Cứ liệu cơ bản dùng để minh họa cho vài ba ý kiến sẽ nêu trong bài là hai cuốn sách mới nhất viết về lịch sử Tâm lý học của hai thầy, cô giáo hiện vẫn đang giảng dạy và hướng dẫn đề tài từ Cử nhân đến Tiến sĩ Tâm lý học, ngoài công việc làm chef và nghiên cứu khoa học (viết sách, báo, chủ nhiệm đề tài,…) ở các Viện, Hội Trung ương của ngành Tâm lý học Việt Nam.
1.GS. TS. Nguyễn Ngọc Phú. (2004). Lịch sử Tâm lý học. Hà Nội: Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, 250 tr., khổ 14,5x 20,5.
2. PGS. TS. Võ Thị Minh Chí. (2004). Lịch sử Tâm lý học. Hà Nội: Nxb. Giáo dục, 260 tr., khổ 14,5x20,5.
Trước khi đi vào nội dung chính, cũng xin nói ngay rằng, ở đây chỉ tạm khoanh vùng những sai sót khi viết về Tâm lý học Nhân văn/ Humanistic Psychology - một trường phái mà bất cứ cuốn Từ điển Tâm lý học hoặc sách viết về lịch sử Tâm lý học, bàn đến Tâm lý học Xã hội, Tâm lý trị liệu, Tham vấn,… của các tác giả sống trong xã hội phương Tây- mảnh đất ươm mầm, sinh thành và hiện tiếp tục nuôi dưỡng nền Tâm lý học Nhân văn- không thể không đề cập tới, ít nhất như là ”lực lượng thứ ba/ third force” trong Tâm lý học và/ hoặc là “sự lựa chọn khác/ alternative” bên cạnh Phân tâm học/ Psychoanalysis và chủ nghĩa hành vi/ Behaviorism.
Sử dụng công cụ tìm kiếm quen thuộc Google với từ khóa Humanistic Psychology, trong khoảng thời gian 0,29 giây đã cho ra 482.000 đường dẫn liên quan; như là ở đây.
Mặt khác, thiết nghĩ sẽ không thừa khi cẩn thận nhấn mạnh rằng, nói đến Tâm lý học/ Psychology, ấy là ta đang nói đến cội nguồn ra đời của bộ môn khoa học xã hội và nhân văn mang đặc trưng tư tưởng và văn hóa phương Tây. Một sự thật quá hiển nhiên, song không phải không nhiều lúc đã bị giới nghiên cứu Việt Nam cố tính lờ đi, hoặc chẳng được đánh giá đúng giá trị và tầm mức ảnh hưởng đến phần thế giới còn lại trong quá trình kế thừa, học hỏi từ nó.
Và vì thế, gần 3 năm trước, vào thời điểm xuất bản hai cuốn sách viết về lịch sử Tâm lý học nêu trên, tôi đã sửng sốt cao độ với những gì đọc thấy về Tâm lý học Nhân văn trong gần 10 cuốn Giáo trình Tâm lý học Đại cương dùng cho sinh viên Đại học và Cao đẳng Việt Nam (ví dụ, xin thử đọc Tâm lý học Đại cương của GS. TS Nguyễn Quang Uẩn (Hà Nội: Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, tái bản lần thứ 9, 2003; lần thứ 12, 2006); Các lý thuyết phát triển tâm lý người do các tác giả Phan Trọng Ngọ và Nguyễn Đức Hưởng biên soạn (Hà Nội: Nxb. Đại học Sư phạm, 2003) ] mà tôi tìm được trên giá sách tự chọn ở Thư viện Quốc gia.
Đến đây, xin nói đến cuốn sách của PGS. TS Võ Thị Minh Chí, một cô giáo chuyên giảng dạy môn Tâm lý học Thần kinh.
Dù là tác giả biên dịch không chuyên, song PGS. TS Võ Thị Minh Chí cũng đã dành 1/ 26 chương của toàn bộ cuốn sách để giới thiệu về Tâm lý học Nhân văn (chương II của phần Tám cuối cùng: Một số dòng Tâm lý học hiện đại, gồm 3 chương: Tâm lý học Nhận thức; Tâm lý học Nhân văn; Học thuyết của Piagiê về phát triển trí tuệ).
Chương viết về Tâm lý học Nhân văn gồm 2,5 trang tất thảy, có nêu không ít tên tác giả song được phiên âm tùy tiện, rất khó đoán ra ngay cả với sinh viên khoa Tâm lý học. Chẳng hạn:
“Lãnh tụ của Tâm lý học nhân văn là một lọat các tác giả, điển hình là G. Onpot, G.A. Miurây, S. Bulơ, K. Rốtgiê, A. Máslâu, R. Mei… Trong số các ảnh hưởng của triết học lên tâm lý học nhân văn phải kể đến chủ nghĩa hiện sinh.” [sic] (tr. 248)
Có lẽ, đó là các tên tuổi sau: Gordon Allport (1897-1967), Henrry Murray, Carl Roger (1902-1987), Abraham Maslow (1908-1970), Rollo May?
Tôi xin trích dẫn hai đoạn khá dài chiếm hơn phân nửa nội dung viết về Tâm lý học Nhân văn, trước khi chỉ cần bình luận tí chút thôi:
“…Người có công phát triển Tâm lý học nhân văn phải kể đến là K. Rốtgiê (1902-1987) [in đậm trong nguyên bản]. Ông là tác giả của học thuyết về nhân cách sáng tạo, tương ứng với nó là tâm lý trị liệu nhân cách- định hướng rất nổi tiếng với tên gọi “Khách hàng là trung tâm của trị liệu”.
Tiếp theo, các phong trào trị liệu theo nhóm được phát triển rất mạnh nhằm tăng cường giao tiếp nhóm. Tiếp theo, trong khuôn khổ tâm lý trị liệu và các dịch vụ khác về tâm lý đối với những người khỏe mạnh đã sử dụng không chỉ các học thuyết của Tâm lý học nhân văn mà cả các tiếp cận lý luận khác nhau. Việc thiếu lý luận khoa học cộng với sự xuất hiện của một số kẻ cơ hội trong nghiên cứu khoa học theo hướng này đã dẫn đến sự xuất hiện các hiện tượng không như mong muốn: hàng loạt các mặt hàng của chủ nghĩa hiện sinh được đưa ra quảng cáo lại như: sự tự do, tính cộng đồng, tính linh họat, tình yêu, sự sung sướng… Chúng được bắt đầu từ việc sử dụng một cách thoải mái và kết thúc bằng sự “thoát y vũ” về tâm lý.
Tâm lý học nhân văn, đặc biệt đại diện ban đầu khởi xướng ra nó đã theo khuynh hướng nghiên cứu nhân cách toàn diện, cụ thể và những vấn đề hiện thực của nó. Ý nghĩa tích cực của Tâm lý học nhân văn có thể thấy rõ là đưa ra kinh nghiệm thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, trong đó tâm lý trị liệu đã thực hiện vai trò to lớn trong việc xây dựng cơ sở lý luận. Hơn thế nữa, Tâm lý học nhân văn cũng đã giúp cho những số phận bị tha hóa bởi cuộc sống trong các điều kiện văn hóa tư sản trở về đời thường. Tuy nhiên, các phương pháp mà các nhà tâm lý học nhân văn đã sử dụng lại là những phương pháp như nghiên cứu lâm sàng tỉ mỉ, quan sát và nghệ thuật biện luận thế giới bên trong của người khác, phương pháp phân tích tiểu sử; Đấy là những phương pháp hoàn toàn đối lập với phương pháp nghiên cứu thực nghiệm hay sử dụng thống kê toán học để phân tích số liệu thường gặp trong các nghiên cứu về Tâm lý học với tư cách là một ngành khoa học.” [sic] (tr.249-250)
Tạm bỏ qua lỗi chính tả và cách diễn đạt câu cú cũng như cấu trúc, tên gọi các phần, chương của sách, tôi tin rằng hầu hết bạn đọc công tâm với thái độ đọc có phê phán chắc chắn sẽ khó tán đồng với những lập luận, nhận định thiếu logic, lộ rõ cảm tính, và còn lâu mới đủ độ thuyết phục, vừa được trích dẫn ở trên.
Chẳng hạn, không cần biết cụ thể lắm về cách tiếp cận thân chủ-trọng tâm trị liệu/ Client-Centered Therapy nổi tiếng của C. Roger cũng như về trường phái Tâm lý học Nhân văn nói chung, thì sinh viên Tâm lý học sẽ nghi ngờ về không ít “thuật ngữ” cực kỳ khó hiểu và hoàn toàn xa lạ như “tâm lý học trị liệu nhân cách”, “phương pháp lâm sàng tỉ mỉ”; hoặc băn khoăn tự hỏi những gì họ vẫn được dạy về phương pháp luận nghiên cứu tâm lý học lâu nay té ra là sai bét nhè (!)
Chi chi, dù có nhiều lỗi không nên phạm phải, thì ít nhất PGS. TS Võ Thị Minh Chí cũng đã chứng tỏ tham vọng cung cấp thông tin (tuy thiếu chân thực, không đầy đủ) cho bạn đọc.
Đáng buồn và đáng tiếc hơn, là một trong hai tác giả xuất bản sách cập nhật nhất bằng Việt ngữ viết về lịch sử Tâm lý học, thế nhưng GS.TS Nguyễn Ngọc Phú không hề dành một dòng chữ nào nhắc đến Tâm lý học Nhân văn, nói gì việc có một tiểu mục hoặc chương sách vài ba trang.
Của đáng tội, có chăng, trong Chương XI: Sự hình thành và phát triển Tâm lý học Họat động (tr.201- tr.222), xuất hiện cụm từ “và nhiều dòng phái tâm lý học đã có" (?) trong câu: “Các trường phái tâm lý học ở thời kỳ này: Tâm lý học Gestalt, Tâm lý học hành vi, Phân tâm học (Freud) và nhiều dòng phái tâm lý học đã có trên thực tế không đáp ứng được đòi hỏi đó.” (tr.201) ám chỉ đến Tâm lý học Nhân văn chăng?
Đòi hỏi gì ư? Xin đọc nguyên văn đoạn ngay trước câu vừa trích dẫn:
“Sự khủng hoảng của tâm lý học cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX là sự khủng hoảng về phương pháp luận trên con đường tìm kiếm xây dựng tâm lý học trở thành một khoa học thực sự khách quan phục vụ cho cuộc sống của con người.” [sic] (loc.cit.)
Nhân tiện, trong “Chương XII: Sự hình thành và phát triển Tâm lý học ở Việt Nam", đoạn giới thiệu về các tác gia, tác phẩm tiêu biểu của nền tâm lý học thế giới cũng không thấy xuất hiện danh tính nào thuộc Tâm lý học Nhân văn [nên dĩ nhiên sẽ vắng bóng các tên tuổi hàng đầu của Tâm lý học Nhân văn như A. Maslow (1908-1970), C. Roger (1902-1987),…]:
“Sự trưởng thành và phát triển của tâm lý học Việt Nam có sự tác động ảnh hưởng to lớn của nền Tâm lý học thế giới. (nhấn mạnh trong nguyên bản) Kể từ đại hội lần thứ XXI các nhà tâm lý học thế giới, năm 1976 tại Paris, lần đầu tiên có Đoàn đại biểu của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam tham dự. Cho đến nay, có nhiều tác gia, tác phẩm tiêu biểu của nền tâm lý học thế giới đã được nghiên cứu và giới thiệu rộng rãi ở Việt Nam như S. Freud, Fischer, Howard Gardner, Daniel Goleman, J. Piaget, L.X. Vưgốtxki, X.L. Rubinstêin, D.N. Udơnatze, A.R. Luria, A.N. Leonchiev, B.Ph. Lomov và nhiều người khác.” [sic]
Thật ấn tượng, có tới 6/11 tác giả là của Liên Xô (cũ); và trong số 5 tên tuổi còn lại thì sự thực không phải tất cả họ đều mang ý nghĩa “tiêu biểu” cho nền tâm lý học thế giới.
Tại sao một cuốn sách của nguời chuyên giảng dạy bộ môn Lịch sử Tâm lý học cho sinh viên Đại học và sau Đại học lại mắc lỗi nặng nề và sơ đẳng đến vậy?
Để hiểu phần nào lý do, tôi đã đọc lướt tất cả 52 đầu sách trong phần Tài liệu tham khảo, và thấy năm xuất bản của sách Việt ngữ trong khoảng 1980 đến 2003 (các sách được dẫn có liên quan đến Tâm lý học tôi đều đã đọc qua), với không ít cuốn đề cập đến nhiều lĩnh vực triết học, văn hóa, văn minh.
Trong đó, số tài liệu tiếng nước ngoài là 10/ 52; bằng tiếng Nga là 7/ 10 với khoảng năm xuất bản 1977-1990, và 3/ 10 cuốn còn lại bằng tiếng Pháp: Từ điển thiết yếu về tâm lý học (1997); Từ điển thông dụng về danh từ riêng (1990) và Tâm lý học Xã hội (1995).
Còn biết nói gì thêm nữa đây? Run tay! Bó tay! Thả tay!
Phân loại: Học vấn, Quan hệ, Suy tư, Tâm lý học Dân tộc, Tâm lý học Giáo dục
Bài đăng Mới hơn Bài đăng Cũ hơn Trang chủ