Hiển thị các bài đăng có nhãn Thấu cảm. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Thấu cảm. Hiển thị tất cả bài đăng

(Nguồn ảnh)

Gần trưa, đón xe bus lên phố Văn Miếu xem trưng bày các bộ ảnh của
6 phó nháy (4 Việt, 2 Hoa Kỳ) mang tên 7 Chuyện.

Trên căn phòng gác 2 thuộc Ngôi nhà Nghệ thuật (Maison des Arts) ấy, cuộc đời được thể hiện dưới góc nhìn thực và lạ, chẳng có gì mới song lại đủ thu hút mắt dán vào, mà tự thân người chụp cho thấy dường như cũng vừa mới ghé qua đâu đây -- những thứ bạn có thể bắt gặp quanh quanh địa danh Hà Nội - Long Biên - Ba Vì - Bắc Ninh.

Tôi nghĩ, vốn mọi người đều có chuyện để kể; đó là lý do vì sao người ta hay tổ chức triển lãm, nói chuyện sách vở, thi hùng biện, tuyên truyền, học tập này nọ các kiểu.

Đôi khi, thật không dễ dàng để quên rằng ai kia đang mặn chuyện nếu ta dành thời gian lắng nghe họ.

Quen lệ nhiều lúc buộc phải nghe các câu chuyện tin tức trên TV, đọc cả lô cả lốc về vụ án "xe cán chó, chó cắn xe", loa truyền thanh phường ra rả phổ biến chủ trương,... khiến chúng ta đôi khi bỏ qua sự kiện rất thực rằng, ngay cả người khách tình cờ ngồi cạnh mình trên xe bus cũng có câu chuyện hấp dẫn về việc họ từ đâu đến và cơn cớ nào mà giờ đây họ như thế này đây.

Dọc ngang, bất tận và khác biệt những con đường trên thế giới; từ ông già 95 tuổi đạp xe bán báo đến người thích nhảy việc, từ chốn nương thân bé tí đến chuyến đi du lịch vòng quanh thế giới -- tất cả hàm chứa bao điều ta có thể học hỏi từ mỗi một cá nhân.

Nào biết đâu cơ chứ, đôi khi kẻ lặng lẽ, nhút nhát trong công ty ngày ngày vào ra chạm mặt lại sở hữu câu chuyện đời ly kỳ nhất với những giấc mơ vô cùng táo bạo -- tùy thuộc ta dành thời gian phát hiện.

Nhiều nhân vật vô tư phóng vi vút trên đại lộ giàu có sung túc và đặc quyền đặc lợi, trong khi lắm thân phận cắm cúi lo ngày lo đêm mong khỏe mạnh để giữ được chỗ làm trong thời tăng giá, và cả hai đều có những câu chuyện thú vị để kể.

Mỗi người học hỏi, quyết định lựa chọn, rồi phát triển một viễn tượng riêng có mà chỉ bản thân họ mới dễ dàng tuyên bố và chia sẻ rành mạch.

Thậm chí, ngay cả với hai đối tượng sống cuộc đời giông giống nhau sẽ có nhiều trải nghiệm hơi tách biệt, dẫn họ tới một quan điểm sống khác, mỗi người duy trì một kho báu đáng giá chờ đợi được khám phá.

Khi dành thời gian để đặt câu hỏi và lắng nghe, chúng ta nhận ra rằng mỗi một con người đều có chuyện lôi cuốn và một lối tiếp cận tuyệt đối riêng biệt muốn bộc bạch tâm sự.

Lưu giữ ý niệm này trong tâm trí, chúng ta có cơ hội để tiếp cận với thế giới xung quanh theo một cách thức mới mẻ.

Không bao giờ có lý do buồn chán tại một bữa tiệc, hoặc lúc ngồi trên xe bus, hay nói chuyện với một người dưng.

Khi chúng ta tiếp tục duy trì tia lửa tò mò và nồng nhiệt khiến cho ai đó thoải mái nói ra, chúng ta luôn thấy lấp ló một câu chuyện quyến rũ.

Tất cả những gì chúng ta phải tiến hành là hỏi han.

Bạn đọc đang nghĩ gì thế?

Tay phó nháy người Canada Rannie Turingan đã làm vidéo này để thử nghiệm dự án 20 x 2 theo một chủ đề rõ ràng.

Mời xem rồi sẽ nhận ra rằng, xem chừng quả thật chẳng có sự khác biệt nào lắm trong chuyện thiên hạ yêu thương, tình ái.


20 x 2 : What's The Difference? from photojunkie on Vimeo.


29.2- Ngày phái đẹp tỏ tình. Báo Tiền Phong đăng lại tin từ chương trình truyền hình CCTV.

Còn tôi chỉ biết cái chuyện được gọi là "không nhảm nhí một chút nào" này khi chỉ còn chừng tiếng đồng hồ thôi là sang ngày mới của tháng Ba, nhờ đọc offline của một cô bạn chưa chồng-- người mời tôi đi uống café để tâm sự đầu giờ tối nay.

Vâng, ngỡ ngàng thay cho tôi vì cô bạn trên đã bỏ dở nửa chừng 2 bí mật gì đấy mà chính cô bất chợt thổ lộ, chẳng muốn kể rõ ra nữa do cảm thấy thời điểm chưa đủ độ chín muồi, thích hợp chăng (!)

Tuyệt không chút tơ tưởng xa gần hay "dưa bở, dưa lê" tí ti gì, cá nhân tôi tin rằng, hầu như tất cả chúng ta xem chừng đều gặp bất an lúc nào đó trong đời, và nhiều người có bí mật cất giữ riêng.

Đôi khi chúng ta chia sẻ những nỗi niềm sâu kín ấy với đối tượng ta quen biết, thân thiết; đôi khi chúng ta lại cảm thấy mắc kẹt, ngại ngần hoặc cảm thấy chẳng đủ khả năng thực hiện điều đấy.


Đôi khi những muộn phiền bứt rứt, bất ổn vốn thuộc chủ đề tự tin hoặc cảm giác mình không đủ tốt trong chuyện gì đó mình tiến hành-- thường là kết quả từ thời ấu thơ, hay trải nghiệm tồi tệ nảy sinh hồi mới lớn, cái thuở chập chững vào đời.

Và đôi khi chúng ta không muốn chia sẻ chúng, đơn giản bởi vì chúng ta e rằng người khác sẽ không thể hiểu nổi chúng ta; ngay cả, với chính những người ta yêu thương và gần gũi cõi lòng ta nhất.

Với những ai rốt cục học hỏi được ít nhiều xoay quanh nỗi niềm bất an hay bí mật như thế, có vẻ dư vị từa tựa sự phản bội tình yêu thương, thiếu thủy chung, và vụt hóa ngăn chia nghìn trùng trong quan hệ vốn ta đặt tất cả tin tưởng, kỳ vọng lâu nay.

Không phải vì điều gì đấy có thực đã không được chia sẻ; cũng không phải vì ai đó chẳng đủ năng lực hay ý muốn tỏ bày nó.


Đáng tiếc, nhiều người chật vật lắm mới hiểu ra nổi điều này, và cứ mải mê dằn vặt cơn cớ gì khiến họ đã không chia sẻ như vậy.

Họ không nhận ra rằng, người khác-- kẻ cảm thấy bị đối xử cơ chừng hắt hủi, tệ bạc ấy-- đã không hề quan tâm nó ghê gớm đến thế đâu. Chính việc lựa chọn cách ứng xử của họ mới góp phần tạo nên vấn đề.

Ra Giêng ngày rộng tháng dài; cần cảm thông ai đó vẫn mơ hồ
nuối tiếc dịp hoan hỉ, ăn chơi nhảy múa đã chấm hết, thời điểm xuất hiện lễ hội Valentine.

Tháng Hai có 29 ngày, nên chi tiết thêm cũng không thừa thãi.

Trong
quan hệ, chúng ta luôn nói rằng căn bản là phải thường xuyên thông truyền với nhau.

Song truyền thông không có nghĩa chỉ bày tỏ những điều dễ dãi, giản dị mà còn bao gồm cả lắm điều chính ta cảm thấy cực kỳ khó diễn đạt, khủng khiếp, đáng sợ,...


Nghiên cứu cho thấy, thổ lộ các cảm xúc tiêu cực, âm tính như lo lắng, buồn bã, sợ hãi và giận dữ có thể thực sự làm cho quan hệ của ta trở nên thân mật và gần gũi hơn nhiều.

Lý do-- theo nhóm tác giả-- các cảm xúc này báo hiệu với người khác rằng, ta đang cần được hỗ trợ, giúp đỡ; khiến cho đối tượng của ta càng mong mỏi đưa bàn tay yêu thương, ghé đôi vai tin cậy để ta nắm lấy, dựa vào.

Trạng thái bất an, giấu kín bí mật riêng tư còn là chỉ báo chứng tỏ ta đang gặp điều bất ổn, rằng thực sự chính ta không hề thoải mái chút nào; ta cần quyết nỗ lực để vượt qua; và khi truyền thông với đối tượng rất đáng giá với ta-- cởi mở mọi điều với người ấy-- ít nhất hàm ý rằng, tồn tại sự khác biệt giữa mình với tha nhân.

Dù bằng hình thức ra sao-- tự ngẫm nghĩ, trị liệu hay nhờ nhóm bạn giúp đỡ,...-- lợi lạc dễ nảy nở phù hợp nếu ta phát hiện, tìm ra được phương cách chia sẻ cùng đối tượng mà ta yêu thương bằng trọn vẹn trái tim những bí mật sâu kín, tế vi của bản thân- trước khi chúng diễn tiến theo hướng khó kiểm soát hoặc không như lòng ta mong đợi.

Bởi đa phần, chẳng bao giờ là quá muộn để chia sẻ; mặt khác, lẽ nào mỗi người chúng ta chưa từng trải qua trạng thái ngạc nhiên, phấn khích về lối phản hồi đầy tích cực của đối tượng ta yêu thương da diết-- ngay sau lúc đón nhận chính sự chia sẻ chân tình của chúng ta?

(Ảnh: Định mệnh)

Vụ cô gái 21 tuổi phải chịu nhục hình suốt 13 năm trời ngay giữa quận nội thành của Thủ đô khiến thiên hạ choáng váng kêu trời.


Truyền thông trong nước đưa tin kiểm điểm trách nhiệm chính quyền phường, đặt ra những vấn đề pháp luật liên quan đến lao động trẻ em, bảo vệ người đi tố cáo,... về sự vô cảm, đạo đức lối sống,...

Báo
Thiếu niên Tiền phong và Diễn đàn Thế hệ 8X (trang giải trí, kết bạn của giới trẻ Việt Nam)-- không hề thấy nói gì để bày tỏ thái độ chính thức, chia sẻ cảm xúc và suy tư trước cảnh ngộ khốn cùng đọa đày của một bạn gái cùng trang lứa.

Tôi thực sự quan tâm đến đứa con của đôi vợ chồng quán phở kia; chẳng tìm được dòng nào đề cập đến người trong cuộc này cả.

Ai là nạn nhân của những vụ bạo hành gia đình?

Nhiều nghiên cứu đã chứng tỏ, một số người dễ có khả năng trở thành đối tượng bị bạo hành:

- Mang hình ảnh bản thân kém cỏi.

- Tham gia vào hành vi lạm dụng.

- Bị phụ thuộc vào kẻ lạm dụng về mặt kinh tế và xúc cảm.

- Không chắc chắn về các nhu cầu riêng của chính bản thân mình.

- Lòng tự trọng thấp.

- Lưu giữ niềm tin phi thực tế là mình có thể làm thay đổi kẻ lạm dụng.

- Cảm thấy không có quyền hành để chấm dứt bạo lực.

- Tin rằng, ghen tuông là nền tảng của tình yêu.

Trong khi sự lạm dụng xảy đến với bất kỳ ai, thì phụ nữ thường dễ thành nạn nhân nhất và đàn ông hầu như đóng vai trò kẻ lạm dụng.

Một lần nữa, các nạn nhân vốn mang một số đặc trưng cơ bản. Phụ nữ là nạn nhân bạo hành gia đình thường:

- Lạm dụng rượu bia và các chất gây nghiện khác.

- Từng bị lạm dụng trước đây.

- Đang mang thai.

- Nghèo và sự hỗ trợ rất hạn chế.

- Có bạn tình lạm dụng rượu bia và các chất khác.

- Muốn rời bỏ kẻ lạm dụng.

- Yêu cầu một sự kiềm chế để chống lại kẻ lạm dụng.

- Mang niềm tin truyền thống rằng, phụ nữ phải phục tùng đàn ông...



Rồi đến một lúc, tự dưng mọi thứ là vẻ đẹp thật tự nhiên và hài hòa; bất kể xuân, hạ, thu, đông.

Kẻ yêu yếu điểm tinh khôi, khởi đầu một năm; người mê cảm giác lạnh giá đông về, ngày tàn tháng tận; gió, nắng hè tưng bừng với tuổi trẻ hăm hở kiếm tìm, định dạng bản sắc; còn lá vàng rơi lặng lẽ buồn thu qua, kiếp này nhưng nhức nhớ mong, hoài niệm,...

Vạn vật quanh đây, cả trong lòng mình nữa, dường như đều góp phần tạo cho ta nhận ra khoảnh khắc chẳng bao giờ lặp lại, thú vị nhất, quyến rũ nhất, có thể xảy đến bất ngờ dù đã dự tính trước rồi: giao mùa.

Nhìn thấy một viễn tượng; xem chừng chỉ có giao mùa ẩn chứa đầy tràn và sở hữu độc quyền điều ấy.

Giao mùa nói với nhân loại, chúng sinh về một cái gì chắc chắn trong mênh mông không- thời gian vô thủy vô chung. Trước ta, và sau ta-- thế giới này cứ thế hiện tồn vô tư, mãi mãi.

Giao mùa dạy ta đừng bao giờ lần lữa, thử ra thử vào như ướm cái áo nào vừa vặn, thích hợp. Duy nhất, luôn cần tận dụng tối đa để sống hết mỗi một khoảnh khắc, bây giờ và ở đây.



Việc phát triển lý thuyết thấu cảm- hệ thống của
Simon Baron-Cohen đã trở nên quen thuộc trên các phương tiện thông tin hiện nay.

Theo vị
giáo sư nổi tiếng về nghiên cứu tự kỷ, trải nghiệm thấu cảm (empathize) là động lực định dạng những cảm xúc và suy nghĩ của người khác, để rồi đáp ứng chúng bằng một xúc cảm thích đáng.

Còn năng lực hệ thống hóa (systemize) là động lực nhằm phân tích và khám phá một hệ thống đặng rút ra các nguyên tắc điều khiển hành vi của một hệ thống, thôi thúc người ta thiết lập cấu trúc của các hệ thống.

Lý thuyết thấu cảm- hệ thống của Simon Baron- Cohen khẳng định rằng, người mắc tự kỷ gặp nhiều khó khăn để thực sự giỏi giang trong chuyện hệ thống hóa và trải nghiệm thấu cảm ở họ thật tồi tệ, kém cỏi.

Simon đã hợp tác chế tạo ra một loạt băng hình sống động mang tên The Transporter (Những nggười vận chuyển) mà bạn có thể
xem một số tập làm mẫu.

Loạt băng hình này dành riêng cho trẻ mắc tự kỷ, đối tượng cảm thấy khó khăn trong việc nhận ra các nguyên nhân gây xúc cảm và sự biểu đạt cảm xúc qua khuôn mặt.

The Transporters là thế giới đồ chơi tưởng tượng chứa nhiều xe cộ, mang các tính cách thể hiện trải nghiệm và phiêu lưu ngập đầy cảm xúc. Mục đích: giúp trẻ em cải thiện hiểu biết về những nguyên nhân tạo xúc cảm và sự biểu đạt các cảm xúc.

Trẻ mắc tự kỷ thường có khuynh hướng thích thú với các loại xe cộ, dường như vì sự chuyển động của xe cộ dễ dự đoán; xem ra, đối tượng trẻ em này không mê lắm các đồ vật mà sự di chuyển chẳng thể dự đoán nổi. Hơn nữa, trẻ mắc tự kỷ càng thích các loại xe cộ nào bị khống chế đường đi, như tàu điện, xe gắn dây cáp, tàu lửa và xe kéo theo các toa.

Với The Transporters, đối tượng trẻ em vốn không thực sự muốn nhìn vào những khuôn mặt chẳng thể dự đoán nổi có thể chú tâm tới các khuôn mặt thể hiện tính cách đặc trưng đã được nhà sản xuất ghép sẵn vào các xe hấp dẫn, dự đoán được. Điều này khiến trẻ học hỏi dễ dàng hơn các biểu đạt gắn trên xe.

Mục đích của The Transporters không những dạy cho trẻ các xúc cảm cơ bản (vui mừng, buồn bã, tức giận, thất vọng, sợ hãi, ngạc nhiên) mà còn gồm một số cảm xúc phức tạp nữa (tủi hổ, trêu đùa, ghen tuông, tự hào, mệt mỏi, hối lỗi, tử tế, phấn khích, lo lắng, thiếu thân thiện, và gắt gỏng); Simon nói.
Thông qua các giờ xem băng hình TV lặp đi lặp lại, trẻ mắc tự kỷ thay vì quay đi khỏi các khuôn mặt mà chúng thường không thể dự đoán nổi- do đó, bỏ quên trải nghiệm chính yếu về các biểu đạt cảm xúc- thì nay chúng lại sẽ hướng vào các khuôn mặt thậm chí, không nhận ra việc đang làm.

Nếu bạn là đứa trẻ đang gặp khó khăn với sự "thấu cảm", kiểu như đang bối rối rằng tại sao biểu đạt khuôn mặt lại thay đổi đột ngột như thế, thì hy vọng là bạn có thể dần quen thuộc với cách nhìn người ta khi họ tỏ lộ sự ngạc nhiên, e ngại hay tự hào nhờ phơi bày tối đa với những mẫu hình đấy.

Ngoài ra, như blog Cái tôi từng giới thiệu, Simon Baron-Cohen tin rằng, có những sự khác biệt căn bản giữa bộ não của đàn ông và đàn bà. Ông khẳng định, não phụ nữ có khả năng thấu cảm trội hơn hẳn; trong khi não nam giới lại chiếm ưu thế cho sự hiểu biết và xây dựng các hệ thống.

Với lý thuyết này, một người nam hoặc nữ có một "kiểu não" riêng biệt. Theo đó, có 3 kiểu não thông thường: với một số người, thấu cảm mạnh hơn hệ thống hóa (kiểu "não phụ nữ", hoặc là kiểu não E); một số cá nhân khác thì năng lực hệ thống hóa cao hơn thấu cảm (kiểu "não đàn ông", hoặc kiểu não S); còn một số nữa lại cân bằng giữa khả năng thấu cảm và hệ thống (kiểu "não cân bằng", hoặc kiểu não B).

Nếu muốn biết mình thuộc kiểu não nào, bạn có thể thử test ở đây.

Lưu ý nhỏ: xin hãy dành đủ thời gian và thật nhẫn nại, bởi cho đến khi nhận được kết quả cuối cùng xác định kiểu E, S hoặc B thì bạn cần thực hiện tất thảy 6 đề mục căn bản với nhiều bài tập có yêu cầu rất khác nhau.

(ảnh: NYT)

Một bài báo đáng đọc, nếu ta muốn dành thời gian và tâm trí làm hòa với chính bản thân mình:

Cái thói đến lượt mình lại đi gây hấn tiếp (redirected aggression) [chuyển nỗi đau từ một nạn nhân này sang một nạn nhân khác] không đơn giản khởi phát bởi thứ gì thậm phi lý hoặc thuộc tính bẩn thỉu của con người, mà nó-- kéo theo sự trả đũa và lòng thù hận-- thâm căn cố đế trong tận cùng kết cấu của thế giới tự nhiên rồi, là diễn tiến đáp ứng tất yếu với nỗi đớn đau.

Cách thức tồn tại lâu dài về mặt sinh học của thói tiếp tục gây hấn không chỉ lý giải sự vô nghĩa rõ ràng mà còn cả tính phổ quát của nó nữa.

Chuyện này phơi bày qua bao thời đại-- như chúng ta đã và đang chứng kiến--, xuyên suốt các nền văn hóa, các đơn vị xã hội, ở các cá nhân và hiển hiện nơi các cộng đồng, các quốc gia.

......


Gần đây, các nhà sinh lý học đã khám phá ra cơ sở
hormone của hành vi này. Cả động vật lẫn con người đều trải nghiệm sự đe dọa, bị tấn công do việc "hạ thấp tầm quan trọng của stress"; kết cục, tăng hormone adrenaline, cùng với huyết áp cao và viêm loét lan rộng là chắc chắn.

Chưa hết, điều này mới chính yếu: khi được dịp "trả thù" ai đó khác thì các nạn nhân không hề thấy một dấu hiệu căng thẳng (stress) nào.


Chuyển dọc nỗi đau đớn của bản thân, các nạn nhân định hình mối ưu phiền nội tại riêng có, đồng thời tạo nên rắc rối cho những nạn nhân kế tiếp xếp phía sau hàng.

Nghĩ mà xem-- nhà sinh học Robert Sapolsky đề nghị-- về kẻ không hề mắc phải loét nhưng mặt khác lại gây ra các vết loét!

(ảnh)
1. Thấu cảm (empathy) là thành phần cơ bản của trí tuệ xúc cảm (Goleman, 1996); đa chiều kích, tiến trình tri thức luận (epistemology) phức tạp, và là cách thức am hiểu cả hệ thống cảm xúc lẫn nhận thức của người đời (Bohart & Greenberg, 1997; Duan & Hill, 1996; Feschbach, 1997).

Theo các nhà lý thuyết tâm lý học phát triển,
thấu cảm là năng lực hình thành từ lúc mới sinh và biến chuyển qua thời gian khi các hệ thống nhận thức và xúc cảm của con người chín muồi.

Edward Titchner-- đồ đệ trung kiên nhất của Wilhelm Wundt (1832- 1920)-- đã chuyển dịch thuật ngữ "empathy" từ tiếng Đức einfuhlung: "cảm nhận theo cách thức của người" ("feel one's way into"). Đó là lối dùng nguyên thủy trong Mỹ học Đức, mang nghĩa tiếp cận để hiểu một tác phẩm nghệ thuật đặc thù.

Về sau, thấu cảm được
Rogers (1965, 1975) và Kohut (1971, 1977) sử dụng cho việc mô tả cách hướng tới người khác nhằm tăng cường khả năng chữa lành trong tâm lý trị liệu.

Theo các tác giả
de Vignemont & Singer (2006), có hai xu hướng trong tài liệu nghiên cứu về thấu cảm.

Thứ nhất, định nghĩa bao quát: thấu cảm xảy ra khi một đáp ứng xúc cảm nhiều thích đáng hơn với người khác. Thứ hai, định nghĩa thấu cảm thu hẹp lại- được Vignemont & Singer ưa thích-, thỏa mãn các yêu cầu sau:

@ Bạn cảm thấy một trạng thái cảm xúc riêng biệt;

@ trạng thái này cảm nhận tương đồng đối với bạn và "mục tiêu" thấu cảm của bạn, dù do những nguyên nhân khác nhau;

@ thấu cảm xuất phát từ việc bạn giám sát hoặc tưởng tượng về trạng thái xúc cảm của mục tiêu;

@ bạn nhận ra trạng thái xúc cảm của mình là kết quả của sự thấu cảm.

De Vignemont & Singer (2006) khẳng định rằng, định nghĩa này cho phép phân biệt giữa thấu cảm và cách tiếp cận nhận thức.

Các định nghĩa về thấu cảm vừa nêu dựa trên giả thuyết về cách thức chúng ta kiểm soát sự thấu cảm của bản thân.

Mỗi cá nhân khác biệt nhau, song nhìn chung thì chúng ta hành động thấu cảm theo vô thức cùng những đối tượng xung quanh, hay còn bao gồm một số phụ trội khác nữa? Mô hình tiến trình đánh giá khẳng định chắc chắn rằng, có nhiều mức độ hành động vô thức đối với quy trình xúc cảm.

Theo lý thuyết này, các thành phần tri giác có thể dẫn trực tiếp, và hoàn toàn vô thức, vào các tiến trình đánh giá, rồi từ đó tạo ra đáp ứng xúc cảm.

Báo cáo khoa học thần kinh của de Vignemont & Singer (2006) hỗ trợ cho giả thuyết này. Nhiều nghiên cứu phát hiện, khi người ta nhìn những kẻ hoàn toàn xa lạ đang trải qua đau đớn, thì não của họ kích hoạt đáp ứng theo kiểu thấu cảm đặc trưng (
Morrison, Lloyd, di Pellegrino & Robert, 2004).

Song như de Vignemont & Singer (2006) chỉ ra, sự thấu cảm không phân biệt này phải được điều chỉnh bởi các yếu tố môi trường, nếu không thì đời sống xúc cảm của chúng ta có thể là một thứ hỗn độn bất tận.

Tương tự thế, mô hình tiến trình đánh giá không chỉ dựa vào tri giác như đầu vào duy nhất cho các đáp ứng xúc cảm, mà nó còn xem xét đến "những sự trình diễn được kích hoạt liên quan khác" và "những nội dung của tiêu điểm nhận thức".

Thứ nữa, và điều này rất quan trọng đối với mô hình tiến trình đánh giá, de Vignemont & Singer (2006) khẳng định rằng, thấu cảm có thể là "nhanh chóng và hàm ý". de Vignemont & Singer (2006) cũng khẳng định, một tập hợp phân loại có thể giúp lý giải tại sao nhiều người chúng ta thấu cảm với người khác trong một số bối cảnh này nhưng lại không thấu cảm ở những bối cảnh khác:

@ Các yếu tố xúc cảm nội tại, ví dụ, một số xúc cảm có thể được nội tâm thật dễ dàng để thấu cảm cùng;

@ Các yếu tố quan hệ; như lý thuyết đánh giá của de Vignemont & Singer (2006) chỉ ra: mối quan hệ giữa người thấu cảm và mục tiêu sẽ có một hiệu ứng thiết yếu;

@ Sự khác biệt cá nhân;

@ Các yếu tố tình huống.

Mô hình tiến trình đánh giá xác quyết một mẫu thức sớm của sự đánh giá. Điều này nghĩa là, cả dấu hiệu xúc cảm lẫn bối cảnh đều được minh định bởi các tiến trình đánh giá trước khi một đáp ứng xúc cảm được tạo ra.

Sự biến đổi khác là một mô hình muộn, bao gồm liên kết trực tiếp từ một dấu hiệu xúc cảm tới một đáp ứng xúc cảm, do đó, đi vòng quanh các tiến trình đánh giá. De Vignemont & Singer (2006) cho thấy, hiện tại có rất ít bằng chứng phân biệt giữa hai cách thức trên.

Bất kể tiến trình tạo thấu cảm ra sao, điều rõ ràng là thành phần cốt tử của chức năng hiệu ứng xã hội. Ngay cả sự cốt tử thế nào còn là đối tượng gây tranh cãi chưa thôi. Nhiều nhà nghiên cứu đề nghị, thấu cảm làm tăng hành vi hướng đến xã hội. De Vignemont & Singer (2006) khẳng định rằng, thấu cảm làm tăng sự thấu hiểu xã hội và tương tác xã hội; ngược lại, thiếu vắng thấu cảm tạo nên hành vi xung hấn và chống đối xã hội.

Thực tế nghiên cứu từ 1940 đến nay cho thấy, không ít lý thuyết gia nhìn thấu cảm như là kỹ năng quan hệ cơ bản. Để truyền thông liên nhân cách diễn ra, đòi hỏi một mức độ thấu cảm nào đó nhằm hiểu người khác chí ít ở mức độ căn bản nhất.

Tuy vậy, có nhiều tầm mức hiểu biết khác nhau và nhiều kiểu loại tiến trình thấu cảm khác nhau.

Một người có thể biết kẻ khác nhờ nắm được ý nghĩa trí năng của anh/ chị ấy và bởi việc thấu hiểu các giá trị, thế giới quan, mục tiêu và mục đích của anh/ chị ấy; song để thực sự thấu cảm, sự hiểu biết này cần được định hình bởi sự biết hoặc hiểu cách thức các sự việc tác động đến người khác về mặt xúc cảm như thế nào.

Cảm xúc của người đời tỏ lộ sự quan trọng hoặc ý nghĩa của các sự kiện đối với họ; do đó, để hiểu và biết người khác, ta phải đáp ứng đầy xúc cảm với họ.

2. Với Carl Rogers, thấu cảm là một trong ba điều kiện căn cốt nhà trị liệu dành cho thân chủ trong tâm lý trị liệu.

Hai điều kiện kia là trung thực, thích đáng (congruence), và tôn trọng tích cực vô điều kiện (unconditional positive regard) hoặc thái độ không đánh giá (nonjudgmental stance) về người khác.

Rogers không nghĩ rằng người ta có khả năng thấu cảm tràn đầy và hoàn bị với kinh nghiệm của kẻ khác, nếu ai đó lượng giá họ một cách tiêu cực.

Hơn nữa, như quan sát của các nhà lý thuyết phát triển, dường như người ta càng không thể thấu cảm thực sự nếu anh/ chị ta cảm nhận thù địch hoặc tức giận hướng đến người khác (Feschbach, 1997).

Do đó, để thấu cảm mang tính trị liệu, thấu cảm cần xảy ra trong một khí hậu đồng cảm, an toàn và không đánh giá mà ở đó thân chủ cảm thấy được xem trọng. Ngoài ra, điều quan trọng là nhà trị liệu phải tỏ ra trung thực, thích đáng khi họ trải nghiệm sự thấu cảm.

Rogers (1965) định nghĩa thấu cảm như là khả năng tri nhận một cách chính xác khung tham chiếu nội tại của người khác, tức là các ý nghĩa và các cấu thành cảm xúc của họ.

Định nghĩa này nhấn mạnh thấu cảm ở cả hai mặt tiến trình xúc cảm và nhận thức. Rogers xem thấu cảm như khả năng nhìn thấy thế giới thông qua con mắt của kẻ khác đến độ cảm được nỗi đớn đau, phiền muộn và nhận ra nguồn xúc cảm của họ y như cách thức họ cảm nhận.

Bằng sự tôn trọng này, ông phân biệt cẩn thận tính đồng nhất và sự thấu cảm: đồng nhất cho thấy sự thiếu vắng các ranh giới khi ai đó chấp nhận quan điểm thực tiễn của người khác.

Một cách để Rogers khẳng định nhà trị liệu có thể biểu lộ sự thấu cảm, là thông qua nỗ lực phản ánh các xúc cảm của thân chủ. Tuy thế, hoạt động này thường bị hiểu nhầm chỉ là việc lặp lại như con vẹt những từ ngữ và điều sau rốt thân chủ nói (Rogers, 1975).

Quan điểm như thế phản ánh cách hiểu sai lệch về sự đáp ứng thấu cảm- là cách thức hiện diện vô cùng tinh tế và phức tạp cùng với thân chủ.

Lắng nghe một cách thấu cảm là sự thực tập đòi hỏi kiên nhẫn và nặng nhọc; có như thế, mới chạm đến điểm mấu chốt trong những truyền thông của thân chủ, và mới chắt lọc được từ các thông điệp của thân chủ yếu tính quan trọng nhất.

Nghiên cứu chứng tỏ, thấu cảm mang tính trị liệu có tương quan với mức độ nhận thức phức hợp của nhà trị liệu. Chú tâm lắng nghe để nhận ra các sắc thái trong các câu chuyện kể của thân chủ là bài luyện tập tinh tế về sự giải cấu trúc chính yếu mà mỗi khoảnh khắc đòi hỏi tập trung ghê gớm.

Trong bài báo ấn tượng năm 1975, Rogers trở lại chủ đề thấu cảm và gắng định nghĩa nó chính xác hơn: ông xem thấu cảm như tiến trình, chứ không phải trạng thái sống. Do vậy, đó là nỗ lực không ngừng bước vào thế giới riêng tư, chủ quan của người khác, cùng lúc đấy phải thật nhạy cảm nhằm nắm bắt những thay đổi đầy ý nghĩa đủ để theo dấu họ một cách xác đáng.

Tiến trình cố gắng thấu hiểu thế giới chủ quan của người khác được thực hiện với sự chú ý cẩn trọng, để phát hiện các sắc thái ý nghĩa của cảm xúc mà chủ thể xem chừng không nhận thức thật đủ đầy. Dẫu thế, điều này không có nghĩa là tiết lộ hoặc báo cáo về các cảm nhận người ta đã không nhận thức được.

Đúng hơn, gắng hiểu những gì thân chủ đang nói luôn luôn là tiến hành mang tính thử nghiệm và không ngừng kiểm tra lại chúng. Thân chủ vẫn mãi là người có thẩm quyền tối thượng, bất kể nhà trị liệu đã hiểu họ thật đúng đắn hoặc nắm bắt được điều họ đã không nhận ra đủ đầy.

Rogers (1975) xem thấu cảm như là cách thức gợi lên sự tự thay đổi trực tiếp và trao quyền hành cho con người. Do đó, ông đã bỏ công sức nhằm không hiện diện trước thân chủ với tư cách chuyên gia trong trị liệu đủ để thân chủ có thể đảm nhận trách nhiệm cho những tiến trình và thay đổi hành vi của chính họ, và tiến tới nhìn nhận bản thân họ như là người quyết định sáng giá, đúng đắn nhất về những cảm xúc và nhu cầu riêng tư của chính mình.

3. Sau giả thuyết cơ bản của Rogers về ba điều kiện cần và đủ để sự thay đổi mang tính trị liệu xảy ra (thấu cảm, tôn trọng tích cực vô điều kiện và thích đáng), hai công cụ thông dụng nhất đã được cải tiến để đo lường thấu cảm là Accurate Empathy Scale (Truax & Carkhuff, 1967) và Relationship Inventory (Barrett- Lennard, 1962).

Rất nhiều nghiên cứu đã tìm hiểu về mối quan hệ giữa thấu cảm và kết quả trị liệu; và không có nghiên cứu nào chỉ ra quan hệ tiêu cực giữa chúng; ngược lại, đa phần các nghiên cứu cho thấy mối quan hệ tích cực giữa hai biến số này (Gladstein, 1977; Gurman, 1977; Orlinsky và cs., 1994). Không ít nghiên cứu gắng định dạng mối tương quan giữa hành vi và thấu cảm (Barkham & Shapiro, 1986; Barrington, 1961; Bergin & Jasper, 1969; Caracena & Vicory, 1969; D'Augelli, 1974; Gardner, 1971; Heabe & Tepper, 1972; Truax, 1966; Westerman, Tanaka, Frankel, & Khan, 1986), thông qua 4 lĩnh vực khác nhau có liên quan với sự truyền thông thấu cảm: hành vi không lời của nhà trị liệu, đặc trưng phát ngôn của nhà trị liệu, phương thức đáp ứng của nhà trị liệu, và tính cách cá nhân của nhà trị liệu.

Gần đây hơn, các nhà nghiên cứu Boston (2007) đã
dùng công nghệ để đo lường thấu cảm giữa nhà trị liệu và bệnh nhân của họ.

Theo các nhà tâm thần học Harvard, thì đây là nghiên cứu đầu tiên về sinh lý học của việc chia sẻ cảm xúc trong suốt các lần trị liệu. Và họ đã khám phá ra bằng chứng về nền tảng sinh học của những mối kết nối thấu cảm.

Rằng, nghiên cứu của họ khẳng định: các nhà trị liệu tri nhận như là người nhiều thấu cảm hơn thì càng có nhiều trải nghiệm cảm xúc tích cực với các bệnh nhân. Rằng, sự thiếu vắng thấu cảm là dấu chỉ lớn nhất về kết quả tồi tệ cho bệnh nhân trong tâm lý trị liệu; tuy thế, thấu cảm không phải là toàn bộ câu chuyện, nó chưa đủ để quyết định kết quả trị liệu.

Điều mà các nhà nghiên cứu trên không nêu ra trong báo cáo đã công bố là việc họ cho biết thêm: mức độ hòa hợp sinh lý giảm đi ít nhiều khi nhà trị liệu nói thay vì lắng nghe. "Điều này khẳng định rằng, thật là khó khăn để các nhà lâm sàng thấu cảm khi họ đang nói."

Vậy, có thể hữu ích việc thân chủ sử dụng điều này như là cơ chế phản hồi sinh học giúp cho các nhà lâm sàng tăng cường khả năng thấu cảm của họ. Và dĩ nhiên, cần ghi nhớ là khi chúng ta nói chúng ta trở nên kém thấu cảm.

Trong trị liệu, một số kiểu đáp ứng thấu cảm đã được định hình, gồm: đáp ứng hiểu biết thấu cảm; khẳng định thấu cảm; gợi nhớ thấu cảm; khám phá thấu cảm; và ước đoán thấu cảm (Greenberg & Elliot, 1997; Greenberg và cs., 1993; Watson và cs., 1998).

Và dưới đây trích
bài báo cho thấy chỉ cần hít nhanh chất Oxytocin có thể cải thiện khả năng thấu cảm của bạn:

Nó không những là hormone chính hiệu mà còn là hormone đọc được tâm trí nữa. Hít mạnh oxytocin- chất làm nền tảng gắn kết xã hội giữa các loài động vật- giúp cho đàn ông tăng cường khả năng đọc cảm xúc của người khác.

Hai năm trước, các nhà nghiên cứu báo cáo rằng, oxytocin tăng cường sự tin cậy. Giờ đây, đội ngũ nghiên cứu do Gregor Domes của Đại học Rostock- Đức đứng đầu đã khám phá một trong các thành phần cơ bản của sự tin cậy: nhận thức xúc cảm.

Các nhà nghiên cứu xịt oxytocin lên mũi của 30 đàn ông và kiểm tra họ có thể đọc xúc cảm từ các bức ảnh chụp đôi mắt tốt trong những tình huống thực tế như thế nào. 20 người trong số họ đã thể hiện giỏi hơn hẳn sau khi hít oxytocin.

Dome khẳng định rằng, hormone oxytocin có thể được dùng để điều trị người mắc tự kỷ- đối tượng nỗ lực đọc cho được cảm xúc của người khác.
Nhân đây, cũng cần biết rằng, nhiều nghiên cứu về bắt chước cung cấp thêm bằng chứng các cá nhân mắc rối loạn phổ tự kỷ (Autism Spectrum Disorders: ASDs) phải chịu đựng sự thiếu hụt trong việc xử lý xúc cảm theo bản năng, dù họ hoàn toàn có khả năng bắt chước một cách ý thức các xúc cảm.

Điều này tương hợp với
các nghiên cứu thực hiện đối với người không có khả năng diễn đạt hoặc định dạng cảm nhận xúc cảm (alexithymia), những đối tượng cũng gặp vấn đề xử lý vô thức về xúc cảm, dù họ có thể mô tả cảm xúc một cách rõ ràng ở bình diện trung tâm ý thức.

* Tóm lại, như phát biểu của Jeane C. Watson, để thực sự thấu cảm tràn đầy, nhà trị liệu phải nhận thức về những gì đang xảy ra ở từng khoảnh khắc một trong mối liên hệ của họ với thân chủ, và hiểu biết về logic xúc cảm của thân chủ.

Fiedler (1950) phát hiện thấy rằng, những nhà trị liệu mới vào nghề hiểu biết thân chủ một cách trí năng mà không theo hướng xúc cảm; họ nghĩ ngợi thật khó khăn để hướng theo các dòng suy tư của thân chủ.

Theo ý bà Watson, hiểu biết một cách trí năng là thấu hiểu trên bề mặt ý nghĩa những gì thấu chủ đang tỏ lộ. Thấu cảm đủ đầy thu góp ý nghĩa, cảm xúc, và yếu tính những trải nghiệm của thân chủ. Nó đòi hỏi nhà trị liệu hòa trộn bản thân vào trải nghiệm của người khác- nếm, ngửi, cảm nó nhằm thu hẹp, gom góp lại các bờ vực và khía cạnh hàm ẩn của nó.

Nhà trị liệu- bà Watson nói- cần có khả năng đáp ứng thật hòa hợp với thân chủ và hiểu họ ở mặt xúc cảm lẫn mặt nhận thức.

Khi thấu cảm được khai triển ở cả 3 mức độ- liên nhân cách, nhận thức và xúc cảm- thì nó là một trong những công cụ đầy quyền lực mà nhà trị liệu tùy ý sử dụng nhằm đem lại lợi lạc cho chính thân chủ của mình.

----------
Tài liệu tham khảo chính:

Humanistic Psychotherapies- Handbook of Research and Practice, (2001), pp.445- 471.


Như bạn có thể đoán ra, bài này tôi đã dự tính cho mục "Đầu tuần một từ" hôm qua, song do bận đi vấn an một bà cụ 86 tuổi- mẹ người bạn vong niên- sắp qua đời nên đành giữ lại viết tiếp...

Hôm nay, trên tờ lịch bàn dẫn lời của G. Wilde: "Ái tình là một bí mật mà người muốn nhận nó thì phải quỳ gối xuống." Có lẽ, đó là lý do tôi cảm thấy đau chân từ hồi tối đến giờ chăng?

Thực tế cho thấy rằng, quan hệ là yếu tố quyết định sự thành bại ở đời, nó tác động quan trọng đến độ sung mãn tâm lý của mỗi người trong thế giới hiện đại.

Một số nhà nghiên cứu thậm chí xác quyết: việc duy trì và khích động niềm đam mê trong những mối quan hệ tốt đẹp, dường như mang ý nghĩa sống còn cho sức khoẻ chúng ta chẳng kém gì thức ăn bổ dưỡng và thói quen tập thể dục đều đặn (
Ryff và cs., 2001).

Không những thế, theo nhà dịch tễ học xã hội Richard G. Wilkinson, sức khoẻ của xã hội xem chừng phụ thuộc vào chất lượng của các mối quan hệ.

Tiếc thay, nhiều khía cạnh của cuộc sống cạnh tranh quá phức tạp, đầy toan tính quyền lực và bận rộn vì công ăn việc làm ngày nay đã và đang chống lại các mối quan hệ của chúng ta- xa người thân, lơi lỏng liên kết xã hội và gia đình, dẫn đến tình trạng cách biệt và cô độc.

Vậy, xem xem tâm lý học có thể nói với chúng ta điều gì về những mối quan hệ?

@ Tại sao những mối quan hệ tốt đẹp đem lại lợi ích sức khoẻ tương đương với việc tập thể dục và dinh dưỡng?

Sách báo cho thấy, nhiều người trong xã hội phương Tây hiện đại hầu hết đã thoả mãn các nhu cầu sinh lý cơ bản nên họ tìm kiếm các mục tiêu cao hơn cho sức khoẻ thể chất và tinh thần.

@ Những bí mật cá nhân trong chiếc máy nghe nhạc MP3.

Nghiên cứu của Rentflow & Gosling (2006) phát hiện: âm nhạc là chủ đề trò chuyện thông dụng nhất giữa mọi người; chức năng hữu ích của âm nhạc khi lần đầu tiên ta tiếp xúc với ai đó và loại thông tin mình có thể chiết xuất từ âm nhạc mà kẻ khác thích.

@ Tiến gần nhau hơn: Nghệ thuật của sự tự bộc lộ.

Phân tích hiện tượng: Khi ai đó chỉ mới sơ ngộ đã cảm thấy ta chiếm trọn trái tim họ, thì điều ấy dễ khiến chúng ta bỏ chạy.

@ Bạn phối ngẫu không chung tình.
Câu hỏi là Tại sao.

Kiểu quy buộc ta hình thành về hành vi của bạn phối ngẫu sẽ tác động quan trọng, bất kể ta có khắc phục và vượt qua được hay không những gì họ đã làm với mình. Nó cũng sẽ ảnh hưởng ghê gớm, cho dù ta có thể và muốn gìn giữ mối quan hệ này.

[Tôi nhớ, đã đọc lâu lắm trong một cuốn sổ tay quảng cáo thuốc đại ý rằng, những gì bạn làm cho tôi rồi tôi sẽ quên, những gì bạn nói với tôi rồi tôi sẽ quên, song những gì bạn làm tôi cảm thấy về điều gì đó thì tôi sẽ chẳng thể nào quên.]

@ "Tính nghi ngờ dở hơi" có thể gây ngộ độc quan hệ như thế nào.

Hoài nghi có cái hay của nó, song nếu ngớ ngẩn, lạm dụng quá thì đố ai lường hết nổi hậu quả- một nghiên cứu của Kruger và Gilovich (1999).

Trong lĩnh vực nghiên cứu
tâm lý trị liệu, mối quan hệ giữa thân chủ và nhà trị liệu luôn được ưu tiên xem xét và thực tế, giới chuyên môn đã thu được không ít lợi lạc.

Mối quan hệ giữa thân chủ và nhà trị liệu thường được lượng giá thông qua thuật ngữ therapeutic alliance, nhằm chỉ mối gắn bó khăng khít và sâu đậm giữa các đối tác cũng như sự chia sẻ hiểu biết về công việc phải làm và mục tiêu cần đạt được (Bordin, 1976).

Liên minh mang tính trị liệu này trở thành đóng góp chính yếu đối với mục tiêu lâm sàng, bất kể định hướng lý thuyết của nhà trị liệu ra sao (Beutler, Machado, & Neufeld, 1994; Horvath & Greenberg, 1994; Orlinsky, Grawe, & Parks, 1994).

Orlinsky và cs. đã tìm thấy sự kiện chứng thực cho quyền năng của mối quan hệ trị liệu với hơn 1.000 tài liệu tiến trình- thành tựu; trong số đó, những mối liên hệ mạnh mẽ nhất thực sự trở thành viễn tượng đáng xem xét đối với thân chủ (tr.265).

Tự thân liên minh mang tính trị liệu có tác dụng chữa lành và nó càng quân bình càng tốt. Chấp nhận và xem trọng giá trị trải nghiệm của thân chủ là yếu tố cơ bản trong trị liệu. Trong các phương thức trị liệu hôn nhân- gia đình, điều này bao gồm một nỗ lực tích cực nhằm củng cố vững chắc trải nghiệm của mỗi một thành viên theo cách làm tăng trưởng thêm xu hướng tự chữa lành bẩm sinh của thân chủ (tr.310).

Thành phần căn cốt đang bàn tới- liên minh trị liệu hoặc hoạt động liên minh (working alliance)-- là một cấu trúc ngày càng thu hút sự chú ý của giới nghiên cứu về mối quan hệ trị liệu.

Moras & Strupp (1982) kết luận rằng, thông qua mức độ của các mối quan hệ liên nhân cách ngay khi bước vào trị liệu có thể dự đoán mức độ hợp tác, tham gia cực kỳ tích cực của thân chủ trong mối quan hệ trị liệu.

Filak, Abeles, & Norquist (1986) đã khảo sát: cho dù có hay không thái độ trong quan hệ liên nhân cách theo chiều hướng hoà nhập- thù địch-- ngay từ buổi đầu trị liệu-- thì nó cũng đều tác động đến thành tựu trị liệu. Cụ thể, 72% đối tượng có thái độ hoà nhập đã đạt được thành tựu mỹ mãn, trong khi đó, chỉ 38% đạt kết quả vừa phải do tham gia tâm lý trị liệu với thái độ thù địch.

Như vậy, chất lượng của quan hệ trị liệu là mấu chốt cho sự thành công các mục tiêu trị liệu. Một khi chất lượng quan hệ được tạo ra và đang hiện diện, thì cả thân chủ và nhà trị liệu đều biết điều ấy. Ngược lại, họ đều cùng nhận ra mối quan hệ không cảm thấy hài lòng hoặc nông cạn.

Do đó, nhà trị liệu cần chú ý đúng mức vấn đề này. Đôi lúc, nhà trị liệu cố lãng tránh việc nêu vấn đề về mối quan hệ với hy vọng là, tuần tới nó sẽ khá lên.

Mong mỏi lưu tâm một cách trực tiếp vấn đề với thân chủ là tạo cơ hội và tiềm năng hoàn thiện mối quan hệ. Như ví dụ dưới đây chẳng hạn.

Nhà trị liệu (T): Chúng ta đã cùng nhau làm việc được một vài liệu trình rồi, và giờ đây tôi thực lòng muốn nhận biết về thái độ xa cách giữa chúng ta. Tôi tự hỏi cô đang cảm nhận ra sao về nó...

Thân chủ (C): Vâng, như ông vừa lưu ý đấy thôi, cảm giác nó khá căng thẳng.

T: Xem chừng là nhờ nói về chuyện này, chúng ta có thể phát hiện ra vấn đề và thoát khỏi vướng mắc.

Nhà trị liệu trong ví dụ trên đang nhấn mạnh đến vấn đề cốt yếu là mối quan hệ trị liệu. Nếu không làm thế, có thể nhà trị liệu phải làm việc rất khó khăn và thân chủ không nói gì dù nhận ra điều ấy.

Nói tóm lại, chúng ta biết được một số điều sau:

1. Mối liên minh kết hợp với sự đổi thay mang tính trị liệu, được trải khắp các tình huống, bối cảnh và điều trị.

2. Mối liên minh khởi từ những tính cách và hành vi của thân chủ; tương quan một cách tích cực với các tính cách đáng mong đợi và tiêu cực với các hành vi kém mong đợi hơn.

3. Các tính cách của nhà trị liệu (thấu cảm, nồng nhiệt, v.v...) gắn kết chặt chẽ với những mối liên minh.

4. Mối liên minh có thể được dự đoán qua kết quả trị liệu.

5. Có một tập hợp các công cụ có thể đo lường một cách đáng tin cậy mối liên minh.

Tuy vậy, còn một số điều khác chúng ta cần phải tiếp tục tìm hiểu thêm nữa:

1. Khuynh hướng nhân quả của mối liên minh.

Liệu một mối liên minh chặt chẽ tạo ra các kết quả tốt đẹp, hay các kết quả tốt đẹp sinh thành từ một liên minh chặt chẽ?

2. Các mô hình lý thuyết khác biệt nhau giải thích mối liên minh là quan trọng ra sao.

3. Nhiều thực nghiệm hỗ trợ về mặt kỹ thuật để củng cố và sửa chữa mối liên minh.

4. Nhiều hiểu biết hơn về các cơ chế làm sản sinh ra một mối liên minh bền chặt.

5. Cách thức mối liên kết phát triển và thay đổi thông qua tiến trình trị liệu.

6. Tăng cường kiến thức về những yếu tố thay đổi này cho thân chủ dựa trên những nền tảng khác biệt nhau.

Trở lên trên là sự thấu cảm của người. Thế còn loài chuột, chúng có sự thấu cảm không?

Jeffrey Mogil và nhóm nghiên cứu của trường đại học McGill, Canada đã chỉ ra bằng chứng đầu tiên về sự thấu cảm giữa những loài động vật có vú trưởng thành, chưa phát triển cao lắm (adult, non-primate mammals), thông qua việc chứng tỏ các con chuột nhạy cảm hơn với sự đau đớn khi nhìn thấy đối tượng cùng hội cùng thuyền trải nghiệm nó.

Theo nhận xét của các nhà chuyên môn không tham gia trong công trình nghiên cứu này, đó là quan điểm ngày càng phổ thông về kiểu đáp ứng cơ bản, tiền nhận thức với các ám hiệu mang tính xã hội có thể xuất hiện ở tất cả các loài có vú (this kind of basic, pre-cognitive response to social cues may be present in all mammals); khẳng định thấu cảm là một năng lực cổ xưa (empathy is an ancient capacity.)

Sự đáp ứng của chuột biểu lộ đau đớn với bạn trong nhóm là ví dụ về sự lây truyền cảm xúc (minh chứng hùng hồn nhất là việc thay phiên nhau ngáp (contagious yawn) ở cả người và hắc tinh tinh (chimpanzees).


Với các động vật bậc cao hơn, sự lây truyền xúc cảm có thể diễn tiến hướng đến các hành vi phức tạp thường liên quan tới thuật ngữ “thấu cảm”, như là khi con người hợp nhất nỗi đau của bạn bè và quyết định giúp đỡ.

Trong nghiên cứu của các nhà khoa học trường McGill, người ta tiêm acid acetic vào mỗi con hoặc cả cặp chuột trưởng thành cùng giới tính là nguyên nhân khiến chúng quặn đau, và để cho chúng quan sát nhau.


Một con chuột bị tiêm quằn quại hơn nếu bạn tình của nó cũng dằn vặt khổ sở, nhưng chỉ khi chuột đã từng sống chung lồng với bạn tình trên 14 ngày.

Quan sát một con chuột khác cũng thấy giảm thiểu sự đáp ứng với nỗi đau. Khi các nhà nghiên cứu tiêm vào chân của cặp chuột tương ứng bằng các liều khác nhau chất gây ra viêm tấy formalin, kết quả cho thấy: con chuột nào có bạn tình ít trải nghiệm đau đớn thì nó cũng có khuynh hướng giảm độ nhạy với cơn đau (được biểu lộ ra qua thời lượng chuột cào cấu chân).

Nghiên cứu còn phát hiện một con chuột quặn đau trở nên nhạy cảm hơn với acid acetic trong khi nhìn thấy bạn chung lồng trải qua các kích thích đau đớn khác nhau-- nóng nảy.

Những kết quả nghiên cứu gợi ý rằng trải nghiệm của chuột nói chung tăng độ nhạy cảm với đau đớn, và không đơn giản bắt chước những gì chúng nhìn thấy.

Nhằm phát hiện xem chuột sử dụng cách gì để giao tiếp với đồng đội cùng hoàn cảnh bị stress, các nhà nghiên cứu dùng các đồ chướng ngại vật lý mang tính hệ thống hóa khiến cho động vật bị điếc hoặc không thể ngửi được.


Họ phát hiện là chuột có vẻ phụ thuộc chủ yếu vào thị giác để tạo ra đáp ứng thấu cảm-- một ngạc nhiên, bởi lâu nay nguời ta vẫn tưởng chuột tín nhiệm chuyện ngửi, cùng với việc phát sóng siêu âm để trông nom kết quả của chúng.

Theo Mogil, có bằng chứng là loài gặm nhấm/ rodents không sử dụng cảm giác thị giác nhiều như là vị khách cuối cùng của chúng ta; tuy thế, điều đó hầu như là bất khả để phá sập các vòng mạch pheromone, mà chuột quen nhận dạng bạn thân thiết từ chốn đầu tiên; vì vậy, các chất pheromone có thể cũng là thứ đáng lưu tâm đầy ý nghĩa về sự thấu cảm/ a significant meditator of empathy.

Tuy không tham gia trong nghiên cứu, song chuyên gia James Harris của trường đại học John Hopkins cho rằng “thấu cảm là một cơ chế tiến hóa nhằm lưu giữ những sự gắn kết xã hội/ an evolutionary mechanism to maintain social cohesions.


Nếu bạn đang phát triển và ở trong một nhóm, bạn càng nhạy cảm với nỗi đau hơn các thành viên khác trong nhóm.” Còn Frans de Waal thuộc đại học Emory và Trung tâm nghiên cứu Quốc gia Động vật nguyên thủy Yerkes, lại nhìn sự thấu cảm mạnh mẽ giữa các cá thể tương tự việc quay trở lại với thời kỳ đầu tiến hóa của việc chăm sóc mẫu tử ở các loài có vú.

Bất luận gì đi nữa, các phát hiện ở chuột vẫn tiếp tục gây tranh cãi ở điểm mấu chốt: định nghĩa về sự thấu cảm. “Nhiều nhà tâm lý học suy nghĩ từ trên xuống dưới (trên bậc thang tiến hóa), do đó sự thấu cảm tương đương với nhận thức phức tạp đòi hỏi phải nội quan/ Lots of psychologists think top-down, hence equate empathy with complex cognition which requires introspection. Trong cái nhìn này, chuột không có sự thấu cảm,” de Waal lưu ý.

Vào năm 2004, các nhà nghiên cứu Anh quốc sử dụng hình ảnh chụp não để định vị trung tâm thấu cảm ở người. Ở đây, bước tiếp theo sẽ là phát hiện các cơ chế ẩn bên dưới hiện tượng ở chuột, theo Mogil và Harris.


Các nhà nghiên cứu “nên tránh tìm kiếm sự chân thành/ altruism ở loài gặm nhấm vì điều đó quá ngớ ngẩn, nhưng các phát hiện này làm chúng ta mở mắt về khả năng của loài gặm nhấm hàm ý những sự tương tác xã hội/ these findings have opened our eyes [about the] abilities of rodents in terms of social interactions,” Mogil nói.

Theo Jaak Panksepp thuộc trường đại học Tiểu bang Washington thì “nếu minh chứng hiệu quả thấu cảm ở chuột là đáng suy tư bởi cùng cơ chế não như thấu cảm ở người, thì sự kiện thực sự quan trọng là mô hình của chúng phản ánh thực tế tiến hóa không ngừng trong một cơ chế hướng đến xã hội giữa các loài động vật có vú/ their model actually reflects evolutionary continuity in a pro-social mechanism among different mammalian species.”

Rốt ráo ra, các nhà nghiên cứu cho rằng, nếu định nghĩa thấu cảm tương xứng với bất kỳ đổi thay nào trong hành vi nhằm đáp ứng các cảm giác lĩnh hội được từ động vật khác, thì vâng, chuột thể hiện sự thấu cảm.


Mô hình thể hiện sự thấu cảm này hơi giống như là biểu diễn lại cảm giác/ sensory replay khi bạn thấy ai đó cảm nhận điều gì và rồi chính bạn cũng cảm nhận về nó, như đã chỉ ra trong việc thay đổi nhạy cảm về đau đớn.

Mặt khác, nếu xác định thấu cảm như là khả năng thu gọn, trừu tượng quan điểm cá thể khác từ dữ liệu cảm giác về chúng, thì điều này không minh chứng có sự thấu cảm ở chuột. Rõ ràng là chuột không thiết lập nổi mức độ trừu tượng này. Chuột không thể, chẳng hạn, cảm nhận thấu hiểu về một con chuột khác từ câu chuyện nó nghe được.

Có vẻ, đôi khi trong khoa học thần kinh, những tranh luận tụt xuống góc độ ngữ nghĩa học/ semantics. Các con khỉ có kỹ thuật/ techonology không? Wow, chúng có thể sử dụng cái que để bắt một con mối mà, điều đó đáng giá đấy chứ? Câu trả lời là có và không, tùy thuộc vào cách ta định nghĩa kỹ thuật.

Vấn đề ở chỗ, bất luận kéo chuyện kỹ thuật tới điểm đầu hay cuối dòng thì mức độ phức hợp ở người mang ý nghĩa sâu sắc, to lớn hơn các loài động vật nguyên thủy, chưa phát triển đến bậc cao nhất. Dù cảm thấy được an ủi, thoải mái về nguồn gốc tiến hóa của bản năng kỹ thuật, thì Homo sapiens vẫn là biểu tượng tiến bộ sáng tỏ.

Điều này cũng tương tự như chuyện chuột và sự thấu cảm. Nếu muốn gọi sự thấu cảm-- theo cách thức chưa phát triển đủ đầy/ in a rudimentary way-- trong chuyện chuột biểu diễn lại cảm giác trước đau đớn của con chuột khác như là sự gắn kết xã hội thì OK, thật hay. Song, điều đó không phủ nhận được sự kiện rằng thấu cảm của người đòi hỏi năng lực trừu tượng và nhận thức phức tạp.

Lời cuối, theo ý kiến của nhà nghiên cứu khoa học Jonathan Balcome, khi chúng ta biết nhiều hơn về đời sống cảm xúc và tinh thần phức tạp của loài chuột (nhắt và cống/ mice & rats) thì theo suy lý logic, cần lượng giá lại mức độ thấu cảm chúng ta dành cho các loại động vật này; vì chúng ta đã khiến chúng phải chịu đựng đớn đau, căng thẳng và làm chúng tử vong trong quy trình thực hiện ở phòng thí nghiệm.

Học giả trường Cambridge Baron- Cohen nhìn nhận thấu cảm là “sự năng động định dạng những suy nghĩ và cảm xúc của người khác, rồi đáp ứng chúng với một xúc cảm thích hợp”/ empathy as “the drive to identify another person’s emotions and thoughts, and to respond to them with an appropriate emotion.

Theo Baron- Cohen, bản chất của não người hoặc là hướng đến năng lực thấu cảm (kiểu não E) hoặc nhắm tới việc hiểu biết các hệ thống (kiểu não S).

Nghiên cứu của Cohen cho thấy, năng lực thấu cảm của phụ nữ tốt hơn nam giới, nhưng khả năng hệ thống hóa ở họ lại không mạnh mẽ bằng. Trong khi đó, cánh đàn ông lại chú tâm vào cách thức sự việc vận hành, vào các hệ thống, và ít hứng thú việc trò chuyện những đề tài cảm xúc chẳng hạn.

Điều này có liên quan đến căn bệnh tự kỷ/ autism: một rối loạn xảy đến ở giống đực nhiều hơn trong hầu hết đối tượng mắc tự kỷ.

Trong
cái nhìn mới về sự kết nối giữa tâm trí và thân xác, các nhà khoa học so sánh hình ảnh chụp fMRI não của những đối tượng tham gia thực nghiệm: những người này đã lãnh nhận kích thích đau đớn lúc họ quan sát thấy dấu hiệu người yêu thương của mình đang phải chịu đựng một kích thích đau đớn.

Tức là, các đối tượng thấu hiểu/ empathize cảm xúc của người khác trong khi vắng bóng hoàn toàn bất kỳ kích thích cảm giác bên ngoài nào.

Các nhà nghiên cứu nhận thấy, trong thấu cảm thì chỉ một phần não thuộc hệ limbic/ anterior cingulate cortex và thùy não trước/ anterior insula là đều bị kích hoạt đáp ứng với xúc cảm và không lượng giá cảm giác.

Thấu cảm là khả năng hiểu những kinh nghiệm nội tại của người khác/ the ability to understand the internal experiences of another.
Đó là cơ chế nền tảng tạo nên kết quả của các sự kiện thể thao, điện ảnh hoặc các trò chơi game thú vị.

Thấu cảm là bản chất chính yếu mang tính người kết nối đồng loại với nhau, cho phép tương tác và truyền thông thuận lợi.

Khi thiếu hụt thấu cảm, các điều kiện như tự kỷ có thể gây ra cảm giác xa cách, phân ly cá thể với tha nhân. Thậm chí, những mức độ khác biệt tế nhị cũng có thể dẫn đến nhiều cách tiếp cận giao tiếp khác nhau.


Kiểu tiếp cận định hình “hợp tác”/ the stereotypical “collaborative” approach của phụ nữ ngược hẳn với kiểu “cạnh tranh”/ “competitive” approach của đàn ông có thể được quy cho bởi mức độ khác biệt về thấu cảm giữa hai giới. Như thành phần cơ bản của giao tiếp, thấu cảm cho phép ta hiểu biết người đối thoại, học hỏi và sống với tha nhân.

Trong khi định nghĩa về thấu cảm hầu như đã được số đông tán đồng, thì cơ chế chủ yếu của thấu cảm vẫn còn là chủ đề nóng bỏng trong nghiên cứu khoa học.

Một lý thuyết với tên gọi là “lý thuyết lý thuyết/ theory theory” đề nghị một sự phân tích, chứng cớ nền tảng cho thấu cảm. Mọi người hiểu hành động hiện thời của người khác nhờ việc sử dụng phân tích dựa trên kinh nghiệm trước đây về những hành động tương tự.


Lý thuyết bắt chước/ simulation theory lại giải thích thấu cảm dựa trên mô hình kinh nghiệm về người khác trong tâm trí của mình, như đặt cái tôi trong đôi giày của tha nhân.

Một khía cạnh của thấu cảm là khả năng hiểu dự định của người khác. Các tế bào thần kinh gương/ mirror neurons (nằm rải rác trong các vùng khác nhau của não) chỉ kích hoạt khi một hành động mang tính định hướng mục tiêu được quan sát, và chỉ khi hành động đó được thiết lập bởi một phần cơ thể (hơn là bởi một dụng cụ, ví dụ thế).

Điều này chứng tỏ có một sự kết nối giữa các neuron gương và khả năng đưa tới những vận động tiềm năng của người khác.


Hơn nữa, các neuron gương tỏ ra tích cực hơn khi một hành động định hướng mục tiêu được nhìn trong bối cảnh sinh ra thêm nhiều manh mối về dự định. Ví dụ, tế bào gương hoạt động năng nổ hơn khi một bàn tay được quan sát là đang nhặt một cái tách trong môi trường bẩn thỉu, bừa bãi hơn là trong một môi trường trung tính, ra dấu một suy luận khác, chẳng hạn người ta dự định đi rửa sạch nó.

Một khía cạnh nữa của thấu cảm là năng lực cảm nhận những gì người khác đang cảm nhận, cũng phản ánh tầm quan trọng của các tế bào gương.

Khi quan sát thấy kẻ khác đau đớn, các vùng não điều khiển sự đau đớn bị kích hoạt làm cho người ta ở trong trạng thái đau đớn. Thùy não trước và một bộ phận não thuộc hệ limbic đều bị kích hoạt khi một cảm xúc được nhìn nhận và khi nó được cảm thấy, như sự thất vọng chẳng hạn, chỉ ra rằng sự quan sát một xúc cảm tạo nên một mô hình tâm trí về xúc cảm ấy ở người quan sát.

Sự khác biệt trong hoạt động não giữa kinh nghiệm thực tế và sự quan sát có thể phản ánh mục đích của thấu cảm, chẳng hạn việc thấu hiểu kinh nghiệm của người khác.


Sự thấu hiểu này có thể đạt được mà không cần thả mình hoàn toàn vào kinh nghiệm hay xúc cảm của người khác, tức là ở đây các tế bào gương tạo nên một “phản ánh” về kinh nghiệm của người khác hơn là tái tạo lại hoàn toàn kinh nghiệm đó.

Từ quan điểm tiến hóa, năng lực thấu hiểu này có thể cung cấp một phương pháp đặc biệt hữu hiệu để thay đổi hành vi mang tính phenotype.

Mạnh khỏe không chỉ là nhờ vào vào gen, mà còn bởi phương tiện của truyền thông và bắt chước. Thấu cảm cung cấp sự tiện lợi cho việc học hỏi nhờ việc giao tiếp dễ dàng, hiểu biết và bắt chước. Mỗi một cá nhân không đòi buộc phải giải quyết vấn đề mà có thể thông qua sự quan sát kinh nghiệm của người khác. Nhìn người ta bị đau đớn có thể dẫn tới việc tránh hành vi hiểm nguy mà không cần cá nhân phải trải nghiệm nó để hiểu thấu nguy cơ.

Thực tế, thấu cảm có thể giữ vai trò tiền trạm của ngôn ngữ. Các tế bào gương tìm thấy trong vùng Broca, theo truyền thống, liên quan đến ngôn ngữ. Định khu này có thể chỉ ra vai trò của tế bào gương trong việc tạo nên “sự sẵn sàng-ngôn ngữ/ languge-ready” ở người, thông qua chuyện cung cấp một phương pháp ban đầu cho hiểu biết lẫn nhau hay truyền thông.

Tầm quan trọng của thấu cảm là đặc biệt rõ ràng trong một số rối loạn như tự kỷ/ autism, nơi thiếu hụt khả năng trong các liên hệ xã hội và truyền thông với người khác.

Tự kỷ ở trẻ em lần đầu tiên được mô tả vào 1943 bởi nhà tâm thần học trẻ em Leo Kanner thuộc Đại học John Hopkins, người đã nghiên cứu 11 trẻ có biểu hiện “sự cô đơn cùng cực ở giai đoạn đầu đời/ “extreme aloneness from the beginning of life.”

Thuật ngữ “autism” phái sinh từ tiếng Hy Lạp “autos” nghĩa là “bản ngã/ self”, được nhà nghiên cứu Thụy Sĩ Eugen Bleurer sử dụng trong một bối cảnh khác (tâm thần phân liệt/ Schizophrenia?) 3 thập niên trước đấy. Một năm sau, Hans Asperger- bác sĩ nhi khoa ở Vienna- cũng gọi tên tương tự.

Thời Kanner, số trẻ mắc tự kỷ chỉ chừng 1/ 10.000; một thập niên sau, số này tăng gấp 4 lần; ngày nay, các nhà dịch tễ học xác định 1/250 do việc cải thiện khả năng phát hiện và nâng cao nhận thức xã hội, cũng như hiểu biết sâu rộng hơn về phổ tự kỷ/ autism spectrum.

Nghiên cứu gần đây chỉ ra sự nối kết giữa tự kỷ và các tế bào gương. Ở người không mắc tự kỷ, quan sát điện não đồ EEG cho thấy sự triệt chặn các sóng mu cả trong lúc thực hiện cũng như quan sát hành động. Với trẻ mắc tự kỷ, các sóng mu chỉ bị triệt chặn khi thực hiện hành động, chứ không xảy ra lúc quan sát hành động.

Việc triệt chặn sóng mu có mối tương quan với hệ thống tế bào gương, sự thiếu hụt sự triệt chặn ở trẻ mắc tự kỷ hàm ý một rối loạn chức năng của hệ thống tế bào gương. Điều này gợi ý việc hợp nhất sự kích thích tế bào guơng trong các chương trình trị liệu trẻ tự kỷ có thể đưa đến sự cải thiện đáng kể.

Như đã biết, tự kỷ tăng đáng kể ở nam hơn nữ. Thực tế thì một số nhà khoa học cho rằng năng lực thấu cảm là sự khác biệt nhận thức chủ yếu giữa đàn ông và phụ nữ.


Nói chung, phụ nữ thường đạt điểm cao hơn trong các test về thấu cảm, và đàn ông giành điểm trong các test định hướng mang tính hệ thống. Các mức độ testoterone cao trong nước tiểu có mối gắn kết với hành vi chống đối xã hội, cũng được tìm thấy ở trẻ mắc tự kỷ. Có khả năng trẻ tự kỷ chỉ là một phiên bản cực đoan của não “đàn ông”/ “male” brain.

Mặt khác, nếu thấu cảm đem lại lợi ích và thuận tiện đối với các sinh thể, thì các mức độ phát triển cao có thể được chọn lọc, bất chấp giới tính, và người ta có thể mong đợi thấy những mức độ bình đẳng giữa nam và nữ.

Với tất cả lợi thế do thấu cảm đem lại, dường như phụ nữ thuận tiện hơn hẳn nam giới do có mức độ cao hơn về thấu cảm. Tuy thế, tiến trình lịch sử cho thấy, đàn ông nói chung nắm giữ vị trí quyền lực trong xã hội.

Có lẽ, quá nhiều thấu cảm thực tế là điều bất lợi. Nếu ai đó phải chịu đựng một phiền nhiễu để giành quyền lực thì thấu cảm làm trở ngại. Một mức độ thấu cảm nhất định là cần thiết để hiểu thấu các dự tính của địch thủ, để thấu hiểu khổ ải nhằm nhận thức việc sử dụng hữu ích chiến lược của nó. Dường như việc áp dụng kiến thức này khác nhau ở mỗi giới.

Tầm thấu cảm thấp ở đàn ông có thể đưa đến sự phá hủy và thống trị, trong khi mức thấu cảm cao của phụ nữ có thể dẫn họ tới sự hài lòng và xoa dịu. Nói chung, ham muốn khác nhau cho nên mục tiêu tương tác của đàn ông và phụ nữ khác nhau: đàn ông tìm kiếm để giữ gìn hoặc vươn đến sự kiểm soát bên trên, trong khi phụ nữ truy cầu nhằm thực hiện nhiều hơn sự nhất trí và gần gũi.

Có khả năng là việc giành được một vị trí quyền lực thực tế đòi hỏi phụ nữ trả giá cao hơn so với đàn ông khi những phụ nữ cảm thấy nỗi khổ đau của các chuyện này, người mất mát quyền lực khắc nghiệt hơn. Dẫu vậy, có thể là cơ chế ẩn dưới sự thấu cảm thì không khác biệt lắm ở mỗi giới, và nó không chỉ là các mức độ thấu cảm mà còn là tiến trình xử lý kinh nghiệm thấu cảm khác biệt giữa hai giới.

Người ta đã khám phá ra rằng phụ nữ và nam giới giải quyết vấn đề không giống nhau, đáp ứng stress cũng như tiến trình ghi nhớ xúc cảm cũng khác biệt. Những nghiên cứu trong tương lai về các tế bào guơng và thấu cảm có thể bao gồm cả sự so sánh giữa não đàn ông và não phụ nữ về định khu tế bào gương, mức độ hoạt động, và tỷ trọng.

Việc tỏ lộ các cơ chế cơ bản của thấu cảm nâng cao hơn sự hiểu biết tương tác giữa người với người.

Hiểu được làm thế nào người ta giao tiếp có thể minh họa các cách thức để cải thiện sự truyền thông, khiến cho việc tương tác hiệu quả hơn. Sự khác biệt về giới trong giao tiếp, truyền thông có thể được khám phá và hiểu thấu trong ám chỉ về tiến trình thấu cảm, mở đường cho những thảo luận trong tương lai về những đặc trưng giới riêng biệt trong các môi trường khác nhau.

(Ngày mai, tiếp theo: Sự thấu cảm của chuột)

Bài đăng cũ hơn Trang chủ