, tr.40):
(Có lẽ, thời gian vẫn được phân bố gần như 2000 năm trước, dưới thời Seneca: phần lớn cuộc đời chúng ta tiêu vào những sai lầm và những hành động xấu; một phần khá quan trọng trôi qua trong cảnh ngồi không, và toàn bộ cuộc đời hầu như luôn luôn ở trong tình trạng: chúng ta làm không phải cái cần làm.)
Hạnh phúc; quyết định hành động mang tính đạo đức; độc thân cùng các quan hệ xã hội; thời gian; giá trị cuộc sống.
Tháng Tư chỉ có 30 ngày; duy nhất một lần đi qua thế giới này, và dẫu sao thì vẫn có em bên đời...
Phân loại: Âm nhạc, Đạo đức, Đọc sách, Hạnh phúc, Hôn nhân-gia đình, Kỹ năng sống, Mẫu rập khuôn, Nghiên cứu, Quan hệ, Sức khỏe tâm thần, Thuyết Quy kết
Lý thuyết này lý giải cách thức chúng ta quyết định, dựa trên các mẫu hành vi của một cá nhân, những gì là nguyên nhân riêng có của hành vi ấy.
Khi cố hiểu nguyên nhân làm nảy sinh hành vi nhất định, thường thì đầu tiên cá nhân thử xác định xem nguyên nhân là do cảnh huống hay thuộc khuynh hướng riêng. (Heider, 1958). Nguyên nhân cảnh huống (situational cause, của hành vi) là nguyên nhân xuất phát từ các yếu tố môi trường.
Ví dụ, một ai đó lỡ làm đổ lít sữa nên lau sạch, thì hành động này cơ bản là do hoàn cảnh đòi hỏi, hơn là vì người ấy cực kỳ sạch sẽ. Trái lại, việc một người lau chùi sàn bếp hàng giờ liền chắc chắn là bởi người ấy thích sống ngăn nắp; do vậy, hành vi có nguyên nhân tính tình, thuộc khuynh hướng riêng (dispositional cause) là bởi tính tình người ấy thúc đẩy.
Sự quy kết, bất luận đúng hay sai, thể hiện trách nhiệm của bản thân chúng ta với thực tế khách quan của những gì chúng ta nghĩ, cảm thấy và hành xử.
Một số nghiên cứu chỉ ra rằng, chẳng hạn, chúng ta thường quy kết nhiều phẩm tính nồng ấm hơn, gợi tình hơn và một số nét tính cách đáng thèm muốn khác dành cho người điển trai so với người thô kệch, chất phác.
Lại nữa, những ai đổ lỗi cho những phụ nữ lâm vào tình trạng nghề nghiệp kém và thang bậc lương thấp là do kinh sợ thất bại và thiếu kiên quyết thì đối xử với họ hoàn toàn khác biệt so với người tin rằng nguyên nhân nằm ở sự định kiến của đàn ông, sự thống trị của phái mạnh tại nơi làm việc, và thái độ truyền thống về vai trò phù hợp của người phụ nữ.
Một câu chuyện cười về hiện tượng quy kết. Hai người đàn ông, một theo đạo Tin Lành, một là tín đồ Công giáo, nhìn thấy một linh mục bước vào một nhà thổ. Trong khi người theo đạo Tin Lành mỉa cười chua chát cho thói đạo đức giả của đạo Công giáo thì tín đồ Công giáo lại mỉm cười đầy tự hào về việc linh mục của mình có thể vào bất cứ nơi đâu, thậm chí cả nhà thổ, để cứu rỗi linh hồn một con chiên đang hấp hối.
Với những người thích một ví dụ nghiêm túc hơn, có thể minh họa thuyết quy kết bằng thực nghiệm lần đầu tiên được thực hiện bởi hai sinh viên cũ của nhà tâm lý học theo trường phái Gestalt Kurt Lewin (sáng giá trong nghiên cứu nhân cách và tầm ảnh hưởng rộng trong nghiên cứu động cơ nhóm; là John Thibaut và Henry Riecken.
Nhân tiện, cũng từ cách tiếp cận theo trường phái Gestalt, người ta còn lượng giá ảnh hưởng của khái niệm cái tôi/ self-concept như là hành vi làm tăng trưởng bản ngã (C.Rogers, Client-Centered Therapy, Boston: Houghton Mifflin, 1951).
Thực tế là chúng ta thường không xử lý thông tin về người khác một cách logic, như thuyết quy kết gợi ý. (Funder, 1987; Gillbert, Jones, & Pelham, 1987).
Nghiên cứu chỉ ra một số thành kiến cơ bản khi tiến hành quy kết:
* Lỗi quy kết đặc trưng (fundamental attribution error): xu hướng rất thịnh hành khi quy kết hành vi của người khác là do nguyên nhân tính tình, khuynh hướng riêng và thiếu hụt tương ứng trong việc nhận ra tầm quan trọng của nguyên nhân cảnh huống. (Ross, 1977; Ross & Nisbett, 1991). Khi trình bày hành vi của người khác, chúng ta có khuynh hướng phóng đại tầm quan trọng của các đặc tính cá nhân (nguyên nhân tính tình) và giảm thiểu tác động của môi trường (yếu tố cảnh huống).
* Hiệu ứng vầng hào quang (halo effect): lần đầu tiên được hỗ trợ bởi thực nghiệm do E.L. Thorndike tiến hành, đây là hiện tượng mà trong đó các hiểu biết ban đầu về một người có các nét tính cách tích cực được sử dụng để quy nạp, theo cùng tiêu chuẩn, những nét tính cách tích cực khác. (Cooper, 1991).
Lý do nảy sinh hiệu ứng vầng hào quang, là vì chúng ta bị tác động bởi các thuyết nhân cách ẩn (implicit personality theories): phản ánh quan niệm của chúng ta về một tổ hợp các nét tính cách tìm thấy trong những cá nhân riêng biệt. Các lý thuyết này dựa trên cả kinh nghiệm và logic. Việc áp dụng thuyết này coi chừng là chẳng thích hợp mấy với một tình huống xác định và nó có thể hoàn toàn sai lầm. Đa phần người ta không thuần tiêu cực hay tích cực mà bao gồm cả hai nét tính cách.
Có liên hệ mật thiết với hiệu ứng vầng hào quang là hiệu ứng ma quỷ (devil effect): bằng cách gì đấy mà người ta lượng giá một cá nhân dưới mức, bởi vì niềm tin rằng cá nhân ấy là dưới mức ở một nét tính cách ra vẻ bị chỉ trích. Hiệu ứng vầng hào quang và hiệu ứng ma quỷ thường khuếch trương tầm mức rằng nét tính cách bị đánh giá là mập mờ, khó khăn để đo lường, hoặc nhìn nó như là tập hợp con của một nét tính cách được lượng giá khác.
*Thành kiến giả định tương tự (Assumed-similarity bias): khuynh hướng nghĩ về người khác khi họ giông giống với mình, ngay cả lúc mới lần đầu tiên gặp nhau. (Ros, Greene, & House, 1977; Hoch, 1987; Marks & Miller, 1987). Hầu hết người đời đều tin là bạn bè và người thân của mình thì khá giống với bản thân mình.
Hậu quả là, nếu thực tế người ta khác biệt so với mình thì thành kiến này làm giảm sự chính xác của phán đoán đã tiến hành. Tuy thế, nó lại gợi ra một khả năng thú vị: có thể một đánh giá về kẻ khác xác lập tốt hơn các đặc tính về người đánh giá hơn là đặc tính của kẻ được đánh giá.Trong một số trường hợp, chân dung chúng ta vẽ về kẻ khác- nhất là đối tượng chúng ta có ít thông tin- thực ra có thể là bức phác họa cách thức chúng ta nhìn chính mình.
Tóm lại, thuyết quy kết quan tâm đến cách thức người ta lý giải hoặc quy lỗi về hành vi của những kẻ khác, thành 2 kiểu:
- Quy gán hướng ngoại hoặc quy gán cảnh huống: đổ tại nguyên nhân bên ngoài, như thời tiết chẳng hạn.
- Quy gán hướng nội hoặc quy gán tính tình: nguyên nhân do các yếu tố bên trong con người, như mức độ thông minh hoặc các biến số khác để quy trách nhiệm cá nhân về sự kiện.
Theo Harold Kelley, có 3 phương pháp cơ bản để quy hành động thuộc loại hướng nội hay hướng ngoại: điểm nổi trội (người này hành xử theo cách phù hợp với tình huống xác định hay luôn hành động như thế này?), sự nhất trí (những người khác có nên hành xử như thế trong tình huống tương tự?), và kiên định (nói chung người ta có hành xử theo cách này trong tình huống tương tự thế?).
Được nhà tâm lý học người Áo là Fritz Heider đề ra ngay từ năm 1927, song thuật ngữ quy kết (attribution) chỉ thực sự gây sự chú ý vào những năm 1970 để thay cho sự bất hòa của nhận thức (cognitive dissonance)-chủ đề hàng đầu của tâm lý học xã hội , ám chỉ tiến trình suy ra nguyên nhân của các sự kiện trong đời sống bản thân và hành vi của người khác.
Trong những năm 1980, thuyết quy kết thẩm thấu sâu vào một lĩnh vực rộng hơn là “nhận thức xã hội” (social cognition: những tiến trình làm nền tảng cho hiểu biết của chúng ta về đời sống xã hội); bên trong khung tham chiếu này, nó trở thành khái niệm trung tâm của Tâm lý học Xã hội đương thời, bổ sung giá trị thực sự cho việc giải thích hành vi con người.
Thuyết này cũng đem lại nhiều ứng dụng trong thực tiễn giáo dục (sinh viên nhận lỗi của việc thi rớt là là do chưa chịu cố gắng chứ không phải vì thiếu khả năng), điều trị bệnh trầm cảm (người mắc trầm cảm bị quyến rũ để giảm tối thiểu ý thức trách nhiệm đối với những sự kiện tiêu cực trong đời họ), nâng cao tinh thần thực hiện và động cơ cho người sợ thất bại (họ được dẫn dắt để quy kết nỗi sợ thất bại là do thiếu vắng kỹ năng thực hành hơn là vì những nhược điểm của tính cách), v.v...
-----------
Tài liệu tham khảo:
1. Raymond J. Corsini & Alan J. Auerbach, eds., Concise Encyclopedia of Psychology, USA: John Wiley & Sons, Inc, 2nd edn, 1996, p.398, p.859
2. Robert S. Feldman, Essentials of Understanding Psychology, USA: The McGraw-Hill Companies, Inc., 3rd edn, 1997, pp.474-476
3. Julius Gould & William L. Kolb, eds., A Dictionary of the Social Sciences, compiled under the auspices of UNESCO, 1964, pp.663-665
4. Morton Hunt, The Story of Psychology, New York: Anchor Books, 1994, pp. 427-430
5. Từ điển bách khoa toàn thư mã nguồn mở Wikipedia, mục từ “Social Psychology.”
Phân loại: Nghiên cứu, Tâm lý học Xã hội, Thuyết Quy kết