Hiển thị các bài đăng có nhãn Test. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Test. Hiển thị tất cả bài đăng

Your Mind is Green

Of all the mind types, yours has the most balance.

You are able to see all sides to most problems and are a good problem solver.

You need time to work out your thoughts, but you don't get stuck in bad thinking patterns.

You tend to spend a lot of time thinking about the future, philosophy, and relationships (both personal and intellectual).

[Tâm trí của bạn màu xanh

Tâm trí của bạn thuộc vào loại cân bằng nhất.

Bạn có khả năng nhìn thấy mọi góc cạnh của hầu hết các vấn đề, và bạn là người giỏi giang trong việc giải quyết vấn đề.

Tuy cần thời gian để thấu hiểu lắm suy tư của bản thân, song bạn lại không để mình bị mắc kẹt trong mớ ý nghĩ nặng nề, tồi tệ.

Bạn có xu hướng dành nhiều thời gian để suy tư về tương lai, triết học, và các mối quan hệ (cả riêng tư lẫn trí năng).]

Còn tâm trí của bạn màu gì?


Bà mẹ trẻ cuống lên khi cậu con trai 8 tuổi của mình được một trung tâm chăm sóc và dạy dỗ trẻ tự kỷ tại Hà Nội đánh giá là đối tượng thuộc diện 'lọt khung'.

Nếu cơ sở vừa nêu "tuyên án" chắc nịch sau cuộc gặp gỡ ngắn với trẻ, thì ở một khoa phòng của bệnh viện nổi tiếng khác lại đưa ra phán quyết phủ định- chỉ nhờ tiến hành trắc nghiệm IQ.

Thực trạng nhập nhằng, trái khoáy, đáng quan ngại như trên cho thấy việc hiểu biết thật chính xác chẩn đoán về tự kỷ không hề dễ dàng, chẳng những cực kỳ quan yếu mà còn phải thận trọng; đòi hỏi cả trình độ chuyên môn lẫn đạo đức nghề nghiệp.

Nhìn chung, phổ tự kỷ (autistic spectrum) là tập hợp các triệu chứng, chứ không đơn giản một vấn đề do nguyên nhân duy nhất; thực chất, các rối loạn này bao gồm tự kỷ, cũng như hội chứng AspergerPDD-NOS.

Thực tế, sự tiến bộ trong nghiên cứu một mặt góp phần nâng cao hiệu quả chăm chữa cụ thể, mặt khác trở thành thách thức to lớn đối với việc định danh đúng đắn căn bệnh này, thậm chí, có khả năng thúc đẩy nhu cầu hết sức mạnh mẽ mang tính cách mạng nhằm xem xét lại hiểu biết của chúng ta về tự kỷ-- từ góc độ nhân văn và khoa học.

@ Chẳng hạn, giới chuyên môn khẳng định rằng trẻ mắc tự kỷ dường như 'miễn nhiễm' với việc lây truyền cơn ngáp- có lẽ đây là hậu quả của tiến trình thiếu hụt nhận thức xã hội của trẻ.

Một trong ba khía cạnh cơ bản của hội chứng tự kỷ là sự khó khăn trong tương tác xã hội; hai vấn nạn kia bao gồm các kiểu loại khác nhau của lối suy nghĩ khó hiểu, và hàng dãy biểu hiện kiềm chế hoặc lặp đi lặp lại liên quan đến hành vi.

Không dễ đưa ra câu trả lời giải thích tại sao hiện tượng lây ngáp lại bị giảm thiểu ở đối tượng mắc tự kỷ dù thông thường, các khó khăn gặp phải xét dưới góc độ xã hội của đối tượng tự kỷ vẫn được cho là vấn đề thuộc "lý thuyết tâm trí"-- khả năng hiểu các ước muốn, dự tính và niềm tin của người khác.

@ Nghiên cứu phát hiện thấy: kỹ thuật trị liệu thần kinh (NFB: neurofeedback/ EEG biofeedback
) giúp ích cho các đối tượng có những rối loạn tự kỷ.

Cụ thể hơn, nghiên cứu chỉ ra rằng, kỹ thuật chụp quét não đã được thần kinh học chứng thực-- có thay đổi cho phù hợp trong bộ video game tương tác-- xem chừng hỗ trợ đắc lực việc luyện tập bộ não của trẻ mắc tự kỷ, cốt làm dịu đi rối loạn nặng nề nhất của các chứng hành vi máy giật.

Sự kiện này càng làm tăng thêm hy vọng về khả năng ngăn ngừa từ khía cạnh hành vi và tâm-sinh lý để điều chỉnh mức độ ác liệt của hội chứng phổ tự kỷ.

Việc chụp điện não đồ (EEG: electroencephalogrophy) vốn dùng lâu nay để chẩn đoán và phân tích thực tế các kiểu dạng rối nhiễu thần kinh gây nên chứng bệnh Động kinh, Alzheimer, Tâm thần phân liệt, tổn thương não, v.v....

Vì nguồn gốc vấn đề dính dáng tới sự nối kết thần kinh ẩn bên dưới các trường hợp tự kỷ, nên chuyện chụp EEG trở nên thông dụng và là công cụ chính đối với bệnh nhân.


Cách tiếp cận theo hướng NFB cơ bản cho phép bệnh nhân 'huấn luyện' não bộ mình thông qua việc họ tuân theo chỉ dẫn của công cụ máy tính tựa như video game.

Thành công vang dội trong việc điều trị rối loạn stress sau sang chấn (PTSD) và tăng động- giảm chú ý (ADHD), luyện tập tâm trí nhằm giúp bệnh nhân tránh rơi vào hố vực sâu thẳm của cơn sợ hãi, giờ đây, cách tiếp cận theo hướng NFB còn được thử nghiệm áp dụng điều trị hội chứng tự kỷ và thực tế đã chứng tỏ kết quả khả quan.

@
Tuy không dự tính hành động đập phá, song các biểu hiện nhu cầu và cảm xúc của trẻ mắc tự kỷ dưới dạng căng thẳng, hụt hẫng và tức giận lại gây khó khăn cho chính chúng cũng như người chăm sóc.

Cứ 150 trẻ thì có một em mắc rối loạn phổ tự kỷ. Thử xem cuộc đối đầu với hội chứng tai ác này.

@ Sử dụng video và các diễn đàn trực tuyến, người phụ nữ mắc tự kỷ 27 tuổi Amanda Baggs đã buộc các nhà khoa học phải xem xét lại những gì họ nghĩ mình đã biết.

Nêu ra quyền lợi của người mắc tự kỷ trong phong trào online, Amanda Baggs thách thức cách chúng ta hiểu biết và lượng giá những ai trải nghiệm thế giới hoàn toàn khác biệt.

Dẫu không hề nói năng gì được, song cô đã tự mình 'diễn dịch' sự tương tác với môi trường thông qua các dạng ngôn ngữ và tri giác thần kinh đặc thù. Cô cũng đẩy lên mạng các giấy tờ y khoa có liên quan.

Quan điểm nhìn nhận tự kỷ như một biến thể (variation) chứ không phải là rối loạn (disorder) này đã được nhiều nhà nghiên cứu theo trường phái Thần kinh học Nhân văn ủng hộ, và bài báo về cô Amanda trên tờ Wired thêm bằng chứng cho thấy các nghiên cứu của chuyên ngành Tâm lý học Thần kinh đang tiếp tục xác định lại khung tham chiếu thỏa mãn điều kiện tự kỷ.

Ý nghĩ cho tự kỷ là một trạng thái bệnh lý cần bị trừ tiệt hẳn, họ nói. Không phải là não của người mắc tự kỷ khiếm khuyết mà đơn giản là não của họ khác biệt-- một minh họa cho sự phát triển phong phú của con người.

Các nhà nghiên cứu này khẳng định rằng, chính việc chú tâm vào việc chữa trị chứng tự kỷ-- mô hình bệnh tật-- đã khiến giới khoa học quên đặt các câu hỏi căn bản về chức năng bộ não người tự kỷ.

Bài báo ghi nhận thành tựu đáng khích lệ của nhóm nghiên cứu đứng đầu là bà Michelle Dawson:

... Điều mà các nhà nghiên cứu tìm thấy là: trong khi các đối tượng không mắc tự kỷ có cùng điểm số-- trên mức trung bình một chút-- ở cả hai trắc nghiệm [test Thang đo Trí tuệ Wechsler (WIS) và test Ma trận Lũy tiến Raven (RPM)] thì nhóm đối tượng mắc tự kỷ có điểm số tốt hơn ở test Raven.

Hai cá nhân có điểm số thoát khỏi ranh giới chậm phát triển tâm thần đạt đến thứ hạng bách phân 94. Đáng lưu ý hơn, số liệu chi tiết còn tỏ lộ điểm số của trẻ mắc tự kỷ ở test Raven xê dịch quanh điểm bách phân C30 nhiều hơn- so với điểm số thực hiện test chủ yếu dựa vào ngôn ngữ là Wechsler; tuy không kéo tất cả lên song đã khiến đôi người trong nhóm thoát khỏi ranh giới chậm phát triển tâm thần.
Tôi muốn kết thúc bài điểm tin này bằng ý kiến của nhà tâm thần học Laurent Mottron rằng, một ngày nào đó, chúng ta sẽ ngoái nhìn các ý tưởng hôm nay về tự kỷ với cảm giác hổ thẹn như những gì chúng ta từng cảm thấy khi nói về quan điểm của tâm lý học những năm trước cột mốc 1974- DSM-IV đã coi đồng tính luyến ái là một căn bệnh tâm thần.



Tâm thần phân liệt (TTPL) là dạng loạn thần phổ biến nhất, đồng thời mức độ tàn phá của nó cũng khủng khiếp nhất; tiếc thay, việc phơi bày bệnh cảnh TTPL vẫn còn chậm chạp.

Hầu như suốt thế kỷ XX, TTPL được nhìn nhận như dạng rối loạn đột ngột tấn công mà chẳng hề cảnh báo trước, làm cho những vị thành niên bình thường tự dưng chuyển biến trọn vẹn sang bạo lực với trạng thái tâm thần không thể chữa chạy nổi.

Gần đây hơn, nhiều chương trình đã chứng thực rằng, người mắc TTPL có thể được xem là an toàn trong quá trình tái hòa nhập cộng đồng.

Nghiên cứu cũng chỉ ra khả năng đoán định các cơn loạn thần đảm bảo đủ thời gian chuẩn bị và thậm chí, dự phòng nữa.

Viện Sức khỏe Tâm thần Quốc gia Hoa Kỳ (NIMH) công bố một số tiến bộ đầy ý nghĩa hướng tới công tác dự đoán và điều trị.

Thông qua việc quan sát trẻ em có nguy cơ cao mắc TTPL do tiền sử gia đình, các nhà Tâm thần học lưu ý: thường tồn tại giai đoạn tiền triệu (prodromal phase) khoảng chừng 1 năm hoặc hơn trước khi chẩn đoán xác định, mà lúc đó đối tượng biểu hiện hàng loạt vấn đề ảnh hưởng rất nguy hại đến đời sống mặc dù chưa loạn thần hoàn toàn.

Tỷ dụ, những người mang suy nghĩ là ai đó đang theo dõi mình sẽ không bị rơi vào trạng thái hoảng loạn, nếu họ được thoải mái trình bày bằng chứng liên quan đến nghi ngờ dễ gây tranh cãi này. Dĩ nhiên, cần xem như một dấu hiệu cảnh báo với những nghi hoặc tương tự vừa nêu.

Hoang tưởng (paranoia) chỉ là một trong nhiều dấu hiệu cảnh báo mà các nhà nghiên cứu của NIMH dùng để lượng giá TTPL như tiêu chí dự đoán dương tính đảm bảo độ tin cậy nhất (PPP).

Các đồ hình lượng giá mới về TTPL tập trung vào 3 nguy cơ chính yếu: các hoang tưởng hoặc niềm tin kỳ cục; yếu tố di truyền đi kèm với chuyện gần đây có biểu hiện suy giảm chức năng; và sự trục trặc kỹ năng xã hội.

Việc từng sử dụng ma túy cũng được xem là một biến số độc lập mang tính nguy cơ đáng kể. Các kết quả theo lối lượng giá thật ấn tượng này được trình bày tại đây.

Một trong các trắc nghiệm thường hay sử dụng rộng rãi, test Phỏng vấn sâu về các hội chứng tiền triệu (SIPS) có khả năng đạt yêu cầu PPP chỉ vào khoảng 35%, song với lượng giá mới tinh còn chưa được gọi tên bên trên thì tiêu chí PPP đạt tới 74%- 81%.

Chẳng hạn, giới chuyên môn thiết kế test nhằm đánh giá
xu hướng rút tỉa các thông điệp từ những tiếng ồn vô nghĩa (ảo giác) như một dấu hiệu tiền triệu của TTPL.

Với hai thành tựu vừa giới thiệu, tuyên bố
của NIMH cho thấy giới khoa học đang nỗ lực cải thiện các phương pháp chăm sóc người mắc TTPL, vì vậy gia đình của các đối tượng này hy vọng sẽ có nhiều lựa chọn tốt từ đó.


Việc phát triển lý thuyết thấu cảm- hệ thống của
Simon Baron-Cohen đã trở nên quen thuộc trên các phương tiện thông tin hiện nay.

Theo vị
giáo sư nổi tiếng về nghiên cứu tự kỷ, trải nghiệm thấu cảm (empathize) là động lực định dạng những cảm xúc và suy nghĩ của người khác, để rồi đáp ứng chúng bằng một xúc cảm thích đáng.

Còn năng lực hệ thống hóa (systemize) là động lực nhằm phân tích và khám phá một hệ thống đặng rút ra các nguyên tắc điều khiển hành vi của một hệ thống, thôi thúc người ta thiết lập cấu trúc của các hệ thống.

Lý thuyết thấu cảm- hệ thống của Simon Baron- Cohen khẳng định rằng, người mắc tự kỷ gặp nhiều khó khăn để thực sự giỏi giang trong chuyện hệ thống hóa và trải nghiệm thấu cảm ở họ thật tồi tệ, kém cỏi.

Simon đã hợp tác chế tạo ra một loạt băng hình sống động mang tên The Transporter (Những nggười vận chuyển) mà bạn có thể
xem một số tập làm mẫu.

Loạt băng hình này dành riêng cho trẻ mắc tự kỷ, đối tượng cảm thấy khó khăn trong việc nhận ra các nguyên nhân gây xúc cảm và sự biểu đạt cảm xúc qua khuôn mặt.

The Transporters là thế giới đồ chơi tưởng tượng chứa nhiều xe cộ, mang các tính cách thể hiện trải nghiệm và phiêu lưu ngập đầy cảm xúc. Mục đích: giúp trẻ em cải thiện hiểu biết về những nguyên nhân tạo xúc cảm và sự biểu đạt các cảm xúc.

Trẻ mắc tự kỷ thường có khuynh hướng thích thú với các loại xe cộ, dường như vì sự chuyển động của xe cộ dễ dự đoán; xem ra, đối tượng trẻ em này không mê lắm các đồ vật mà sự di chuyển chẳng thể dự đoán nổi. Hơn nữa, trẻ mắc tự kỷ càng thích các loại xe cộ nào bị khống chế đường đi, như tàu điện, xe gắn dây cáp, tàu lửa và xe kéo theo các toa.

Với The Transporters, đối tượng trẻ em vốn không thực sự muốn nhìn vào những khuôn mặt chẳng thể dự đoán nổi có thể chú tâm tới các khuôn mặt thể hiện tính cách đặc trưng đã được nhà sản xuất ghép sẵn vào các xe hấp dẫn, dự đoán được. Điều này khiến trẻ học hỏi dễ dàng hơn các biểu đạt gắn trên xe.

Mục đích của The Transporters không những dạy cho trẻ các xúc cảm cơ bản (vui mừng, buồn bã, tức giận, thất vọng, sợ hãi, ngạc nhiên) mà còn gồm một số cảm xúc phức tạp nữa (tủi hổ, trêu đùa, ghen tuông, tự hào, mệt mỏi, hối lỗi, tử tế, phấn khích, lo lắng, thiếu thân thiện, và gắt gỏng); Simon nói.
Thông qua các giờ xem băng hình TV lặp đi lặp lại, trẻ mắc tự kỷ thay vì quay đi khỏi các khuôn mặt mà chúng thường không thể dự đoán nổi- do đó, bỏ quên trải nghiệm chính yếu về các biểu đạt cảm xúc- thì nay chúng lại sẽ hướng vào các khuôn mặt thậm chí, không nhận ra việc đang làm.

Nếu bạn là đứa trẻ đang gặp khó khăn với sự "thấu cảm", kiểu như đang bối rối rằng tại sao biểu đạt khuôn mặt lại thay đổi đột ngột như thế, thì hy vọng là bạn có thể dần quen thuộc với cách nhìn người ta khi họ tỏ lộ sự ngạc nhiên, e ngại hay tự hào nhờ phơi bày tối đa với những mẫu hình đấy.

Ngoài ra, như blog Cái tôi từng giới thiệu, Simon Baron-Cohen tin rằng, có những sự khác biệt căn bản giữa bộ não của đàn ông và đàn bà. Ông khẳng định, não phụ nữ có khả năng thấu cảm trội hơn hẳn; trong khi não nam giới lại chiếm ưu thế cho sự hiểu biết và xây dựng các hệ thống.

Với lý thuyết này, một người nam hoặc nữ có một "kiểu não" riêng biệt. Theo đó, có 3 kiểu não thông thường: với một số người, thấu cảm mạnh hơn hệ thống hóa (kiểu "não phụ nữ", hoặc là kiểu não E); một số cá nhân khác thì năng lực hệ thống hóa cao hơn thấu cảm (kiểu "não đàn ông", hoặc kiểu não S); còn một số nữa lại cân bằng giữa khả năng thấu cảm và hệ thống (kiểu "não cân bằng", hoặc kiểu não B).

Nếu muốn biết mình thuộc kiểu não nào, bạn có thể thử test ở đây.

Lưu ý nhỏ: xin hãy dành đủ thời gian và thật nhẫn nại, bởi cho đến khi nhận được kết quả cuối cùng xác định kiểu E, S hoặc B thì bạn cần thực hiện tất thảy 6 đề mục căn bản với nhiều bài tập có yêu cầu rất khác nhau.

Ngày nay, mọi người dễ nhất trí cao về việc sử dụng "5 nét tính cách lớn" ("Big Five") khi nói về ai đó: quan tâm, hướng tới ngoại cảnh (extraversion); hài lòng, sẵn sàng tán thành (agreeableness); tỉ mỉ, chu đáo (conscientiousness); kiên định về mặt cảm xúc (emotional stability); và cởi mở với kinh nghiệm (openess).

Mỗi một nét đo lường tính cách lớn này có thể được chẻ nhỏ hơn, song nhìn chung, sự phân loại này đa phần là những gì chúng ta nghĩ về trạng thái con người.

Khi xem ai đó là "chín chắn" hoặc "khùng điên", "u sầu" hay "liều lĩnh", tức là vô thức chúng ta đang tiến hành đo lường một trong 5 nét tính cách chính và đặt để chúng cùng nhau.

Vậy, thế nào là một nhân cách lành mạnh?

Các nhà tâm lý học không ngừng nghiên cứu câu hỏi quan trọng này; họ thấy ít nhất 2/5 tính cách trên dường như trực tiếp liên quan đến sức khoẻ thể lý và sự trường thọ: kiên định về mặt cảm xúc và tính cẩn thận, chu đáo. Theo thời gian, sự tốt lành gắn bó sâu sắc với sự thay đổi hai nét tính cách này.

Chẳng hạn, thử xem xét nét tính cách kiên định về mặt cảm xúc; hoặc, đối lập với nó, là tình trạng nhiễu tâm (neuroticism)- một khuynh hướng hay lo lắng và suy nghĩ tiêu cực.

Người mắc chứng nhiễu tâm nặng nề không đủ sức kiểm soát căng thẳng tinh thần; họ thường bồn chồn, ủ rũ. Theo nhiều nghiên cứu, những nét tính cách tiêu cực như thế làm tăng cao tỷ lệ tử vong.

Liệu việc kế thừa nét tính cách này là một tuyên án tử hình? Hay người có thiên hướng ấy vẫn thay đổi được định mệnh?

Nhà tâm lý học
Daniel Mroczek thuộc đại học Purde (Hoa Kỳ) đã sử dụng một thang đo tiêu chuẩn về chứng nhiễu tâm với 1600 cậu trai trên 12 tuổi, nhằm ghi nhận không chỉ mức độ nhiễu tâm của các đối tượng lúc khởi sự mà cả chuyện theo thời gian họ mắc nhiễu tâm ít hay nhiều. Ông cũng xem xét nguy cơ tử vong ở những người đàn ông nhiễu tâm trên 18 tuổi.

Kết quả khẳng định: những ai theo thời gian càng tăng chứng nhiễu tâm thì đã có sẵn vé vào cửa tử.

Nói cách khác, những người đàn ông mắc chứng nhiễu tâm ở độ tuổi trung niên hoặc lớn hơn thì đã không thể an hưởng khi về già. Họ không ngừng căng thẳng tinh thần, phiền muộn hoặc bực bội, và xu hướng này làm tăng nhanh nguy cơ tử vong- chủ yếu do ung thư và bệnh tim mạch.

Tin đáng mừng là đàn ông có tính khí cáu gắt, bực bội nếu dần biết cách trầm lặng từng tí một thì tỷ lệ sống sót tương tự đàn ông kiên định về mặt cảm xúc.

Nhân tiện, gần đây nhất
một dự án có quy mô tầm cỡ đã được thực hiện cho thấy, Big Five hòa hợp với 56 quốc gia đại diện cho 10 khu vực thế giới (khoảng chừng 18.000 đối tượng tham gia). Báo cáo 41 trang này đã trình bày nhiều phân tích chiều sâu.

Dễ suy đoán, trong một nghiên cứu như thế, người ta thường mong đợi những sự khác biệt cơ bản giữa các khu vực, quốc gia qua các yếu tố song thực tế, kết quả thu được biểu lộ tính chất kiên định thật ấn tượng.

Chỉ có sự khác biệt lớn là Đông Á tỏ ra cởi mở hơn hẳn và Nam Phi là khu vực ít cởi mở, so với các khu vực còn lại trên thế giới.

Vậy là, thêm một lần nữa, nghiên cứu xuyên quốc gia, khu vực góp phần nâng cao hiểu biết của chúng ta về sự phong phú và đa dạng của bản sắc người.

Thư điện tử mới đây của một sinh viên năm thứ 4 đề nghị chia sẻ thêm thông tin về cách lý giải và tính điểm test phóng chiếu quen thuộc là TAT khiến tôi nhớ ngay đến một bài báo vừa đọc được chưa lâu.

Sử dụng test dựa vào kỹ thuật phóng chiếu nêu trên, tác giả
Phebe Cramer đã tiến hành một nghiên cứu (longitudinal study) về sự biến đổi của các cơ chế phòng vệ (defence mechanisms) từ trẻ em đến người trưởng thành.

Bắt đầu từ năm 1928 và nằm trong dự án
Berkeley Guidance Study, 71 đối tượng tham gia hoàn thành TAT khi họ đã 12, rồi lên 16 và đến 18 tuổi.

Kết luận quan trọng rút ra: trên tiến trình phát triển từ độ tuổi vị thành niên bước sang giai đoạn trưởng thành, người đời ngày càng ít dựa vào sự chối bỏ (denial)-- lờ đi những ý nghĩ đang quấy quả mình--; thay vào đấy, chúng ta sử dụng thường xuyên hơn sự phóng chiếu (projection)-- đổ tội cho kẻ khác về lắm thứ đang khiến mình lo âu, phiền muộn-- và đồng nhất hoá (identification)-- xu hướng hoá thân thành ai đó mình ngưỡng mộ, khâm phục.

Các cơ chế phòng vệ cơ bản này được
quy nạp qua toàn bộ câu chuyện đối tượng tham gia test kể trong khi làm TAT.

Tác giả Cramer còn phát hiện thấy, những ai ở tuổi 18 sử dụng nhiều sự đồng nhất hoá hơn thì có liên quan với chỉ số IQ cao hơn.

Và mặc dù càng lớn người ta càng tỏ ra thích phóng chiếuđồng nhất hoá hơn song, chính ở độ tuổi trưởng thành này cũng nảy sinh hiện tượng khôi phục, tái diễn lại sự chối bỏ; theo ý Cramer, dường như nó phản ánh "niềm tin của người thanh niên trẻ rằng, cô ấy có quyền năng tạo nên một môi trường phù hợp với những ước muốn của bản thân."

Tuy vậy, nghiên cứu trên lại không chứng thực được việc đối tượng tham gia ở tuổi 18 hay giữ thói quen đồng nhất hoá hơn là phóng chiếu-- mà một số nghiên cứu gần đây khẳng định.

Giải thích điều này, Cramer nghĩ đến sự tác động của các yếu tố văn hoá- xã hội: người 18 tuổi ở thời điểm 1946- chỉ mới một năm sau Chiến tranh Thế giới lần thứ hai-- có vẻ ít thời gian để "khám phá các con đường khác nhau trong sự phát triển và định hình bản sắc (identity)."

Blog Cái Tôi sẽ tiếp tục giới thiệu TAT và các cơ chế phòng vệ kỹ càng hơn vào một dịp khác; ở đây, chỉ xin lưu ý rằng, khái niệm "cơ chế phòng vệ" hàm ý trả lời cho cả hai câu hỏi phòng vệ chống lại điều gì?phòng vệ vì cái chi?.

TAT (
Thematic Apperception Test) của H.A. Murray và các đồng nghiệp khác (1938) yêu cầu người tham gia kể một câu chuyện từ mỗi tấm trong tổng số 20 bức tranh đặt trước mặt-- những diễn biến đang xảy ra, điều chi dẫn đến hoàn cảnh ấy, và rồi nó có thể đưa tới kết cục, hậu quả gì.

Thiết kế và cấu trúc của TAT đòi hỏi chuyên gia khi diễn giải test bắt buộc phải tích hợp thông tin về các khía cạnh trí năng (intelectual powers), xung đột cảm xúc (emotional conflicts) và cơ chế phòng vệ (defense mechanisms).

Tạp chí CyberPsychology & Behavior mới đây đăng nghiên cứu khảo sát mức độ thân mật (intimacy) của 546 đối tượng tiếp xúc mặt đối mặt và có các mối quan hệ lãng mạn thông qua máy vi tính (hoặc 'ảo').

Theo đó, như giới truyền thông khẳng định và các dịch vụ hẹn hò trên mạng quả quyết, trong khi quan hệ lãng mạn qua máy tính thể hiện một số chừng mực nhất định, thì người ta lại nhận thấy mức độ thân mật tỏ ra sâu sắc hơn ở tất cả đối tượng tiếp xúc mặt đối mặt.

Kết quả nghiên cứu cũng chứng tỏ các cá nhân có quan hệ ảo, trên mạng kém thân mật hẳn trong các mối quan hệ mặt đối mặt-- so với số đối tượng chỉ duy trì độc nhất quan hệ mặt đối mặt; điều này gợi ý rằng, họ có xu hướng quay sang gắn bó ảo, trên mạng sau những trải nghiệm đầy khó khăn, thử thách trong quan hệ mặt đối mặt.

Nghiên cứu trên góp phần tìm hiểu thế giới ảo phức tạp và cung cấp thông tin thú vị về những mối quan hệ lãng mạn trên mạng ngày càng trở nên quen thuộc cùng với sự phát triển hệ thống Internet.

Tuy nhiên, nó cũng bộc lộ vài câu hỏi chất vấn về kết quả thu được.

Chẳng hạn, liên quan đến cái gọi là sai số mẫu (
sampling error).

Theo lý thuyết, mẫu sẽ mang tính đại diện nếu mọi thành viên của tổng thể (population) đều cùng có cơ hội được lựa chọn vào mẫu như nhau; ngoài ra, nó phải gồm đủ các đặc tính chứa trong tổng thể. Kích cỡ (size) và tính đồng nhất (homogeneity) đảm bảo cho khả năng đại diện của mẫu.

Với nghiên cứu trên, số phụ nữ chiếm tỷ lệ gấp đôi ở cả hai nhóm; mặt khác, chỉ có 15% trong tổng số 546 khách thể thuộc nhóm tham gia quan hệ lãng mạn thông qua máy tính ('ảo').

Thứ hai, về độ hiệu lực hay ứng nghiệm (
validity): khái niệm được xác định như là mức độ chính xác mà một test nào đó đo đúng cái cấu trúc mà nó được thiết kế ra để đo.

Cụ thể ở đây, không biết thực sự độ hiệu lực của nghiên cứu trên như thế nào trong việc đo mức độ thân mật của quan hệ trên mạng.

Bởi chắc chắn là, ví dụ như Thang đo Yêu đương của Rubin (
Rubin Love's Scale)-- phát triển vào 1970-- không thể là ứng cử viên sáng giá để được sử dụng cho việc đo điều gì đấy chưa thành hình vào thời điểm thang đo này ra đời. Một số items của nó chủ yếu để đo sự thân mật thể lý (physical intimacy), hơn là sự thân mật cảm xúc hoặc bất kỳ kiểu thân mật nào khác.

Hoặc giả dụ Thang đo thứ cấp Thân mật của Sterberg (
Sternberg's Intimacy Sub-scale)-- nguyên bản vào 1990-- cũng hầu như xuất hiện trước thời điểm nảy sinh các 'quan hệ ảo'. Trong khi thang đo này có ít items tập trung vào sự thân mật thể lý so với thang đo của Rubin, thì không khó suy đoán rằng mục đích ngầm định của nó phải nhằm đo loại thân mật truyền thống nào đó.

Rõ ràng, sự thân mật trên mạng hoàn toàn khác biệt về chất so với sự thân mật mặt đối mặt; và vì thế, bản chất của kiểu thang đo truyền thống này không thể xử lý, chỉ ra những biểu hiện khác biệt như thế.

Wow, rốt cục, liệu người ta có mối quan hệ thân mật, sâu sắc trên mạng hay không? Câu trả lời dứt khoát là: Chắc bắp luôn (nếu không muốn ví dụ,
chat chítgame).

Thế còn phẩm chất khác biệt của chúng so với các mối quan hệ mặt đối mặt? Cực kỳ có thể chứ.

Và chúng ta đã đo được sự khác biệt ấy cũng như mô tả đầy đủ về nó? Không dám, chưa đâu.

Gần đây, báo giới trong nước đưa tin nữ tử tù bị biệt giam vẫn có thai. Thậm chí, tờ BBC còn tường thuật khá kỹ.

Tôi càng giật mình hơn khi đọc các bài báo nước ngoài nhắc đến hiện tượng tù nhân
mắc bệnh tâm thần.

Theo
điều tra thì hơn một nửa số tù nhân ở Mỹ gặp trục trặc về sức khỏe tâm thần, song chỉ chưa tới 1/3 được điều trị.

Các tác giả của công trình nghiên cứu cho rằng đây là sự nhục nhã và bi kịch quốc gia ("both a scandal and national tragedy").

Có một bộ môn trong chương trình đào tạo Cử nhân ở Việt Nam là Tâm lý học Tư pháp, với cái nhìn thuần túy lý thuyết nửa vời và hời hợt quen thuộc nên đã không hề đề cập tí chút gì đến vấn đề sức khỏe tâm thần của những người thụ án trong các nhà tù, trại giam.

Đọc chùm tin trên, tôi cũng chợt nhớ tới cái bắt tay nồng nhiệt của một thân chủ vào sáng nay, sau khi tôi đề nghị được tiến hành lần trắc nghiệm test Rorschach cuối cùng ngay trong thời gian chờ đợi gia đình anh ấy làm thủ tục xuất viện.

Khi được hỏi hình nào ghét nhất, anh này đã nhanh chóng chỉ thẳng vào một bức và cho biết lý do: vì nó cô độc.

Đó là câu trả lời của một người mắc Tâm thần phân liệt, mang biểu hiện hoang tưởng bị hại.

Được thiết kế bởi nhà tâm lý Ed Diener (Đại học Illinois, Hoa Kỳ), test lượng giá hạnh phúc này rất đơn giản, chỉ cần tốn ít phút click chuột.

Với 5 items, thang điểm 7, test tập trung vào 3 yếu tố trải nghiệm hạnh phúc: các quan hệ xã hội; công việc, trường lớp; thành phần thứ ba đem lại sự thoả mãn trong đời thường mang tính cá nhân: cái tôi, tôn giáo, cuộc sống tâm linh, học hỏi cùng triển nở, và nhàn nhã.

Tôi đã thử làm; kết quả từ test như sau:

Satisfied
People who score in this range like their lives and feel that things are going well. Of course your life is not perfect, but you feel that things are mostly good. Furthermore, just because you are satisfied does not mean you are complacent. In fact, growth and challenge might be part of the reason you are satisfied. For most people in this high-scoring range, life is enjoyable, and the major domains of life are going well - work or school, family, friends, leisure, and personal development. You can draw motivation from those areas of your life that you are dissatisfied with.
Một câu hỏi khơi lên: dựa vào đâu để đánh giá độ tin cậy/ reliability và tính hiệu lực/ validity của một trắc nghiệm? Nếu dùng duy nhất một câu hỏi mang tính nội quan, đại khái như: “Bạn có hạnh phúc không?” thì liệu vẫn đảm bảo yêu cầu?

Tôi e là không ít người, ngay cả sinh viên khoa Tâm lý học nữa, sẽ loay hoay trao đổi tới lui, rồi bán tín bán nghi với cái test cực kỳ gọn nhẹ nêu trên. Học cách để tin tưởng vào những gì chưa biết cũng không phải dễ.

I. Kết quả

Trên cơ sở đối tượng và phương pháp nghiên cứu xác định, chúng tôi đã tiến hành công việc, xử lý số liệu theo tiêu chí trắc nghiệm và tuân thủ các nguyên tắc toán xác suất- thống kê.

Thực tế, kết quả test Rorschach mang tính tổng thể, thống nhất giữa các yếu tố.

Dưới đây, chúng tôi nêu ra một số điểm chính yếu, nổi bật và bàn luận về những vấn đề liên quan nảy sinh khi áp dụng test Rorschach trong bối cảnh lâm sàng Tâm thần phân liệt tại Khoa A6- Bệnh viện Quân y 103 (n= 32), có so sánh với kết quả nhóm Học viên, cán bộ làm việc tại Học viện Quân y (n= 35).

Trong nghiên cứu này chúng tôi chỉ tập trung xử lý một số kết quả chính yếu liên quan đến các vấn đề cơ bản của test Rorschach: số lượng câu trả lời; định khu; ưu thế; nội dung câu trả lời.

*I.1- Số lượng câu trả lời

Xin nhắc lại, như đã đề cập cụ thể, với mỗi hình có thể có một hoặc một số câu trả lời. Số lượng câu trả lời của 2 nhóm được trình bày trong bảng số lượng câu trả lời của 2 nhóm.

Theo đó, mặc dù,cả hai nhóm đều có cùng số tối đa (R = 7 câu trả lời/ 1 hình) và tối thiểu (không có câu trả lời), song chỉ số trung bình ở nhóm TTPL thấp hơn nhiều so với nhóm học viên (22, 32 so với 14,44). Sự khác biệt này đáng kể về mặt thống kê (p<0,001).>

Để có cơ sở đánh giá khách quan và đúng đắn hơn về sự khác biệt trong số lượng câu trả lời của 2 nhóm, chúng tôi xác định số lượng câu trả lời trung bình qua từng hình, kết quả tổng hợp được trình bày tại bảng. Theo đó, ở hình I tập trung cao nhất số lượng câu trả lời (với nhóm TTPL) và thấp nhất (với nhóm Học viên). Mặt khác, bảng 2 cũng cho thấy, nói chung ở nhóm TTPL có câu trả lời trung bình đều thấp ở tất cả các hình (trừ hình I) và đặc biệt thấp ở hình IX (chỉ có 0,62 câu trả lời).

*I.2- Định khu

Xin nhắc lại, tùy theo câu trả lời bao quát toàn bộ hình hay chỉ là một bộ phận của hình/ chi tiết nhỏ mà các câu trả lời được mã hóa (theo tiếng Anh). Kết quả định khu các câu trả lời được trình bày ở bảng.

Theo đó, những câu trả lời bao quát toàn hình ở nhóm Học viên Quân y khá cao (66,62%); trong khi đó ở nhóm TTPL, tỷ lệ này chỉ chiếm 46,79%. Sự khác biệt này là đáng kể về mặt thống kê. Sự khác biệt cũng đáng kể ở chỉ số chi tiết nhỏ (Dd): ở nhóm TTPL là 18,83%, còn ở nhóm Học viên là 8,18% (p<0,05).>

*I.3- Ưu thế trong câu trả lời

Một lần nữa, cần lưu ý rằng, tuỳ theo yếu tố nào đóng vai trò chủ đạo, mà các câu trả lời được mã hoá: F- hình dáng chiếm ưu thế (ví dụ, “con dơi”); M- vận động của người (“2 người nhảy múa”). Kết quả theo các chỉ số ưu thế được trình bày ở bảng.

Theo đó, kết quả cho thấy, hình dáng chiếm ưu thế trong 219 câu trả lời của nhóm TTPL có tỷ lệ 47,0%, thấp hơn đáng kể so với 62,19% của nhóm Học viên (p<0,001).>


I.4- Nội dung câu trả lời

Một nhóm chỉ số khác cũng được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và cũng được mã hoá theo tiếng Anh, đó là các chỉ số nội dung. Kết quả nội dung các câu trả lời được trình bày trong bảng.

Theo đó, ở nhóm TTPL, nội dung động vật chiếm hơn một nửa số trường hợp (51,74%), cao hơn nhiều so với nhóm Học viên (31,07%). Sự khác biệt này là đáng kể về mặt thống kê (p<0,001).khung xương chậu”, “đốt sống”, “tế bào thần kinh”,… Chỉ số này ở nhóm TTPL chỉ chiếm 2,6% số câu trả lời; trong khi đó, ở nhóm Học viên, chỉ số Anat lên đến 14,90%.

Như kết quả ở bảng cho thấy, nội dung động vật (bao gồm A và Ad) chiếm tỷ lệ khá cao trong số các câu trả lời của cả 2 nhóm; mặt khác, các câu trả lời cũng nói về nhiều loại động vật khác nhau.
Đáng lưu ý, đồ vật và thiên nhiên (phong cảnh) ít được nhìn thấy. Ngoài ra, trong khi chỉ số phong cảnh LS và trang trí hoa văn Or xuất hiện trong trả lời của nhóm Học viên mà thôi và có tỷ lệ thấp nhất, thì nội dung trả lời đồ vật Obj lại chỉ biểu hiện ở nhóm TTPL; mặt khác, cũng thấy nổi lên tỷ lệ nhìn theo góc độ giải phẫu của nhóm Học viên Quân y.

Trong các dạng, động vật được nhìn thấy nhiều nhất. Nhằm nhận diện loại động vật nào xuất hiện trong các câu trả lời, chúng tôi trình bày tần suất phân bố của các dạng động vật theo từng hình.

Kết quả cho thấy, động vật có cánh (dơi, bướm, cánh cam, đại bàng, cú vọ, phượng hoàng, chim chích bông, gõ kiến, bọ hung,…) chiếm tỷ lệ khá cao ở các hình I, II, IV và đặc biệt là ở hình V.

Trong khi đó, động vật 4 chân (gấu, hổ, hươu, lợn, trâu, ngựa, mèo, báo, sư tử, bò, chó, sóc, thỏ, chuột,…) chiếm ưu thế ở các hình II, VII và VIII. Sự khác biệt chủ yếu của 2 nhóm diễn ra ở các hình II, III, IV và X về nội dung động vật có cánh; ở hình III về nội dung động vật 4 chân, và ở hình IX về những dạng động vật khác (rắn, nhện,...)

Cá (cá ngựa, cá đuối, cá mập,...) tương đối ít được nhìn thấy và với đối tượng mắc TTPL chỉ xuất hiện ở hình III.

Trở lên trên, chúng tôi vừa trình bày toàn bộ kết quả dưới hình thức bảng biểu để xử lý theo các chỉ số cơ bản của test Rorschach. Khái quát sơ bộ, có thể tạm thời khẳng định rằng, kết quả nghiên cứu gây ấn tượng phần nào về cách đáp ứng không giống nhau giữa hai nhóm.

Dưới đây, xin bàn luận chung xoay quanh những vấn đề đã được xác định và rồi sẽ đi sâu phân tích một số trường hợp điển hình, nhằm tiếp tục công việc kiểm tra giả thuyết đặt ra từ đầu cuộc nghiên cứu là: có sự khác biệt đầy ý nghĩa trong kết quả trắc nghiệm Rorschach giữa nhóm TTPL và nhóm Học viên.

II. Bàn luận chung

*II.1- Về số lượng câu trả lời

Rất nhiều tác giả nghiên cứu Rorschach đã đưa ra số lượng câu trả lời trung bình của người bình thường.

Chẳng hạn, theo Beck (1954) là 15,8; theo Piotrowski (1957) là từ 15 đến 30, còn với nghiên cứu của Burlatruk (1979) là 16,8.

Trong nghiên cứu này của chúng tôi, chỉ số trung bình của cả 10 hình ở nhóm Học viên là 22,32.

Như vậy, có thể nhận xét rằng, không có sự khác biệt lớn giữa kết quả của nhóm Học viên- người bình thường- trong nghiên cứu này với kết quả của các tác giả khác.

Số lượng câu trả lời phản ánh tính mềm dẻo của quá trình tri giác, sự phong phú và linh hoạt trong tư duy; ngoài ra, nó còn phản ánh IQ.

Tuy nhiên, có những người bình thường nhưng số lượng câu trả lời thấp, đó là trường hợp họ có “tham vọng chất lượng”; lúc này, câu trả lời trở nên nghèo nàn vì bị ức chế bên trong, song chúng khác câu trả lời bệnh lý bởi hình ảnh đưa ra hầu hết đều có chất lượng cao.

Một đặc điểm của các hình Rorschach là chúng không phải là vật có thực nên ngay sau khi trả lời, nhóm Học viên dường như đã không hài lòng lắm vì họ nhận thấy có vài ba chi tiết chưa hợp lý. Điều này khiến họ lại cố gắng có câu trả lời khác; thực tế, đôi người đã xoay, đảo tư thế, thậm chí lật ngược ra mặt sau của hình để tìm kiếm.

Với nhóm TTPL, chỉ số câu trả lời trung bình trong nghiên cứu của chúng tôi là 14,44 (kết quả trên nhóm TTPL của Burlatruk là 10,7).

Có thể lý giải chỉ số câu trả lời thấp ở nhóm TTPL là do sự suy giảm tính tích cực cá nhân. Người mắc TTPL thường nhanh chóng bằng lòng với 1 hoặc 2 câu trả lời đối với mỗi hình. Gặp những hình khó, ví dụ như hình IX, họ thường nhanh chóng từ chối dưới dạng “Không nhìn ra hình gì cả.

Trước các phản ứng từ chối, không đưa ra được một câu trả lời nào, giới chuyên môn khuyến cáo nên khuyến khích đối tượng, kêu mời họ cố gắng hơn, song không được gợi ý hay chi phối việc của họ.

Theo Loosli-Usteri, một điều chắc chắn là phản ứng này hoạ hoằn lắm mới xảy ra nơi người bình thường và khoẻ mạnh trên bình diện tâm linh. Còn D. Anzieu thì nêu ra những hình thường hay bị từ chối nhất (theo thứ tự): IX, VII, VI, IV và II. Tác giả Zangger lại chỉ rõ ý nghĩa của các hình thường bị từ chối: VI- tính dục; VII và IX- hình ảnh người mẹ,…

Theo Rorschach, phản ứng từ chối là một trong những dấu hiệu đáng lo ngại, cho phép đặt giả thuyết về một tình trạng loạn thần/ psychosis hoặc động não/ organic.

Đem đối chiếu với năng suất toàn diện của đối tượng, sẽ có cái nhìn trung thực hơn. Nếu tổng số số câu trả lời từ chối vượt quá 20%, là dấu hiệu đời sống đương sự đang bị bế tắc và vây toả.

Trong nghiên cứu của chúng tôi, có trường hợp S11 (một người mắc TTPL) đã từ chối 4/10 hình. Đối tượng này có tiền sử chấn thương sọ não, cho biết vài hôm gần buổi làm trắc nghiệm “đã có những hành vi, cử chỉ không tốt đối với xã hội”, “cảm thấy mất lòng tin ở bố”,…

*II.1.2- Về định khu

Test Rorschach tập trung vào mức độ trí tuệ. Do đó, câu trả lời mang tính toàn thể W trở thành chỉ số đo trí tuệ của đối tượng làm trắc nghiệm; các hình III, IX và X rất khó đạt giá trị W cao nhất, trong khi đó hình VII là dễ có giá trị W nhất.

Từ góc độ cách tiếp cận và diễn tiến trắc nghiệm, thống kê của Rorschach trên nhóm người trưởng thành đã đưa ra công thức đáp ứng mong đợi về sự phân bố giữa nhìn tổng thể hình W, bộ phận D và chi tiết nhỏ Dd: “8 W, 23 D, 3 Dd” (Beck, 1950, tr. 83- tr.84).

Theo Burlatruk, có thể đánh giá tính tích cực, đặc điểm tư duy của chủ thể thông qua các chỉ số định khu. Câu trả lời có tính chất tổng thể W chiếm 66,62% ở nhóm Học viên và 46,97% ở nhóm TTPL; sự khác biệt là đáng kể (p<0,001).2 con bọ cạp”…

Qua trắc nghiệm, cũng dễ dàng nhận thấy tính linh hoạt trong tư duy ở nhóm Học viên: sau khi có một vài câu trả lời hướng vào tổng thể của hình, họ thường tiếp tục quan sát, đi sâu vào từng bộ phận, chi tiết và đưa ra câu trả lời.

Ngược hẳn, ở nhóm TTPL, một số chỉ dừng lại với định hướng vào tổng thể hình, một số khác thì tập trung ngay đến các chi tiết/ bộ phận.

Dưới ánh sáng của tổng thể cấu trúc nhân cách, số lượng tuyệt đối D và Dd có sự chỉ định mơ hồ. Xem xét cả số lượng liên quan W, D và Dd mới nói cho chúng ta biết cách tiếp cận của chủ thể khi lao vào các vấn đề của mình như thế nào.

*II.1.3- Về ưu thế câu trả lời

- Theo Klopfer (1970), chỉ số F (hình dáng) chiếm ưu thế không nên vượt quá 60%. Trong nghiên cứu của chúng tôi, chỉ số F ở nhóm Học viên là 62,9%; ở nhóm TTPL có thấp hơn: 47,0% (p<0,001). f =" 60-65%,">chỉ số ưu thế C (màu sắc) ở nhóm TTPL lên đến 14,93%. Đây là những trường hợp đối tượng chỉ gọi tên các màu có trong hình và cho rằng chịu, “không nhìn thấy cái gì”.

Ngay cả khi được hỏi lại liệu nó giống cái gì thì đối tượng cũng chỉ lướt vội qua và tiếp tục khẳng định là không nhìn thấy gì. Chỉ số màu sắc C ưu thế ở nhóm TTPL cao hơn hẳn so với nhóm Học viên: 14,93% so với 1,15%.

Theo Beck (1949), người mắc TTPL có sự đáp ứng lớn với chỉ số C phản ánh sự phụ thuộc của họ vào cảm xúc; họ là “nô lệ của cảm giác” (tr.28).

- Xét thêm chỉ số CF (màu sắc ưu thế hơn hình thể), lại càng đáng lưu tâm; bởi đây là sự đáp ứng của mỗi nhóm TTPL, không được nhóm Học viên chọn lựa.

Việc đáp ứng CF, theo Beck (1949) là đặc tính không những nghèo nàn động cơ thúc đẩy mà còn bộc lộ tính dễ thay đổi trong ứng xử; trên đối tượng TTPL, CF có giá trị một mặt, chỉ định mức độ thoái bộ của cảm xúc, mặt khác, lại cho thấy một trạng thái nằm bên trên tầm hoang dại nhất, và do đó, cấu trúc nhân cách còn khả năng hướng đến viễn cảnh trưởng thành (tr.28).

*II.1.4- Về nội dung câu trả lời

Trong trắc nghiệm Rorschach, nội dung chỉ đóng vai trò thứ yếu; bởi vì, theo giới chuyên môn, quan trọng không phải là điều thấy mà là cách nhìn của đương sự. Mặt khác, tuy không phải là hoàn toàn, để tìm hiểu về nhu cầu con người thì ta thường chú ý đến những gì liên quan đến nội dung.

Nội dung các câu trả lời chủ yếu đề cập đến quá trình phối hợp của đối tượng. Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến nội dung trả lời: thiên hướng, sự thích ứng, nỗi âu lo, ức chế, các mối quan tâm,.. Do đó, ở đây chúng tôi duy trì phương pháp phân tích cơ cấu trong lĩnh vực nội dung câu trả lời.

- Đúng như dự đoán và cũng phù hợp với nhận định của một số tác giả (Piotrowski, 1965), những người làm nghề Y có tỷ lệ câu trả lời Anat (giải phẫu) nhiều hơn.

Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ Anat của nhóm Học viên lên đến 14,96%; trong khi đó, ở nhóm TTPL, tỷ lệ này chỉ có 2,6%.

Một điểm đáng lưu ý nữa, là 117 câu trả lời của nhóm Học viên phân bố cho 28/35 người tham gia làm trắc nghiệm. Trong khi đó, nhóm TTPL chỉ có 5/32 người có câu trả lời Anat. Nếu tính theo số người thì tỷ lệ đối tượng có câu trả lời Anat ở nhóm Học viên là 80,0%, còn ở nhóm TTPL chỉ là 15,62%.

Cũng cần lưu ý rằng, nếu không phóng chiếu vì đặc trưng nghề nghiệp, thì việc chọn Anat bộc lộ một mối quan tâm quá mức về bộ phận trong cơ thể và với sức khoẻ bản thân. Chú tâm vào cấu trúc chi tiết biểu hiện chứng bệnh tưởng/ hypochondriasis trong phản ứng trầm cảm; những sự chọn lựa Anat đều tìm thấy trên lâm sàng ở tất cả nhóm bệnh; chọn lựa “máu” cũng có ý nghĩa tương tự (Beck, sđd, tr.43).

Trong nghiên cứu của chúng tôi, hỏi chuyện trước khi làm test, S10 (một đối tượng mắc TTPL) đã bảo ngay: “Cảm thấy bị người điều khiển, chân tay yếu đi” và ngồi thừ người rất lâu rồi mới bắt đầu vào hình I. Ngoài việc bỏ qua 5/10 hình, còn chọn Anat khá nhiều: “máu (rùng người)” (h.II); “bộ khung chậu, đốt sống lưng” (h.III), “như con báo đang trèo; tổng thể như toàn bộ khung chậu (cái trước chỉ là nửa trên khung chậu).”

- Về tỷ lệ H (toàn thể người) và Hd (bộ phận người) ở cả hai nhóm đều nằm trong khoảng 10-20% được chấp nhận; tỷ lệ bình thường là 15%, theo Rorschach.

Nếu tỷ lệ Hd > H, biểu hiện trạng thái nhiễu tâm, tinh thần bị ám ảnh (Nguyễn Văn Thành, 1973, tr.68). Mặt khác, tỷ lệ Hd cũng tăng cao hơn so với H trong các đối tượng có mức trí năng hạn chế, và đặc biệt hơn trong sự ức chế tâm lý (Beck, sđd, tr.42- tr.43).

Ngoài ra, việc nhóm Học viên chọn lựa nhiều Hd hơn so với H, có thể lý giải bởi đặc trưng nghề nghiệp ngành Y của họ.

Trong test Rorschach, nội dung trả lời mang yếu tố nghề nghiệp thường được nhận ra một cách trực tiếp.

Theo Beck, ngoài ngành Y, còn xuất hiện ở những nhà khoa học và ở một vài lĩnh vực nghệ thuật; nội dung trả lời H, một lần nữa, phản ánh sự dưỡng dục và văn hoá của đối tượng làm trắc nghiệm.

-Chỉ số Động vật A ở cả hai nhóm đáng kể về mặt thống kê (p<0,001).Chỉ số tính dục Sex tự nó nói lên vấn đề.

Liên tưởng đến chỉ số này, ở những người bình thường, được kích thích bởi các hình II, IV và VII; ít xuất hiện hơn ở hình III như là bộ phận sinh dục nữ , và hình VI như là bộ phận sinh dục nam.

Diễn tả chân tình và thoải mái những liên tưởng đến sex được tìm thấy trong 3 nhóm: TTPL, chứng loạn thần cấp tính và những người khoẻ mạnh đang trải qua thời kỳ trị liệu theo cách tiếp cận Phân tâm (Beck, sđd, tr.44).

Dù không xử lý tiêu chí này, song dữ liệu chúng tôi thu được cũng tỏ lộ ít nhiều thú vị.

Chẳng hạn, P18 (một người thuộc nhóm Học viên) trả lời hình I: “hai người đang úp mặt vào nhau, đang hôn nhau”; hình II: “hai cánh tay, hai hình người”, hình III: “hai người đang kéo một cái gì đấy; hai người đang hôn nhau”, hình VI: “hai người dị dạng giống hệt nhau đang ôm một cái cây; cái kiếm cắm vào một cái cây; thánh giá gì đó”, hình VII: “hai người đang đứng trên đá”…

Trả lời câu hỏi thích nhất hình nào, P18 cho biết: hình II vì “trông thật đoàn kết, như 2 người bạn” và hình 7 với lý do “ngồ ngộ, vui vui.” Đối tượng có người yêu đã 3 năm nay.

- Trong xử lý kết quả test Rorschach, còn có nhóm chỉ số Org (độc đáo) và Pop (phổ thông). Những câu trả lời độc đáo là những câu chỉ gặp ở 1 hoặc 2 lần trong khoảng 100 trường hợp làm trắc nghiệm. Do số lượng nghiên cứu chưa nhiều, nên chúng tôi cũng không tập trung xử lý những chỉ số này.

Tuy nhiên, trong quá trình phân tích kết quả, chúng tôi cũng “nhặt” ra được một số câu trả lời mà có thể xếp vào loại đặc biệt.

Ví dụ, “Quan tài treo trên hàng phi lao” (hình II), “Hoàng thượng tung cánh, bay như chim”( hình X), “Nhìn như, cảm nhận cơn gió hút theo một con vật, con bướm (xoáy gió)” (hình III), ” Con chim chích bông đang hạ cánh cho mình nhìn thấy; người lắp cánh để bay… Sóc đang chui vào tán cây và người đeo giày dài rồi lắp cánh để bay” (hình V), “Người đàn bà giữa đám đông đưa lên một ngọn lửa” (hình VIII), …

Tỷ lệ 1,73% có lẽ cũng chưa phải là cao đối với nhóm TTPL, những người vốn được xem là có các hành vi cũng như suy nghĩ kỳ cục, khác thường, biểu hiện tính hoang tưởng và ảo giác đặc trưng bệnh cảnh lâm sàng.

Vậy, những câu trả lời nào được xem là bình thường? Tuy không khó tìm sự đồng thuận, song xác định tiêu chí lại hoàn toàn chẳng dễ dàng gì.

Theo Rorschach, cứ 3 người có 1 người trả lời như vậy. Còn Mucchielli thì liệt kê những câu trả lời nào có vị trí, hình thể và nội dung như sau (Nguyễn Văn Thành, sđd, tr.72- tr.73):

Hình I: Con dơi, con bướm;

Hình II: Hai nhân vật, hai con gấu, hai con chó;

Hình III: Hai người, Con bướm (đỏ);

Hình IV: Một tấm da;

Hình V: Con dơi, con bướm;

Hình VI: Tấm da;

Hình VII: Đầu người (trên), Đầu voi;

Hình VIII: Nhiều con vật (hai bên);

Hình IX: Người cử động (da cam), đầu người, đầu trẻ em (hồng);

Hình X: Cua, nhện, mực (hai bên), Sâu (ở dưới), Cá ngựa (ở dưới), Đầu thỏ
(xanh, dưới, giữa).

II.2- Minh hoạ các trường hợp bệnh lý

Dưới đây, chúng tôi giới thiệu một vài ca có dấu hiệu bệnh lý của những người mắc TTPL, để minh hoạ thêm cho khả năng ứng dụng lâm sàng của test Rorschach.

II.2.1- TTPL thể di chứng: “Hình ảnh đại ca trong đầu

S3, 29 tuổi, Binh nhất (H1), mắc TTPL hơn 10 năm nay (từ 7.1994). Nhập viện với lý do: kích động. Luôn cảm thấy “hình ảnh đại ca trong đầu”. Được khoa A6- Viện 103 chẩn đoán: “TTPL thể di chứng.”

Trình độ học vấn: lớp 12. Địa chỉ liên lạc: “3NB 2704 Thanh Hoá- Vĩnh Phúc” (bệnh nhân trả lời miệng để ghi vào Biên bản) .

Ngồi vào phòng trắc nghiệm, S5 lập tức khoanh tay. Trong 14 phút, toàn bộ các câu trả lời của S5 lần lượt là:

Hình I: con dơi dơi; màu giấy nâu nâu.

Hình II: Hai con gấu chạm tay vào nhau như mưu của Gia Cát Lượng và mưu của
Chu Du thành chữ Giết (hỏi S5 lại có đồng ý với câu trả lời vừa rồi không?). “Chả thấy gì.”

Hình III: (“Gọi tôi lên để làm gì”). Sắt nhọn. Con bướm ở giữa màu vàng.

Hình IV: (“Đưa toàn đại ca lên đây em sợ lắm”) Màu sẫm sẫm. Người như Giời ngồi trên ghế đang học.

Hình V: Hình con dơi dơi. (“Nghe thầy giáo bảo ngày xưa không hề mắl lưới, mẩu chuyện nước ngoài.”) Hình con bọ.

Hình VI: Chai rượu bị vỡ. “Không thấy gì cả.

Hình VII: “Khó tả lắm. Đốt nhiều thuốc quá là không có lợi.

Hình VIII: “Thực sự xem hình này muốn đốt cháy hết. Nóng tiết lắm. Màu lửa, tôi sợ lửa- rất ghê đánh nhau, sợ đánh nhau, sợ hất nước sôi vào người. Người đỡ đầu, đỡ bệnh cho.

Hình IX: “Do thầy giáo cho kết tủa lên. Một cái gì nâng lên.”

Hình X: “Phổi con người, phải không?” (màu xanh, bên dưới).

* Hình thích nhất: hình II vì “Người này đã biết- đầu gấu sợ lắm. Chai rượu.” Ghét nhất: “Chả thấy khó chịu hình nào.”

Như vậy, nội dung trả lời của S5 có nội dung hoang tưởng, nói chuyện riêng tư của mình và bộc lộ rất rõ phản ứng chối từ.

II.2.2- Hoang tưởng phát minh, tự cao: “Những hình quá bình thường, không đáng lưu tâm- nạp vào bộ nhớ

S5, 25 tuổi, dân thường, đã điều trị tại Bệnh viện Tâm thần ở Hà Nội từ 11.2004. Chẩn đoán của Viện 103: “ảo thanh ra lệnh, hoang tưởng phát minh tự cao” (cướp điện thoại di động nhằm mục đích phá án). Trình độ học vấn: “Đại học Cảnh sát, thiếu uý” (S5 trả lời miệng để ghi vào Biên bản).

Trò chuyện trước khi làm test, S5 tự đánh giá về mình: “Nhiều bạn bè, sống bắt nhịp tốt. ” Toàn bộ các câu trả lời, diễn ra trong 15 phút 40 giây.

Hình I: Trông như bọ cánh cứng.

Hình II: Trông như là máy bay chiến đấu tàng hình của Mỹ.

Hình III: Lọ hoa- mua bên Bát Tràng có hình .

Hình IV: Như con chó cụt 2 tai, nó ngồi.

Hình V: Con bươm bướm.

Hình VI: Đây là chiếc lá.

Hình VII: Trông như là 2 con rồng cuốn vào nhau.

Hình VIII: Trông như bọ cánh cam.

Hình IX: Trông như 2 con đà điểu.

Hình X: Một con côn trùng gì cũng được,không cụ thể là con gì.

Không thích không ghét hình, vì những hình tưởng tượng, không có trong thực tế, quá bình thường không đáng lưu tâm- nạp vào bộ nhớ.

II.2.3- Hoang tưởng ghen tuông: “Dưới mấy xương sống có hình người có lỗ… Dưới xương chậu

S6, 27 tuổi, quê Nghệ An, thiếu úy, mắc TTPL hơn một năm. Tóm tắt hồ sơ bệnh án của Viện 103: Hoang tưởng ghen tuông, bị theo dõi, ảo thanh giả bình phẩm. Rối loạn hành vi, kích động đập phá, đánh vợ. Đau nửa đầu.

Trong 18 phút, S6 làm xong trắc nghiệm.

Hình I: Giơ lên cao như soi mói. “
Thấy loang loáng, một hình người cụ thể
không có đầu, ở phía phải có 1 chấm hoặc lỗ trắng hơi vàng
.”

Hình II: Giơ sát mặt. “Dưới mấy xương sống có hình người có lỗ.” Soi rất kỹ. “Dưới xương chậu”.

Hình III: Lại soi. “Thấy nơi cổ 1 vòng tròn, sau có nút cột lại. ở phía trên đầu có hình bầu dục dài, trống.

Hình IV: “Ở phía trên có cái đầu là lạ ở giữa, xung quanh chân có những nốt như vòng tròn cột lại. Ở chân phía phải có 1 hình người kéo ra và xung quanh đó chấm chân. Ở chân phải khác là tuy cũng có chân, nhưng không có đầu gối, ở đáy có những cái nhọn nhọn như cái gai.

Hình V: “ở vai bên phải có 1 vòng tròn thắt nút. (“Ghi thế cũng được, “ nói với nghiệm viên). Và phía trên đầu xuất hiện màu trắng. Bên trái to hơn, bên phải nhỏ hơn.

Hình VI: “ở đốt cao nhất có chấm trắng, toả xuống như 2 con rắn.

Hình VII: Xoay ngược. “Cái này phía phải có 1 lỗ xanh to, trái cũng tương tự- cả 2 bên chân bị bao phủ bởi màu trắng, xanh ít.

Hình VIII: “Giống con gái, bên phải; bên trái là con trai.”

Hình IX: Xoay ngược. “Bên phải có 2 chấm trắng, bên trái chấm trắng li ti nhiều.

Hình X: “Hình này có 3 vết đỏ ở giữa và hai bên dưới cùng có mấy chấm… 11 chấm tròn đỏ.

Không ghét, thích hình nào cả vì ” ít xem film, báo. Đầu đỡ, xương cốt muốn rời ra và đau, chân và vai, sau lưng đau nhất.

* Hạn chế của đề tài
Mặc dù đã có cố gắng song đề tài của chúng tôi vẫn còn những hạn chế nhất định.
-Việc lựa chọn nhóm nghiên cứu là TTPL, nhưng mới chỉ dừng lại ở đàn ông; do vậy, chưa có điều kiện để so sánh từ góc độ giới giữa nhóm nam và nhóm nữ.
-Còn một vài chỉ số khác của trắc nghiệm chưa được xử lý, như chỉ số về thời gian (thời gian phản ứng, thời gian trả lời cho từng hình, thời gian thực hiện toàn bộ trắc nghiệm,…) và vị trí các câu trả lời, v.v....
Tuy thế, nhìn chung nghiên cứu cũng đã đạt được một số kết quả cơ bản. Dựa trên toàn bộ cơ sở dữ liệu thu thập được, chúng tôi đi đến một vài kết luận sau cùng.

III. Kết luận

III.1- Có sự khác biệt nhất định về kết quả test Rorschach ở nhóm người mắc Tâm thần phân liệt (thể Paranoid) so với nhóm Học viên Quân y bình thường.

Theo đó, các biểu hiện của nhóm người mắc Tâm thần phân liệt qua test đặc trưng cho bệnh cảnh lâm sàng Tâm thần phân liệt:

- Số lượng câu trả lời trung bình thấp (14,44; p<0,01).


III.2- Những chỉ số cơ bản của trắc nghiệm Rorschach được tập trung thu thập và xử lý (số lượng câu trả lời; định khu; ưu thế và nội dung câu trả lời) đảm bảo tính thống nhất giữa các yếu tố trong tổng thể test.

Tuy vậy, còn có một vài chỉ số khác chưa được xử lý, điển hình như hai chỉ số: thời gian và vị trí các câu trả lời. Khi phân tích, cần chú ý đến khả năng ảnh hưởng của tay nghề và kinh nghiệm cá nhân tới kết quả test Rorschach.

III.3- Cần có những nghiên cứu sâu và rộng thêm để có thể so sánh kết quả test Rorschach ở các thể Tâm thần phân liệt khác nhau, ở các dạng rối loạn tâm thần khác nhau, và cả với những nhóm người khoẻ mạnh.

Đây chính là cơ sở tạo giá trị chẩn đoán cho test Rorschach, một trắc nghiệm gần như là thường quy đối với nhiều cơ sở lâm sàng tâm thần và tâm lý trên thế giới.

I. Kỹ thuật phóng chiếu- nền tảng lý thuyết và ứng dụng lâm sàng

Là một trong các chiến lược nội quan, dựa trên mô hình đương đại của lý thuyết nhân cách theo hướng tiếp cận tâm động/ psychodynamic personality theory, kỹ thuật phóng chiếu trở thành công cụ lượng giá hữu hiệu được áp dụng rộng rãi (Magnavita, 2002, tr.232- tr.233).

Cơ chế phóng chiếu lần đầu tiên được Freud phác hoạ khi nghiên cứu trường hợp Schreber (1911/ 1958) để giải thích bằng cách nào mà những tri giác nội tâm được thay thế bởi các tri giác ngoại giới. Phóng chiếu được xem như là thành phần trung tâm tạo nên triệu chứng hoang tưởng (Conte, 1995, tr.42).

Với Freud, tất cả dạng thức hoang tưởng/ paranoia có thể diễn giải lại như những chối bỏ, phủ nhận tương xứng: “ Tôi (một người) yêu anh ta (một người)”, bị bác bỏ thành: “Tôi không yêu anh ta- tôi ghét anh ta.” Niềm tin này chuyển thể biến hình bởi phóng chiếu vào: “Anh ta căm ghét (hành hạ) tôi, nên tôi sẽ có lý do để căm ghét anh ta.

Như Freud tuyên bố: “Và bởi vậy, cảm giác thúc đẩy vô thức hiện hình như thể nó là hậu quả tri giác bên ngoài ‘Tôi không yêu anh ta- tôi ghét anh ta, vì anh ta hành hạ tôi.’ Quan sát cho thấy không còn nghi ngờ gì rằng kẻ hành hạ, quấy rầy/ persecutor là người được từng được yêu thương.”

Kỹ thuật phóng chiếu/ projecive technique là thuật ngữ của Lawrence Frank (1939), một phương thức lượng giá tâm lý dựa trên việc đáp ứng phóng chiếu suy nghĩ, nhu cầu và cảm xúc nội tại vào các kích thích mơ hồ, như việc nhìn các đám mây rồi mô tả điều ta thấy.

Bởi vì đặc tính này, điều cực kỳ quan trọng là những đáp ứng thể hiện sự phóng chiếu của chủ thể như thế, khi tham gia làm test phóng chiếu, không nên bị làm sai lạc do tác động của nghiệm viên (Wiederman, 1999).

Nhiều nhà nghiên cứu tán đồng với cách hiểu test phóng chiếu là kỹ thuật dựa trên giả định cá nhân phóng chiếu cảm xúc vô thức bản thân, khi đáp ứng với các kích thích mơ hồ (Feldman, 1997, tr. 396; Sdorow, 2002, tr.381-382).

Vậy là, thông qua test phóng chiếu, nhà lâm sàng lập hồ sơ về những xung đột và động cơ; thực tế thì test phóng chiếu được sử dụng cho rất nhiều mục đích khác nhau, chẳng hạn như phân biệt đặc điểm nhân cách của tên giết người và kẻ tội phạm bất bạo động (Coram, 1995).

Cũng cần để ý rằng, phóng chiếu vào những vật thể cấu trúc kém chặt chẽ thì lại càng làm tỏ lộ nhiều hơn các nét tính cách nổi trội; tuy thế, việc thiếu vắng cấu trúc là con dao hai lưỡi: dữ liệu thu được rất phong phú song khó trình diễn. Với vấn đề tính điểm, hầu hết các test phóng chiếu không thoả mãn tối đa quy ước tiêu chuẩn về tính hiệu lực và độ tin cậy (Aiken, 1997, tr.331).

Tuy thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, song các kỹ thuật phóng chiếu luôn bao gồm 4 mẫu số chung sau:

1. Các kỹ thuật phóng chiếu thể hiện quan hệ, một cách tương đối, của người làm test với các kích thích mơ hồ.

2. Các kỹ thuật là “đáp ứng tự do” trong ý nghĩa là không có đáp ứng đúng hay sai, và người làm test được tự do đưa ra bất cứ đáp ứng nào thấy thích hợp.

3. Các đáp ứng được trình diễn như sự phản ánh khuynh hướng tính cách chủ đạo và trạng thái xúc cảm chính yếu.

4. Các kết quả ghi nhận, cũng được xem xét với các mức độ khác nhau, như là sự phản ánh tiến trình nhận thức và và đặc điểm nhân cách của chủ thể (Corsini, 1996, tr.713).

Theo Xokolova, E. T.- một nhà tâm lí học Soviet- thì phương pháp phóng chiếu có các tính chất sau:

- Tính không xác định của tài liệu/ kích thích, nhờ đó nghiệm thể được tự do lựa chọn câu trả lời hoặc phương thức hành vi.

- Hoạt động của nghiệm thể diễn ra trong không khí thân mật, trong hoàn cảnh thoải mái. Cùng với yếu tố nghiệm thể không rõ cái gì trong câu trả lời đã làm cho sự phóng chiếu đạt mức tối đa.

- Phóng chiếu không phải do chức năng tâm lí này hay chức năng tâm lí kia mà do cách thức, chuẩn mực quan hệ qua lại của nhân cách với môi trường xung quanh.

Hầu hết các công cụ lượng giá nhân cách không theo cấu trúc rõ ràng đều thuộc kỹ thuật phóng chiếu; thông dụng nhất là các test: Rorschach Inkblot Test, Thematic Apperception Test (TAT), Sentence Completion Test, Draw-a- Person Test.

Cũng nổi tiếng không kém là Rosenzweig Picture- Frustration Study, Rotter Incomplete Sentences Blank, Holtzman Inkblot Technique, và nhiều test kể chuyện theo tranh dành cho trẻ em, vị thành niên,…

Hệ thống các kỹ thuật phóng chiếu được ứng dụng hiệu quả trong việc chỉ ra các thiết chế xã hội của quá trình tương tác văn hoá, hình thành nhân cách con người; thể chế chính trị, huyền thoại, nghi thức tôn giáo, các loại hình nghệ thuật, quan điểm triết học, ngôn ngữ, văn chương và động cơ vốn là những chủ đề quen thuộc của sự phân tích phóng chiếu (Alarcón, 1998, tr. 38).

Viết và thực hiện các test phóng chiếu (như test Rorschach) phục vụ cho việc tuyển mộ, sàng lọc và huấn luyện đội ngũ cảnh sát, đã góp phần xác định các ứng viên trưởng thành hay không về mặt cảm xúc, đảm bảo các kỹ năng giao tiếp liên nhân cách thích hợp và có động cơ đúng đắn (Foley, 1993, tr.126).

Trong lâm sàng, chẳng hạn Bellack và cộng sự (1961), đã sử dụng test phóng chiếu khi nghiên cứu tương quan giữa tác dụng của thuốc chống trầm cảm với các triệu chứng trầm cảm dựa trên các chỉ số liên quan đến tiềm thức, vô thức và giấc mơ, nhằm thu thập và lượng giá các thành phần của vô thức (Bergin, 1971, tr.522).

Một ví dụ rất thú vị về việc ứng dụng test phóng chiếu liên quan đến việc quân Đồng minh trong Chiến tranh Thế giới thứ hai lập hồ sơ về Adolf Hitler- lãnh tụ Đức Quốc xã.

Viết vào năm 1943, báo cáo tâm lý bí mật này của Văn phòng Cơ quan Chiến lược đã được giải mật 25 năm sau, khơi mở sâu sắc nhiều chức năng tâm lý và động cơ của Hitler; nhờ việc tái cấu trúc tiền sử tâm lý của nhân vật này.

Như việc trùm fascism từng có ý định tự tử: “Đây là một hậu quả khá hợp lý. Không những hắn ta thường xuyên có dấu hiệu muốn tự tử, mà từ những gì chúng ta biết về tâm lý của hắn, khả năng xảy ra điều này là rất lớn.” (Magnavita, 2002, tr.234)

Việc sử dụng các kỹ thuật phóng chiếu cho chiến lược lượng giá hành vi trong môi trường học đường đã trở thành truyền thống từ rất lâu.

Chẳng hạn, Klopfer & Toulbee (1976) duyệt xét lại các test phóng chiếu được trình bày trên Tạp chí Tâm lý học thường niên/ Annual Review of Psychology đã khẳng định có trên 500 bài tạp chí đề cập đến các kỹ thuật phóng chiếu suốt thời điểm từ 1971 đến 1974, không kể sách báo in lại khác.
Ba cuộc điều tra quốc gia về ứng dụng trắc nghiệm tâm lý từ 1947 đến 1971 cho thấy chỉ có một sự thay đổi vị trí không đáng kể của các test chiếm vị trí đầu bảng: Rorschach, WAIS, TAT, Bender-Gestalt,… (Gutkin, 1990, tr.350).

Có vẻ, nhiều nhà lâm sàng cũng như đa số người ngoại đạo không chuyên môn, đều nhìn các kỹ thuật phóng chiếu sở hữu điều gì đó huyền bí khiến chúng có khả năng làm tỏ lộ một cách chi tiết và sâu xa nhân cách con người, hơn là với nhiều thứ tỏ ra được kiểm chứng khoa học như các Bảng kiểm Nhân cách, Thang đo định giá và nhiều cuộc Phỏng vấn.

Theo Snyder (1974), bất kể lý do ra sao, nghiên cứu cho thấy là nhiều người đặt sự tin tưởng vào các mô tả nhân cách dựa trên kỹ thuật phóng chiếu hơn là khi chính họ thể hiện mình qua điểm số của các Bảng kiểm Nhân cách (Aiken, 1997, tr.340).

II. Test Rorschach- lược sử, cấu trúc, trình diễn và kết quả nghiên cứu

II.1. Lược sử test Rorschach

Rất nhiều nhà tâm lý lâm sàng lừng danh đã sử dụng trắc nghiệm vết mực Rorschach/ Rorschach Inkblot Test để khám phá những diễn tiến không thể ngờ tới của tâm tưởng.

Giới chuyên môn cho là không có trắc nghiệm nhân cách nào chuẩn mực hơn test do nhà Tâm thần học Thụy Sĩ Hermann Rorschach (1894-1922)
tạo ra.

Theo Trull (2001), mặc dù cho đến nay, cơ sở lý luận tiếp tục gây tranh cãi và độ hiệu lực dao động khá lớn , song test Rorschach vẫn đang là một trong 10 trắc nghiệm tâm lý thông dụng nhất thế giới.

Vào năm 1917, Rorschach đưa ra ý tưởng sử dụng tập hợp 10 giọt mực trừu tượng và đối xứng để tìm hiểu xem người ta nhìn thấy những gì.

Với sự mơ hồ của chúng, Rorschach tin là mình đã tạo ra một “môi trường chân không tri giác” chảy vào các khuynh hướng nội tâm của chủ thể trắc nghiệm; test này không những chẩn đoán các rối loạn tâm lý, bệnh tâm thần mà còn cung cấp một bản đồ chi tiết về “vô số sắc thái khác nhau của nhân cách.

Những năm 1930 là thời kỳ hoàng kim của test Rorschach, đến độ người ta ta hân hoan gọi nó là
“X-quang hiển nhiên của nhân cách.”

Tuy trắc nghiệm Rorschach lan toả rộng khắp tại Hoa Kỳ, song vào thập niên 1960, nó đã bị chỉ trích bởi thiếu hỗ trợ về mặt thống kê. Trắc nghiệm này trở thành tiêu chuẩn văn hoá vào năm 1984, khi Andy Warhol thực hiện một loạt các bức tranh vết mực Rorschach.

Các nhà lâm sàng góp phần bổ sung, chuẩn hoá bộ test độc đáo và hiệu quả này. Test Rorschach có cơ nẳm lặng lẽ ở dòng chú thích cuối trang nếu nhà tâm lý học lừng danh John Exner, vào năm 1974, không giới thiệu một phiên bản hiện đại thông dụng nhất dưới dạng một hệ thống tính điểm ma trận cho trắc nghiệm mang tên Hệ thống Nhận hiểu/ Comprehensive System.

Trắc nghiệm này chứa hơn 140 items, gồm một chỉ mục trầm cảm/ Depression Index, một chỉ mục tính vị kỷ quá đáng/ Egocentricity Index và một thang đo tỷ lệ khát vọng/ Aspirational Ratio. Tất cả các nhà nghiên cứu về Rorschach đều tín nhiệm với bộ test của Exner.

Trong bối cảnh pháp lý và lâm sàng trị liệu, các chứng lý từ test Rorschach vẫn còn tỏ ra uy quyền. Tuy vậy, xử lý số liệu của hơn 30 công trình nghiên cứu về Rorschach, người ta thấy trắc nghiệm này bộc lộ rõ rệt khuynh hướng gán nhãn bệnh tâm thần cho người bình thường.

Có rất nhiều kết quả trái ngược nhau liên quan đến hiệu lực và độ tin cậy của test Rorschach.

Một nghiên cứu sớm nhất của Rogers, Knaus, & Hammond (1951) chỉ ra kết quả tiêu cực về cách tính điểm số. Kotkov & Meadow (1953) lại nhận thấy một số gắn kết của ba chỉ số Rorschach (hình thể và màu sắc FC-CF, số lượng câu trả lời R và tỷ lệ hình chi tiết D%) trong quan hệ với trị liệu nhóm, những bệnh nhân giảm thiểu đáng kể trong trị liệu cá nhân sau khi tham gia ít nhất 9 lần nữa (Bergin, 1971, tr.279-280).

Từ góc nhìn khác, nhà tâm lý học David Medoff, một trong những người xiển dương, lại thấy test Rorschach là thủ tục thông dụng trong lĩnh vực toà án “nó hiện vẫn tràn đầy sức sống, bổ sung thông tin nền tảng cho việc ra các quyết định xét xử và định tội danh.

Công bố lần cuối cùng vào 1921, test Rorschach (với 10 tấm card trong tổng số 15 nguyên bản để cắt giảm chi phí và hạn chế, ngăn ngừa lỗi in ấn) tìm thấy chỗ trú ẩn tại Liên bang Soviet, nơi chào đón nồng nhiệt lý thuyết Phân tâm học của Freud và Jung.

Một trong những tư liệu phân tích sáng giá của test Rorschach là “22 xà lim ở Nuremberg”, do nhà tâm thần học Douglas Kelley tiến hành tại phiên toà xét xử những tên cầm đầu Đức Quốc xã Nazi vào năm 1946.

Nhìn vào vết mực, trùm mật vụ Rudoff Hess thấy “hai người đàn ông đang trò chuyện về tội ác, máu chảy trong trí tưởng họ.” Còn Robert Ley, cựu chủ tịch Mặt trận Lao động Đức, nhìn ra một con gấu: “Ông có thể thấy cái đầu, hàm răng và những cái chân con gấu cực to. Có bóng tối và những cánh tay kỳ dị; nó thật sống động, biểu hiện chủ nghĩa Bolshevism tràn qua châu Âu.

Từ khi được chấp nhận, dường như test Rorschach trộn lẫn cả chủ nghĩa thần bí và nguỵ khoa học, thậm chí, ngay cả với những người hiểu biết về giá trị của test, vẫn tồn tại sự bất đồng khi diễn dịch các trả lời đáp ứng.

Có lẽ, các nhà tâm lý lâm sàng còn duy trì niềm tin mạnh mẽ rằng, trực giác và kinh nghiệm thực tiễn lâm sàng cung cấp nhiều soi sáng nội tâm sâu thẳm hơn là chỉ dựa vào mỗi kiến thức khoa học mà thôi.

Là “cụ tổ” của các trắc nghiệm nhân cách thông dụng như MMPI, Myers-Briggs,… test Rorschach được 8/10 nhà tâm lý học sử dụng mỗi năm hàng trăm ngàn lần làm công cụ chẩn đoán; người ta trưng cầu đến nó để chứng lý trong các trường hợp giám hộ, giam giữ trẻ em, cáo buộc phạm tội và kiện tụng liên quan đến tổn thương tình cảm.

Sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, có một loạt thách thức thực sự về nền tảng lý thuyết và sự diễn giải của test Rorschach được thể hiện trong các nghiên cứu về sự tương tác với màu sắc; các cuộc trao đổi và tìm hiểu về ảnh hưởng của thái độ, liên nhân cách và tình huống đối với kết quả trắc nghiệm và sự trình diễn của nghiệm viên khi làm test…

II.2.2. Cấu trúc, trình diễn và kết quả nghiên cứu về test Rorschach

Kết quả nghiên cứu cho thấy, ít nhất thì trong test Rorschach cũng đã bộc lộ 3 phụ thuộc cơ bản định hướng Phân tâm học.

Thứ nhất, sự phân mảnh của vết mực Rorschach minh họa vịêc khái niệm hoá mang tính phân tâm về tiến trình đáp ứng; thứ hai, về các tiến trình tư duy nằm bên dưới các đáp ứng, trả lời test Rorschach: lý thuyết phân tích tâm lý của Freud liên quan đến tổ chức cũng như sự phát triển cái tôi và tâm bệnh học được bộc lộ trong cấu trúc của trí nhớ, thiết lập quan niệm, tri giác và nhiều tiến trình tâm thần khác; thứ ba, về cái gọi là “tình huống Rorschach” và những đáp ứng Rorschach chủ yếu như hình thể, màu sắc và vận động: chẳng hạn trong quan hệ qua lại giữa các khía cạnh hình thể và nội dung trong những đáp ứng Rorschach…

Các nhà tâm lý lâm sàng ngày càng quan tâm đến việc trình diễn mang tính biểu tượng của những đáp ứng ở test Rorschach; nhiều nghiên cứu cũng đã phân tích chủ đề diễn dịch, về những động thái cơ bản của tình huống test Rorschach và mối tương tác giữa nghiệm viên và đương sự; về thực tế, xung đột và phòng vệ trong tình huống trắc nghiệm; tính duy lý trong các hiện tượng nhận thức và tưởng tượng của sự đáp ứng Rorschach có liên quan sâu xa với cách Freud phân tích giấc mơ và tâm lý học sáng tạo Kris.

Rất nhiều nghiên cứu tập trung vào các khía cạnh phòng vệ của sự đáp ứng Rorschach: nội dung đáp ứng của đương sự, mối quan hệ mà đương sự thiết lập với nghiệm viên, thái độ của anh ta tác động đến cách trả lời, cũng như những thành phần: đáp ứng toàn bộ W, đáp ứng chi tiết/ bộ phận D, hình thể F, vận động M, và các chỉ số chính thức khác.

Để đánh giá đúng đắn sự trình diễn trong test Rorschach, giới chuyên môn đưa ra 6 tiêu chuẩn chính: (a) đầy đủ bằng chứng, sự kiện; (b) chiều sâu của trình diễn tương thích với cứ liệu; (c) sự khác biệt của dạng thức thiết lập khuynh hướng trình diễn; (d) vị trí thứ bậc trong tổng số bức tranh nhân cách phải gắn kết với chiều kích trình diễn; (e) các khía cạnh thích nghi và bệnh lý của xu thế trình diễn là chuyên biệt (Schafer, 1954, tr.140- tr.159).

Các nhà nghiên cứu Rorschach nêu một số yếu tố tâm lý cơ bản bộc lộ trong cấu trúc test Rorschach:

-Sự vận hành của tư duy, trí năng;

-Thế giới tưởng tượng;

-Các trải nghiệm cảm xúc;

-Sự gây sốc của màu và đen-xám;

-Nội dung liên tưởng;

-Các ý nghĩa và khía cạnh khác nhau trong các đáp ứng, trả lời;

-Những thành tố của hành vi;

-Kiểu hình kinh nghiệm,…
(Beck, 1949, tr.10- tr.62).

Chính trên cơ sở Phân tâm học mà một số vết mực của Rorschach đã được gọi tên; ví dụ, hình IV: người cha; h.VI: tính dục; h.VII và h.IX: người mẹ; h.IV, VI, VIII: phái tính nam; h.II, V, VII, IX: phái tính nữ,…

Vì thế chăng mà Koppitz (1982) đã không xem test Rorschach là công cụ trắc nghiệm hữu dụng trong học đường và cho rằng, qua thời gian và nỗ lực điều chỉnh, nó chỉ khả thi trong bối cảnh lâm sàng (Gutkin, 1990, tr.427).

Nhằm cải thiện test Rorschach, bộ ba Hệ thống Nhận hiểu/ Exner’s three-volume Comprehensive System của Exner ra đời (1974, 1978, 1986; Exner & Weiner, 1982).

Trong hệ thống này, 10 vết mực của Rorschach được đưa ra cho đương sự với lời hướng dẫn: “Hãy cho tôi biết đây có thể là cái gì?” Một hệ thống tính điểm phức tạp có thể được phép dùng đến mức độ 90 cho mỗi đáp ứng, phân thành 7 mục chính (Exner, 1986) như sau:

1. Định khu/ Location; 2. Ưu thế/ Determinants; 3. Hoạt động cấu trúc hoá/ Organizational Activity; 4. Đáp ứng phổ thông/ Populars; 5. Nội dung các câu trả lời/ Contents; 6. Điểm số đặc biệt/ Special Scores.

Điều đáng lưu ý, trong hệ thống Exner, test Rorschach được đánh giá chủ yếu là nhiệm vụ khái niệm- nhận thức và chỉ là phái sinh của kỹ thuật phóng chiếu. Sự trình diễn/ interpretation đến từ 3 nguồn:

1. Khái quát cấu trúc/ The Structural Summary: dữ liệu từ danh sách 7 mục loại nói trên được chuyển dạng vào tần suất tính đếm (ví dụ, số đáp ứng màu sắc) và tỷ lệ (ví dụ, tỷ lệ vận động tích cực/ vận động tiêu cực).

2. Trình tự tính điểm/ The Sequence of Scores: Điểm của các hình từ 1 đến 10 được xem xét theo mô hình một cách kế tiếp nhau nhằm bộc lộ tiến trình làm test của đương sự.

3. Phân tích nội dung/ Analysis of the Content: Những đáp ứng của cá nhân được xem xét theo mô hình, nội dung bất thường và chất liệu phóng chiếu.

Piotrowski (1982) đã đưa ra một ví dụ làm nổi bật trách nhiệm pháp lý không thể nghi ngờ trong lĩnh vực tâm bệnh. Ông mô tả một một phụ nữ trẻ tuổi có những phẩm chất tốt đẹp- thông minh, có năng lực, sáng tạo, chăm chỉ, dễ thương; tuy thế, cô này lại mất định hướng hoặc ý nghĩa của mục đích sống, nhiều dấu hiệu cho thấy sắp xuất hiện vấn đề.

Đặc trưng hình III test Rorschach rất khó thuyết minh cho một đáp ứng kiểu như “Hai người đàn bà Phi châu đối mặt nhau và đang mang theo một nồi thức ăn.” Đây là những đáp ứng của cô ấy:

Hai người Phi châu có tính sáng tạo thánh thần. Đầu tiên, họ trông giống phụ nữ, nhưng bây giờ họ là đàn ông. Đàn ông có tính sáng tạo thánh thần. Dạ dày họ thì gắn chặt với cổ tay họ. Tôi không biết tại sao, nhưng họ rất kỳ lạ.

Piotrowski chỉ ra rằng, việc người phụ nữ trẻ còn nhận thức được trả lời rất khác thường của bản thân mình ngụ ý năng lực nội tâm của cô vẫn chẳng thay đổi, dù đang tăng dần dấu hiệu rối loạn tâm thần phân liệt.

Chẩn đoán này của Piotrowski được hỗ trợ từ hậu quả tiến triển hành vi của cô ta: sút giảm trí năng, bỏ học vì một công việc tầm thường, lương thấp, và sống ở mức tồn tại tối thiểu. Tất cả những sự kiện như thế làm mất hết ý nghĩa về mặt bằng đạt được trước đây của cô này (Willerman, 1990, tr.95- tr.97).

Test Rorschach còn có thể được sử dụng để chẩn đoán phân biệt giữa động kinh/epilepsy và nhiễu tâm (Pompilo, 1951). Bên cạnh đó, cũng có thể thấy ở bệnh nhân động kinh cũng có một số nét “chức năng”; nhiều tác giả cho rằng đó có thể là phản ứng đối với bệnh.

Một số tác giả cũng nhận thấy có những điểm giống nhau giữa động kinh và thực thể. Các dấu hiệu của động kinh, theo Piotrowski (1957) là:

1. Thời gian trả lời trung bình là 1 phút

2. M <> 1

4. F+% <> 29 sec

13. Sốc mầu “bổ túc”.

14. Có nội dung hung tính.


Các tác giả khác cũng đã khẳng định những dấu hiệu này. Delay và cs. (1955) xác định được 7/14 dấu hiệu ở 48% số bệnh nhân nghiên cứu, 80% số bệnh nhân có từ 5 dấu hiệu trở lên.

Rorschach phải tốn 10 năm để hoàn thành bộ test nổi tiếng ngày nay mang tên ông. Ngay từ rất sớm, ông đã tự nói về quá trình “thử và sai” trong chính trắc nghiệm của mình:

Khởi thuỷ thì kế hoạch thực nghiệm dựa trên nền tảng lý thuyết. Trắc nghiệm này hoàn toàn là thực nghiệm cơ bản, không cần tìm kiếm đâu xa, các kết quả thực nghiệm chỉ cho chúng ta thấy tự thân chúng đã mang giá trị chẩn đoán. Chỉ điều này thôi đủ làm cho một thực nghiệm trở thành test. Bước tiếp theo của chúng tôi là áp dụng nó vào lâm sàng như một công cụ kiểm soát. Dự định sau đó, hiểu biết về các chẩn đoán- từ việc ghi lại đáp ứng- đạt được nhờ những đồng nghiệp đối với những chủ đề mà tôi không biết. Những chẩn đoán đạt được càng chính xác bao nhiêu- bất kể giới tính, tuổi tác, dù đó là trạng thái sức khoẻ tốt, loạn thần hay rối nhiễu tâm căn- thì càng chắc chắn rằng phương pháp phải là chính xác.
(Aderson, 1953, tr.104).

Khó phủ nhận chất huyền bí và khả năng ứng dụng to lớn của test Rorschach, dù độ tin cậy và tính hiệu lực của nó vẫn còn là một vấn đề không dễ giải quyết rốt ráo.

Như Holt (1960) phát biểu, sử dụng test Rorschach là chuyện của nghệ thuật, luyện tập năng lực trực giác và thử nghiệm theo cách thức rất khó diễn tả thành lời.

Nhìn từ góc độ đó, vấn đề tính hiệu lực/ validity của test Rorschach trở thành điểm mấu chốt hạn chế trước nhất những gì mà các nhà chẩn đoán lâm sàng có thể đạt được, và ngăn trở họ tìm cách phát hiện ra chúng. Rất ít nghiên cứu loại này được tiến hành.

----------
Tài liệu tham khảo:

1. Aderson, Harold H., Anderson, Gladys L. (1953). An Introduction to Projective Techniques & Other Devices for the Dynamics of Human Behavior/ Dẫn nhập về kỹ thuật phóng chiếu và các công cụ khác cho việc am hiểu động lực học của hành vi. (3rd edn.) New York: Prentice-Hall, Inc.

2. Aiken, Lewis R. (1997). Psychological Testing and Assessment/ Trắc nghiệm tâm lý và sự lượng giá. (9th ed.) USA: Allyn & Bacon.

3. Alarcón, Renato D., Foulks, Edward F., Vakkur, Mark. (1998). Personality Disorders and Culture- Clinical and Conceptual Interaction/ Văn hoá và các rối loạn nhân cách- tương tác lý thuyết và lâm sàng. Canada: John Wiley & Sons, Inc.

4. Beck, Samuel J. (1949). Rorschach’s Test- A Variety of Personality Pictures/ Test Rorschach- tập hợp những bức tranh nhân cách muôn màu. (vol. II). New York: Grune & Stratton.

5. Bergin, Allen E., Garfield, Sol L. (eds). (1971). Handbook of Psychotherapy and Change Behavior Change: An Emperical Analysis/ Sổ tay thay đổi hành vi và tâm lý trị liệu: phân tích thực nghiệm. Canada: John Wiley & Sons, Inc.

6. Burlatruk, L. F. (1979). Nghiên cứu nhân cách trong Tâm lý lâm sàng. Kiev: Nxb. Đại học, 146 trang (tiếng Nga).

7. Conte, Hope R., Plutchik, Robert. (1995). Ego Defenses- Theory and Measurement/ Phòng vệ bản ngã- lý thuyết và định lượng. Canada: John Wiley & Sons, Inc.

8. Corsini, Raymond J., Auerbach, Alan J. (eds.) (1996). Concise Encyclopedia of Psychology/ Từ điển bách khoa giản yếu Tâm lý học. (2nd edn.) Canada: John Wiley & Sons, Inc.

9. Cronback, Lee J. (1960). Essentials of Psychological Testing/ Những yếu tính của trắc nghiệm tâm lý. (2nd ed.) New York: Harper & Brothers Publisher.

10. Feldman, Robert S. (1997). Essentials of Understanding Psychology/ Những hiểu biết căn bản về Tâm lý học. (3rd ed.) USA: The McGraw-Hill Companies, Inc.

11. Foley, Linda Anderson. (1993). A Psychological View of the Legal System/ Một cái nhìn tâm lý về hệ thống luật pháp. USA: Wm. C. Brown Communications, Inc.

12. Gutkin, Terry B., Reynolds, Cecil R. (eds.) (1990). The Handbook of School Psychology/ Sổ tay Tâm lý học đường. (2nd edn.) Canada: John Wiley & Sons, Inc.

13. Hothersall, David. (1995). History of Psychology/ Lịch sử Tâm lý học. (3rd ed.) USA: The McGraw-Hill Companies, Inc.

14. Magnavita, Jeffrey J. (2002). Theories of Personality- Contemporary Approaches to the Science of Personality/ Các lý thuyết Nhân cách- Các cách tiếp cận Khoa học Nhân cách. New York: John Wiley & Sons, Inc.

15. Nolen-Hoeksema, Susan. (1998). Abnormal Psycholgy/ Tâm lý học bất thường. USA: The McGraw-Hill Companies, Inc.

16. Schafer, Roy. (1954). Psychoanalytic Interpretation in Rorschach Testing: Theory and Application/ Trình diễn Phân tâm học trong test Rorschach: lý thuyết và ứng dụng. New York: Grune & Stratton.


17. Sdorow, Lester M., Rickabaugh, Cheryl A. (2002). Psychology/ Tâm lý học. (5th ed.) USA: The McGraw-Hill Companies.

18. Shapiro, Dean H., & Astin, John. (1998). Control Therapy- An Integrated Approach to Psychotherapy, Health, and Healing/ Trị liệu Kiểm soát- Tiếp cận tích hợp Lành bệnh, Sức khoẻ và Tâm lý trị liệu. Canada: John Wiley & Sons, Inc.

19. Trull, T. J., Phares, E. J. (2001). Clinical Psychology/ Tâm lý học Lâm sàng. USA: Wadsworth.

20. Willerman, Lee., Cohen, David B. (1990). Psychopathology/ Tâm bệnh học. USA: The McGraw-Hill, Inc.

Kết quả nghiên cứu cho thấy, ít nhất thì trong test phóng chiếu -nhân cách Rorschach cũng đã bộc lộ 3 phụ thuộc cơ bản định hướng Phân tâm học.

-Thứ nhất, sự phân mảnh của vết mực Rorschach minh họa cho việc khái niệm hoá mang tính phân tâm học về tiến trình đáp ứng;

-thứ hai, về các tiến trình tư duy nằm bên dưới các đáp ứng, trả lời test Rorschach: lý thuyết phân tích tâm lý của Freud liên quan đến tổ chức cũng như sự phát triển cái tôi và tâm bệnh học được bộc lộ trong cấu trúc của trí nhớ, thiết lập khái niệm, tri giác và nhiều tiến trình tâm thần khác;

- thứ ba, về cái gọi là "tình huống Rorschach" và những đáp ứng Rorschach chủ yếu như hình thể, màu sắc và vận động: quan hệ qua lại giữa các khía cạnh hình thể và nội dung trong những đáp ứng Rorschach chẳng hạn,...

Các nhà tâm lý học lâm sàng ngày càng quan tâm đến việc diễn dịch mang tính biểu tượng của những đáp ứng ở test Rorschach; nhiều nghiên cứu cũng đã phân tích chủ đề diễn dịch, về những động thái cơ bản của tình huống test Rorchach và mối quan hệ tương tác giữa nghiệm viên và đương sự; về thực tế, xung đột và phòng vệ trong tình huống trắc nghiệm; sự duy lý trong các hiện tượng nhận thức và tưởng tượng của việc đáp ứng Rorschach có liên quan sâu xa với cách Freud phân tích giấc mơ và tâm lý học sáng tạo của Kris.

Rất nhiều nghiên cứu tập trung vào các khía cạnh phòng vệ của sự đáp ứng Rorschach: nội dung đáp ứng của đương sự, mối quan hệ mà đương sự thiết lập với nghiệm viên, thái độ của anh ta tác động đến cách trả lời, cũng như những thành phần: đáp ứng toàn bộ W; đáp ứng chi tiết, bộ phận D; hình thể F; vận động M và các điểm số chính thức khác.

Nói chung, có hàng tá cách ghi điểm cơ bản trong test Rorschach, được quy vào 3 loại: định khu/ location, những hình thể nổi bật/ determinants và nội dung/ content.

[Lee J. Cronbach. (1960) (2nd edn). Essentials of Psychological Testing.New York: Harper & Brothers, pp.562-566]

Để đánh giá đúng đắn sự diễn dịch trong test Rorschach, người ta đề nghị 6 tiêu chuẩn chính:

(a) đầy đủ bằng chứng, sự kiện;

(b) chiều sâu của diễn dịch tương thích với cứ liệu;

(c) sự khác biệt của các dạng thức thiết lập khuynh hướng
diễn dịch;

(d) vị trí thứ bậc trong tổng thể bức tranh nhân cách phải gắn kết với chiều kích diễn dịch;

(e) các khía cạnh thích nghi và bệnh lý của xu thế diễn dịch là chuyên biệt.

[Roy Schafer. (1954). Psychoanalytic Interpretation in Rorschach Testing: Theory and Application. New York: Grune & Stratton, pp. 140-159].

Các nhà nghiên cứu nêu ra một số yếu tố tâm lý cơ bản trong cấu trúc của test Rorschach:

- Sự vận hành của tư duy, trí năng;

- Thế giới tưởng tượng;

- Các trải nghiệm cảm xúc;

- Sự gây sốc của màu và đen-xám;

- Nội dung liên tưởng;

- Các ý nghĩa và khía cạnh khác nhau của các trả lời, đáp ứng;

- Những thành tố của hành vi;

- Kiểu hình kinh nghiệm,...

[Samuel J. Beck. (1949). Rorschach's Test. (vol.II): A Variety of Personality Pictures. New York: Grune & Stratton, pp.10-62]

Chính trên cơ sở Phân tâm học mà một số vết mực Rorschach đã được gọi tên; ví dụ: h.IV là người cha; h.VI: tính dục; h.VII và h.IX: người mẹ; h.IV, VI, VIII: phái tính nam; h.II, V, VII, IX: phái tính nữ,...

Nhìn chung, có thể nói rằng, phương pháp Rorschach là một công cụ nghiên cứu định hướng nhiều đến động cơ muốn giải thích, ở các mức độ khác nhau, về hoạt động và sự tương tác trong thành phần nhân cách; những sự giới hạn của test Rorschach vẫn còn chưa được đề cập đầy đủ.

Dưới đây là tài liệu tôi được cung cấp, lấy từ nguồn dự án đào tạo NGO tại Việt Nam năm 1996.

Nhằm ý thức và hiểu rõ sâu sắc hơn về chính mình, bạn hãy thử trả lời cho riêng bản thân những câu hỏi sau đây (về ý nghĩ, thái độ, giá trị) bằng thái độ cởi mở để xem xem có lợi đến đâu nhé!

Yên tâm đi, cuộc sống tuyệt đối khôn ngoan nên thành thật, bạn chẳng cần phải băn khoăn lắm; vì thực tế, nhìn đâu xa, ngay chính những người già hơn bạn, quyền lực lớn hơn, khiến ta ngưỡng vọng đây đó,... dường như cũng đang loay hoay tìm câu trả lời tương tự.

1. Khi tôi vui, tôi thường hay......................

2. Khi tôi buồn, tôi thường hay........................

3. Khi có chuyện bực bội, tôi thường hay................

4. Trong gia đình, tôi rất gần với............................... bởi vì.............................

5. Tôi mong muốn gia đình tôi......................

6. Tôi ước mong người tôi yêu thương..................

7. Khi có vấn đề khó khăn, tôi tìm đến ................. để................

8. Khi phải giải quyết một việc khó khăn,
tôi thường hay.............................

9. Tôi sợ nhất là......................

10. Tôi thích nhất là....................

11. Tôi ngại nhất là......................

12. Tôi tin tưởng nhất là................

13. Tôi không thích người nào hay.................

14. Khi ai cần tôi giúp đỡ điều gì, tôi thường..................

15. Khi cần ai giúp đỡ điều gì, tôi thường...................

16. Tôi rất giỏi về..............................

17. Tôi thường hay gặp khó khăn với..........................

18. .................................là những điều quan trọng nhất trong cuộc sống của tôi.

19. Tôi muốn................................

20. Người ta thường..........................


Bình an và may mắn, mọi điều đến như ý bạn!

Rất nhiều nhà tâm lý lâm sàng lừng danh đã sử dụng trắc nghiệm vết mực Rorschach/ Rorschach Inkblot Test để khám phá những diễn tiến không thể ngờ tới trong tâm tưởng.

Mặc dù vậy, dư luận vẫn chưa từ bỏ nghi vấn rằng, phải chăng test Rorschach chỉ thực sự là biến thể của thuật chiêm tinh và phép bói bài?

Giới chuyên môn cho là không có trắc nghiệm nhân cách nào chuẩn mực hơn test do nhà tâm thần học Thụy Sĩ Hermann Rorschach tạo ra (
tham khảo ở đây).

Vào năm 1917, Rorschach đưa ra ý tưởng sử dụng một tập hợp 10 giọt mực trừu tượng, đối xứng để tìm hiểu xem người ta nhìn thấy những gì.

Với sự mơ hồ của chúng, Rorschach tin là mình đã tạo nên một "môi trường chân không tri giác" chảy vào các khuynh hướng nội tâm của đối tượng trắc nghiệm.

Không chỉ những gì họ thấy (những hình ảnh không lành mạnh, bất thường chẳng hạn), test còn chỉ ra cả cách thức nhìn nhận như thế nào, dù cho người ta bộc lộ cảm xúc hay hướng về màu sắc thông qua hình thể ưa thích; những phản ảnh này làm nổi bật lên phương thức nhận hiểu của đương sự, và qua đó, cho biết họ là ai.

Theo Rorschach, trắc nghiệm này không những chẩn đoán các bệnh tâm thần mà còn cung cấp một bản đồ chi tiết về "vô số sắc thái khác nhau của nhân cách".

Tại Hoa Kỳ, tuy test Rorschach lan toả rộng khắp, song vào thập niên 1960, nó đã bị chỉ trích bởi thiếu sự hỗ trợ về mặt thống kê.

Giới chuyên môn góp phần bổ sung, chuẩn hoá bộ test thú vị và hiệu quả này. Ngày nay, test Rorschach có cơ nằm lặng lẽ ở dòng chú thích cuối trang nếu nhà tâm lý học lừng danh John Exner, vào năm 1974, không giới thiệu một phiên bản hiện đại thông dụng nhất dưới dạng một hệ thống tính điểm ma trận cho trắc nghiệm mang tên Hệ thống nhận hiểu/ Comprehensive System.

Trắc nghiệm này chứa hơn 140 thành tố, gồm một chỉ mục trầm cảm/ Depression Index, một chỉ mục tính vị kỷ quá đáng/ Egocentricity Index và một thang đo tỷ lệ khát vọng/ Aspirational Ratio. Tất cả các nhà nghiên cứu về Rorschach đều tín nhiệm với bộ test của Exner.

Trong bối cảnh pháp lý và lâm sàng trị liệu, các chứng lý từ test Rorschach vẫn còn tỏ ra uy quyền; hệ quả là, nó có thể làm người ta tan hoang cuộc đời hay phải trả chi phí hàng triệu dollars bởi sự thống trị nguy hiểm ngụy khoa học.

Xử lý dữ liệu của hơn 30 công trình nghiên cứu về Rorschach, người ta thấy trắc nghiệm này đã bộc lộ rõ rệt khuynh hướng gán nhãn bệnh tâm thần cho người bình thường.

Người ta đã tìm thấy những kết quả trái ngược nhau liên quan đến hiệu lực của test Rorschach. Một nghiên cứu sớm nhất của Rogers, Knauss, & Hammond (1951) chỉ ra kết quả tiêu cực về cách tính điểm số; Kotkov & Meadow (1953) lại nhận thấy một số gắn kết của ba chỉ số Rorschach (hình thể và màu sắc FC-CF, số lượng câu trả lời R và tỷ lệ hình chi tiết D%) trong quan hệ với trị liệu nhóm, những bệnh nhân giảm thiểu có ý nghĩa trong trị liệu cá nhân sau khi tham gia ít nhất 9 lần nữa.

[Bergin, Allen E., Garfield, Sol L. (1971). Handbook of Psychotherapy and Behavior Change: An Empirical Analysis. John Wiley & Sons, Inc; pp. 279-280].

Từ góc nhìn khác, nhà tâm lý học David Medoff, một trong những người xiển dương, lại cho rằng test Rorschach là thủ tục thông dụng nhất trong lĩnh vực toà án "nó hiện vẫn tràn đầy sức sống, bổ sung thông tin nền tảng cho việc ra các quyết định xét xử và định tội danh."

Công bố lần cuối cùng vào năm 1921, test Rorschach (với 10 tấm card trong tổng số 15 nguyên bản để cắt giảm chi phí và hạn chế, ngăn ngừa lỗi in ấn) tìm thấy chỗ trú ẩn tại Liên bang Soviet, nơi chào đón nồng hậu lý thuyết Phân tâm học của Freud và Jung.

Một trong những tư liệu phân tích sáng giá của test Rorschach là "22 xà lim ở Nuremberg", do nhà tâm thần học Douglas Kelley tiến hành tại phiên toà xét xử những tên cầm đầu Đức quốc xã Nazi năm 1946.

Nhìn vào một vết mực, trùm mật vụ Rudoff Hess thấy "hai người đàn ông đang trò chuyện về tội ác, máu chảy trong trí tưởng họ." Còn Robert Ley, cựu chủ tịch Mặt trận Lao động Đức, nhìn ra một con gấu: "Ông có thể thấy cái đầu, hàm răng và những cái chân cực to. Có bóng tối và những cánh tay kỳ dị; nó thật sống động, biểu hiện chủ nghĩa Bolshevism tràn qua châu Âu."

Từ khi được chấp nhận, dường như test Rorschach trộn lẫn cả chủ nghĩa thần bí và ngụy khoa học; thậm chí, ngay trong số những người hiểu biết về giá trị của test, vẫn tồn tại sự bất đồng khi diễn dịch các trả lời đáp ứng. Có lẽ, các nhà tâm lý lâm sàng vẫn duy trì niềm tin mạnh mẽ rằng, trực giác và kinh nghiệm thực tiễn lâm sàng cung cấp những soi sáng nội tại sâu thẳm hơn là chỉ dựa vào mỗi kiến thức khoa học mà thôi.

Các đệ tử và môn phái của Rorschach nổi lên; mỗi hội, nhóm có thủ lĩnh lôi cuốn riêng của mình. Những năm 1930 là thời kỳ hoàng kim, đến độ người ta hân hoan gọi test Rorschach là "X-quang hiển nhiên của nhân cách" (
xem trang này).

Trắc nghiệm này trở thành tiêu chuẩn văn hoá vào năm 1984, khi Andy Warhol thực hiện một loạt các bức tranh vết mực Rorschach.

Là "cụ tổ" của các trắc nghiệm nhân cách thông dụng như MMPI, Myers-Briggs,... test Rorschach được 8/10 nhà tâm lý sử dụng mỗi năm hàng trăm ngàn lần làm công cụ chẩn đoán, người ta trưng cầu đến nó để chứng lý trong các trường hợp giám hộ, giam giữ trẻ em, cáo buộc phạm tội và kiện tụng liên quan đến tổn thương tình cảm.

Sau Chiến tranh Thế giới lần thứ hai, đã có một loạt thách thức thực sự về nền tảng lý thuyết và sự diễn giải của test Rorschach như là các nghiên cứu về những sự tương tác với màu sắc; các cuộc trao đổi và tìm hiểu về ảnh hưởng của thái độ, liên nhân cách và tình huống đối với kết quả trắc nghiệm và sự diễn giải của người ta khi làm test Rorschach...

Bài đăng cũ hơn Trang chủ