Thật thú vị và may mắn vì được xem một đêm diễn chung kết có quá nhiều điều bất ngờ, về cả hình thức tổ chức lẫn nội dung cuộc tranh tài giữa 34 mỹ nhân đất Việt.

Hầu hết người đẹp đều xinh tươi, cao ráo, vượt quá mong đợi. Đáng chú ý, câu hỏi ứng xử năm nay có tiến bộ nhiều, song khả năng trả lời của thí sinh thì vẫn chưa ổn, tầm tầm và trơn tru không hơn không kém.

Qua vô tuyến truyền hình, tôi ấn tượng rõ nhất là hình ảnh cô gái 18 tuổi Mai Phương Thúy sắp đại diện Tổ quốc đi khoe sắc đua tài với mỹ nhân khắp thế giới ấy, đã lướt qua rất nhiều vòng thi và giành vương miện Hoa hậu Việt Nam 2006 tối qua trong tâm thế dạo chơi nhẹ nhàng với đôi mắt mở to và vẻ háo hức, ngây thơ vô cùng gợi cảm.

Như một cơ hội hồi tưởng riêng tư, post này sẽ tiếp tục đào sâu hứng khởi về khoái cảm thẩm mỹ, đồng thời gắng chỉ ra mối quan hệ giữa cái đẹp và bộ não.

Chắc chắn, chúng ta từng thụ hưởng những trải nghiệm thẩm mỹ khi tình cờ chiêm ngưỡng các đối tượng không thuộc lĩnh vực "nghệ thuật/ art", như là cảnh hoàng hôn hay một ai đó khác (hoặc cùng) giới tính với mình.

Có vẻ, đó là thứ trải nghiệm thẩm mỹ duy nhất, hoặc cái đẹp nói chung, khiến ta phân biệt nó khỏi những kinh nghiệm tưởng thưởng khác.

Từ ý nghĩa thần kinh học mà nói, toàn bộ các cách thức, kiểu loại đối tượng và suy tư đều có thể tưởng thưởng hưởng thụ, nhưng không phải tất cả được trải nghiệm như là khoái cảm thẩm mỹ hay sự sung sướng.

Trong Tâm lý học nhận thức, có lý thuyết của
V.S. Ramachandran xem cái đẹp như là sản phẩm của các tưởng thưởng đặc trưng thấu hiểu được trong một kích thích (có thể thuộc nghệ thuật hoặc không).

Theo đó, các tác phẩm nghệ thuật sản sinh những kích họat liên tưởng tích cực (ví dụ, một sự tiếp cận động cơ) thì được xem là đẹp, trong khi những cái khác gây ra những kích hoạt liên tưởng tiêu cực (như những e ngại, chối bỏ động cơ) lại không.

Nguyên tắc đầu tiên trong 10 nguyên tắc nghệ thuật của Ramachandran, dưới cái nhìn của khoa học thần kinh thị giác, là sự chuyển đổi cao nhất.

Để lý giải khái niệm này, có thể dẫn thực nghiệm của Ramachandran và Hirstein (RH) về những con chuột nhắt được huấn luyện đáp ứng với các hình chữ nhật mà không đáp ứng các hình vuông.

RH nhận thấy, khi các hình chữ nhật và hình vuông không đồng nhất nhau trên một chiều kích đơn lẻ (chẳng hạn, bề rộng hoặc chiều cao) thì các con chuột nhắt được huấn luyện đáp ứng một chiều dài nào đó của hình chữ nhật sẽ đáp ứng thậm chí càng mạnh mẽ hơn bề ngang của hình chữ nhật.

Hiệu ứng chuyển đổi cao nhất liên quan đến việc chỉ ra yếu tính (từ tiếng Sankrit: "rasa") của bề mặt, màu sắc riêng biệt,… Chẳng hạn, thử xem xét tác phẩm điêu khắc Hindu trong bài thuyết trình của Ramachandran.

RH khẳng định rằng nhà nghệ sĩ đã thu gọn hình thể phụ nữ, rồi phóng đại nó theo hướng tách khỏi hình thể đàn ông; do vậy, làm cho tác phẩm điêu khắc này càng tạo thêm phần khoái cảm thẩm mỹ.

Giải thích này thực sự khá tương hợp với các nghiên cứu về sự hấp dẫn của khuôn mặt và hình thể.

Theo đó, người ta phát hiện ra rằng trong một vài bối cảnh nào đó (như suốt giai đoạn có khả năng thụ thai cao), phụ nữ thấy khuôn mặt mình mang những nét cực kỳ nam tính thì hấp dẫn hơn các chị em có khuôn mặt bình thường hoặc "trung bình" (thường gọi là
"eigen-faces").

Ngoài ra, những người tham gia thực nghiệm thấy thể hình phụ nữ hoặc nam giới hấp dẫn hơn những thể hình thực sự được đánh giá là hấp dẫn nhất, và những thể hình phụ nữ mang những nét phóng đại nam tính hoặc thể hình nam tính mang những nét phóng đại nữ tính, được đánh giá là kém hấp dẫn nhất.

Một ví dụ khác mà RH minh hoạ cho hiệu ứng chuyển đổi cao nhất là bức tranh khoả thân của hoạ sĩ Françoise Boucher: Nu on a Sofa bên trên.

Hai ông cho là họa sĩ Boucher đã phóng đại màu sắc hồng hào trên làn da người phụ nữ trong tranh, làm chúng hấp dẫn hơn nhiều so với những đặc trưng thông thường của màu sắc:

Não động vật linh trưởng (người, khỉ, vượn) có những mô thức chuyên biệt hoá tập trung vào các dạng thể thị giác như là độ sâu của màu sắc và chuyển động. Có lẽ, nghệ sĩ có thể tạo ra các bức tranh biếm hoạ nhờ vào việc khai thác hiệu ứng chuyển đổi cao nhất/ phóng đại theo những chiều kích khác hẳn không gian định hình, ví như "không gian màu sắc" hoặc "không gian chuyển động."

Cứ xem bức tranh khoả thân phụ nữ trên ghế sofa với khuôn mặt thiên sứ trong sáng. Tách khỏi việc nhấn mạnh chất nữ tính, những đặc trưng tựa như trẻ thơ (sự chuyển đổi cao nhất khuôn mặt nam tính/ nữ tính) làm cho màu sắc của làn da được phóng đại đến độ sản sinh một sắc diện hân hoan ửng hồng đầy siêu thực và phi lý "một cách khoẻ mạnh.


Để thực hiện điều này, người ta có thể khẳng định rằng hoạ sĩ đang tạo tác một biếm hoạ trong không gian màu sắc, đặc biệt những màu sắc thích hợp với sự khác biệt nam/ nữ trên làn da.

Trở lên trên, đã giới thiệu phần nào một vài nghiên cứu của các nhà khoa học về cái đẹp trong nghệ thuật. Thực tế, giới chuyên gia mỹ học thần kinh còn biết rất ít về ảnh hưởng của nghệ thuật đối với não bộ, và càng biết ít ỏi hơn từ góc độ khoa học thần kinh về trải nghiệm cái đẹp thẩm mỹ.

Dẫu vậy, có một nghiên cứu đã soi rọi đôi chút tham vọng định khu cái đẹp trên não, và đối lập với nó là trải nghiệm về sự xấu xí.

Công trình của Kawabata và Zeki chỉ ra cách não hình thành sự đánh giá về cái đẹp. Các đối tượng đẹp làm kích hoạt lớn hơn các trung tâm xúc cảm của não, trong khi các đối tượng xấu xí kích hoạt mạnh hơn vỏ vận động.

Thuỳ hốc trán mắt cũng bị kích hoạt khi chúng ta tri nhận các đối tượng khoái lạc mà không phải lúc nào cũng liên quan với khoái cảm thẩm mỹ (ví dụ, các đối tượng tình dục); và vỏ vận động được kích hoạt khi chúng ta tri nhận một loạt các kích thích gây ác cảm (thuộc về cả thị giác, xã hội và tư duy).

Dường như, nếu có dữ liệu hình ảnh tốt hơn thì chúng ta có thể minh hoạ tinh tế hơn sự khác biệt trong định khu cái đẹp và các kiểu trải nghiệm khoái lạc, giữa cái xấu với những trải nghiệm phi khoái cảm.

Song giờ đây, nhất là khi vừa xem xong cuộc thi Hoa hậu Việt Nam 2006, tôi nghĩ, chúng ta nên nhìn nhận những nét tính cách riêng biệt của trải nghiệm thẩm mỹ như là một cái gì bí hiểm.

Thật thế! Nét mặt ngây thơ và giọng nói trẻ con cùng với vẻ lúng túng của cô Hoa hậu cố chỉnh sửa chiếc vương miện cho ngay ngắn trên đầu, thậm chí đã có lúc định đặt hẳn nó trên bó hoa đang cầm tay- há chẳng phải là một điều gì đấy huyền hoặc rất dễ lan truyền cảm hứng xao xuyến, bồn chồn hay sao?

Bài đăng Mới hơn Bài đăng Cũ hơn Trang chủ