Học giả trường Cambridge Baron- Cohen nhìn nhận thấu cảm là “sự năng động định dạng những suy nghĩ và cảm xúc của người khác, rồi đáp ứng chúng với một xúc cảm thích hợp”/ empathy as “the drive to identify another person’s emotions and thoughts, and to respond to them with an appropriate emotion.”
Theo Baron- Cohen, bản chất của não người hoặc là hướng đến năng lực thấu cảm (kiểu não E) hoặc nhắm tới việc hiểu biết các hệ thống (kiểu não S).
Nghiên cứu của Cohen cho thấy, năng lực thấu cảm của phụ nữ tốt hơn nam giới, nhưng khả năng hệ thống hóa ở họ lại không mạnh mẽ bằng. Trong khi đó, cánh đàn ông lại chú tâm vào cách thức sự việc vận hành, vào các hệ thống, và ít hứng thú việc trò chuyện những đề tài cảm xúc chẳng hạn.
Điều này có liên quan đến căn bệnh tự kỷ/ autism: một rối loạn xảy đến ở giống đực nhiều hơn trong hầu hết đối tượng mắc tự kỷ.
Trong cái nhìn mới về sự kết nối giữa tâm trí và thân xác, các nhà khoa học so sánh hình ảnh chụp fMRI não của những đối tượng tham gia thực nghiệm: những người này đã lãnh nhận kích thích đau đớn lúc họ quan sát thấy dấu hiệu người yêu thương của mình đang phải chịu đựng một kích thích đau đớn.
Tức là, các đối tượng thấu hiểu/ empathize cảm xúc của người khác trong khi vắng bóng hoàn toàn bất kỳ kích thích cảm giác bên ngoài nào.
Các nhà nghiên cứu nhận thấy, trong thấu cảm thì chỉ một phần não thuộc hệ limbic/ anterior cingulate cortex và thùy não trước/ anterior insula là đều bị kích hoạt đáp ứng với xúc cảm và không lượng giá cảm giác.
Thấu cảm là khả năng hiểu những kinh nghiệm nội tại của người khác/ the ability to understand the internal experiences of another. Đó là cơ chế nền tảng tạo nên kết quả của các sự kiện thể thao, điện ảnh hoặc các trò chơi game thú vị.
Thấu cảm là bản chất chính yếu mang tính người kết nối đồng loại với nhau, cho phép tương tác và truyền thông thuận lợi.
Khi thiếu hụt thấu cảm, các điều kiện như tự kỷ có thể gây ra cảm giác xa cách, phân ly cá thể với tha nhân. Thậm chí, những mức độ khác biệt tế nhị cũng có thể dẫn đến nhiều cách tiếp cận giao tiếp khác nhau.
Kiểu tiếp cận định hình “hợp tác”/ the stereotypical “collaborative” approach của phụ nữ ngược hẳn với kiểu “cạnh tranh”/ “competitive” approach của đàn ông có thể được quy cho bởi mức độ khác biệt về thấu cảm giữa hai giới. Như thành phần cơ bản của giao tiếp, thấu cảm cho phép ta hiểu biết người đối thoại, học hỏi và sống với tha nhân.
Trong khi định nghĩa về thấu cảm hầu như đã được số đông tán đồng, thì cơ chế chủ yếu của thấu cảm vẫn còn là chủ đề nóng bỏng trong nghiên cứu khoa học.
Một lý thuyết với tên gọi là “lý thuyết lý thuyết/ theory theory” đề nghị một sự phân tích, chứng cớ nền tảng cho thấu cảm. Mọi người hiểu hành động hiện thời của người khác nhờ việc sử dụng phân tích dựa trên kinh nghiệm trước đây về những hành động tương tự.
Lý thuyết bắt chước/ simulation theory lại giải thích thấu cảm dựa trên mô hình kinh nghiệm về người khác trong tâm trí của mình, như đặt cái tôi trong đôi giày của tha nhân.
Một khía cạnh của thấu cảm là khả năng hiểu dự định của người khác. Các tế bào thần kinh gương/ mirror neurons (nằm rải rác trong các vùng khác nhau của não) chỉ kích hoạt khi một hành động mang tính định hướng mục tiêu được quan sát, và chỉ khi hành động đó được thiết lập bởi một phần cơ thể (hơn là bởi một dụng cụ, ví dụ thế).
Điều này chứng tỏ có một sự kết nối giữa các neuron gương và khả năng đưa tới những vận động tiềm năng của người khác.
Hơn nữa, các neuron gương tỏ ra tích cực hơn khi một hành động định hướng mục tiêu được nhìn trong bối cảnh sinh ra thêm nhiều manh mối về dự định. Ví dụ, tế bào gương hoạt động năng nổ hơn khi một bàn tay được quan sát là đang nhặt một cái tách trong môi trường bẩn thỉu, bừa bãi hơn là trong một môi trường trung tính, ra dấu một suy luận khác, chẳng hạn người ta dự định đi rửa sạch nó.
Một khía cạnh nữa của thấu cảm là năng lực cảm nhận những gì người khác đang cảm nhận, cũng phản ánh tầm quan trọng của các tế bào gương.
Khi quan sát thấy kẻ khác đau đớn, các vùng não điều khiển sự đau đớn bị kích hoạt làm cho người ta ở trong trạng thái đau đớn. Thùy não trước và một bộ phận não thuộc hệ limbic đều bị kích hoạt khi một cảm xúc được nhìn nhận và khi nó được cảm thấy, như sự thất vọng chẳng hạn, chỉ ra rằng sự quan sát một xúc cảm tạo nên một mô hình tâm trí về xúc cảm ấy ở người quan sát.
Sự khác biệt trong hoạt động não giữa kinh nghiệm thực tế và sự quan sát có thể phản ánh mục đích của thấu cảm, chẳng hạn việc thấu hiểu kinh nghiệm của người khác.
Sự thấu hiểu này có thể đạt được mà không cần thả mình hoàn toàn vào kinh nghiệm hay xúc cảm của người khác, tức là ở đây các tế bào gương tạo nên một “phản ánh” về kinh nghiệm của người khác hơn là tái tạo lại hoàn toàn kinh nghiệm đó.
Từ quan điểm tiến hóa, năng lực thấu hiểu này có thể cung cấp một phương pháp đặc biệt hữu hiệu để thay đổi hành vi mang tính phenotype.
Mạnh khỏe không chỉ là nhờ vào vào gen, mà còn bởi phương tiện của truyền thông và bắt chước. Thấu cảm cung cấp sự tiện lợi cho việc học hỏi nhờ việc giao tiếp dễ dàng, hiểu biết và bắt chước. Mỗi một cá nhân không đòi buộc phải giải quyết vấn đề mà có thể thông qua sự quan sát kinh nghiệm của người khác. Nhìn người ta bị đau đớn có thể dẫn tới việc tránh hành vi hiểm nguy mà không cần cá nhân phải trải nghiệm nó để hiểu thấu nguy cơ.
Thực tế, thấu cảm có thể giữ vai trò tiền trạm của ngôn ngữ. Các tế bào gương tìm thấy trong vùng Broca, theo truyền thống, liên quan đến ngôn ngữ. Định khu này có thể chỉ ra vai trò của tế bào gương trong việc tạo nên “sự sẵn sàng-ngôn ngữ/ languge-ready” ở người, thông qua chuyện cung cấp một phương pháp ban đầu cho hiểu biết lẫn nhau hay truyền thông.
Tầm quan trọng của thấu cảm là đặc biệt rõ ràng trong một số rối loạn như tự kỷ/ autism, nơi thiếu hụt khả năng trong các liên hệ xã hội và truyền thông với người khác.
Tự kỷ ở trẻ em lần đầu tiên được mô tả vào 1943 bởi nhà tâm thần học trẻ em Leo Kanner thuộc Đại học John Hopkins, người đã nghiên cứu 11 trẻ có biểu hiện “sự cô đơn cùng cực ở giai đoạn đầu đời/ “extreme aloneness from the beginning of life.”
Thuật ngữ “autism” phái sinh từ tiếng Hy Lạp “autos” nghĩa là “bản ngã/ self”, được nhà nghiên cứu Thụy Sĩ Eugen Bleurer sử dụng trong một bối cảnh khác (tâm thần phân liệt/ Schizophrenia?) 3 thập niên trước đấy. Một năm sau, Hans Asperger- bác sĩ nhi khoa ở Vienna- cũng gọi tên tương tự.
Thời Kanner, số trẻ mắc tự kỷ chỉ chừng 1/ 10.000; một thập niên sau, số này tăng gấp 4 lần; ngày nay, các nhà dịch tễ học xác định 1/250 do việc cải thiện khả năng phát hiện và nâng cao nhận thức xã hội, cũng như hiểu biết sâu rộng hơn về phổ tự kỷ/ autism spectrum.
Nghiên cứu gần đây chỉ ra sự nối kết giữa tự kỷ và các tế bào gương. Ở người không mắc tự kỷ, quan sát điện não đồ EEG cho thấy sự triệt chặn các sóng mu cả trong lúc thực hiện cũng như quan sát hành động. Với trẻ mắc tự kỷ, các sóng mu chỉ bị triệt chặn khi thực hiện hành động, chứ không xảy ra lúc quan sát hành động.
Việc triệt chặn sóng mu có mối tương quan với hệ thống tế bào gương, sự thiếu hụt sự triệt chặn ở trẻ mắc tự kỷ hàm ý một rối loạn chức năng của hệ thống tế bào gương. Điều này gợi ý việc hợp nhất sự kích thích tế bào guơng trong các chương trình trị liệu trẻ tự kỷ có thể đưa đến sự cải thiện đáng kể.
Như đã biết, tự kỷ tăng đáng kể ở nam hơn nữ. Thực tế thì một số nhà khoa học cho rằng năng lực thấu cảm là sự khác biệt nhận thức chủ yếu giữa đàn ông và phụ nữ.
Nói chung, phụ nữ thường đạt điểm cao hơn trong các test về thấu cảm, và đàn ông giành điểm trong các test định hướng mang tính hệ thống. Các mức độ testoterone cao trong nước tiểu có mối gắn kết với hành vi chống đối xã hội, cũng được tìm thấy ở trẻ mắc tự kỷ. Có khả năng trẻ tự kỷ chỉ là một phiên bản cực đoan của não “đàn ông”/ “male” brain.
Mặt khác, nếu thấu cảm đem lại lợi ích và thuận tiện đối với các sinh thể, thì các mức độ phát triển cao có thể được chọn lọc, bất chấp giới tính, và người ta có thể mong đợi thấy những mức độ bình đẳng giữa nam và nữ.
Với tất cả lợi thế do thấu cảm đem lại, dường như phụ nữ thuận tiện hơn hẳn nam giới do có mức độ cao hơn về thấu cảm. Tuy thế, tiến trình lịch sử cho thấy, đàn ông nói chung nắm giữ vị trí quyền lực trong xã hội.
Có lẽ, quá nhiều thấu cảm thực tế là điều bất lợi. Nếu ai đó phải chịu đựng một phiền nhiễu để giành quyền lực thì thấu cảm làm trở ngại. Một mức độ thấu cảm nhất định là cần thiết để hiểu thấu các dự tính của địch thủ, để thấu hiểu khổ ải nhằm nhận thức việc sử dụng hữu ích chiến lược của nó. Dường như việc áp dụng kiến thức này khác nhau ở mỗi giới.
Tầm thấu cảm thấp ở đàn ông có thể đưa đến sự phá hủy và thống trị, trong khi mức thấu cảm cao của phụ nữ có thể dẫn họ tới sự hài lòng và xoa dịu. Nói chung, ham muốn khác nhau cho nên mục tiêu tương tác của đàn ông và phụ nữ khác nhau: đàn ông tìm kiếm để giữ gìn hoặc vươn đến sự kiểm soát bên trên, trong khi phụ nữ truy cầu nhằm thực hiện nhiều hơn sự nhất trí và gần gũi.
Có khả năng là việc giành được một vị trí quyền lực thực tế đòi hỏi phụ nữ trả giá cao hơn so với đàn ông khi những phụ nữ cảm thấy nỗi khổ đau của các chuyện này, người mất mát quyền lực khắc nghiệt hơn. Dẫu vậy, có thể là cơ chế ẩn dưới sự thấu cảm thì không khác biệt lắm ở mỗi giới, và nó không chỉ là các mức độ thấu cảm mà còn là tiến trình xử lý kinh nghiệm thấu cảm khác biệt giữa hai giới.
Người ta đã khám phá ra rằng phụ nữ và nam giới giải quyết vấn đề không giống nhau, đáp ứng stress cũng như tiến trình ghi nhớ xúc cảm cũng khác biệt. Những nghiên cứu trong tương lai về các tế bào guơng và thấu cảm có thể bao gồm cả sự so sánh giữa não đàn ông và não phụ nữ về định khu tế bào gương, mức độ hoạt động, và tỷ trọng.
Việc tỏ lộ các cơ chế cơ bản của thấu cảm nâng cao hơn sự hiểu biết tương tác giữa người với người.
Hiểu được làm thế nào người ta giao tiếp có thể minh họa các cách thức để cải thiện sự truyền thông, khiến cho việc tương tác hiệu quả hơn. Sự khác biệt về giới trong giao tiếp, truyền thông có thể được khám phá và hiểu thấu trong ám chỉ về tiến trình thấu cảm, mở đường cho những thảo luận trong tương lai về những đặc trưng giới riêng biệt trong các môi trường khác nhau.
(Ngày mai, tiếp theo: Sự thấu cảm của chuột)
Phân loại: Nghiên cứu, Suy tư, Thấu cảm
Bài đăng Mới hơn Bài đăng Cũ hơn Trang chủ