Chuyện vô danh hữu tính, nick này tên nọ, phải che giấu thân phận để an toàn hoặc sống trong bóng tối do định kiến xã hội,... không chỉ tìm thấy trên các forum, blog đời thường mà nó còn diễn ra cả trong lĩnh vực nghiên cứu và ứng dụng khoa học như giới chuyên gia sức khoẻ tâm thần. Bà X. thân mến, Phân tâm học có thể giúp con trai bà trong một chiều hướng khác. Nếu cậu ta buồn bực, thần kinh bất ổn, bị mâu thuẫn giằng xé, bj kiềm chế trong đời sống xã hội, phân tâm học có thể mang lại sự điều hoà, tâm trạng thanh thản, công suất làm việc tối đa, không cần biết cậu ta có thay đổi xu hướng tình dục hay không. Nếu bà quyết định cho tôi điều trị cậu ấy (tôi không nghĩ vậy!), cậu ấy sẽ phải đến Vienna. Tôi không có ý định rời khỏi đây. Dù sao, bà cũng đừng quên cho tôi một câu trả lời.
Gần đây, tôi mới được biết đến trường hợp của Bác sĩ ẩn danh H. (Dr. H. Anonymous), người đã phải ngụy trang khi xuất hiện tại Hội nghị năm 1972 của Hiệp hội Tâm thần học Hoa Kỳ (APA) để tuyên bố mình là bác sĩ tâm thần học đồng tính.
Tên thật của ông: John E. Fryer-- người mà cáo phó được đăng trên các tạp chí y khoa danh tiếng hàng đầu thế giới khi ông mất vào năm 2003.
Cần lưu ý rằng, mặc dù các tiêu chuẩn chẩn đoán trong tâm thần học, tâm bệnh học có đảm bảo tính ứng nghiệm (reliability) và độ hiệu lực (validity) cao đến đâu chăng nữa, bản thân chúng cũng mang một số tiêu cực, khiếm khuyết.
Có lẽ, điều quan yếu nhất là tiến trình chẩn đoán hàm ý cá nhân có một trạng thái y khoa 'bất thường' ('abnormal' medical condition). Các tiêu chuẩn chẩn đoán 'y khoa hoá' ('medicalize') cá nhân và đặt để người ta trong thẩm quyền xem xét của giới chuyên gia sức khoẻ tâm thần-- đôi khi hoàn toàn không thích hợp chút nào.
Vì thế, cho đến năm 1973, đồng tính luyến ái (homosexuality) vẫn còn thuộc danh sách rối loạn tình dục của DSM-- những nỗ lực hợp pháp hoá việc điều trị và chính thống chống lại người đồng tính (homosexuals). [Paul Bennett. (2003). Abnormal and clinical psychology--An introductory textbook. USA: Open University Press, tr.13.]
Hiện một trang Wikipedia về John E. Fryer đang tiếp tục xây dựng.
Nhân tiện, xin giới thiệu thư của Sigmund Freud (1856-1939)-- ông tổ của trường phái trị liệu Phân tâm học (Psychoanalysis) nổi tiếng-- gửi mẹ một người đồng tính luyến ái (1935), qua bản Việt ngữ của Trịnh Hữu Tuệ (talawas.de, 16.6.2002).
Cuối cùng, thêm một tin tốt lành mới nhất cho những người đồng tính.
Đọc thư bà, tôi hiểu rằng con trai bà là một người đồng tính luyến ái. Ấn tượng mạnh nhất của tôi là khi kể về cậu ta, bà không hề dùng đến từ đồng tính luyến ái. Cho phép tôi hỏi vì sao bà phải tránh nó. Đồng tính luyến ái tất nhiên không là điều lợi, nhưng cũng không khiến ta phải hổ thẹn. Nó không phải là tật hay nhục, cũng không thể coi là bệnh; nó được coi là một biến thể của chức năng tình dục, nảy sinh do một bước nhất định của quá trình phát triển tình dục bị trì hoãn. Nhiều tên tuổi vĩ đại từ xưa tới nay cũng thuộc giới đồng tính luyến ái (Plato, Michelangelo, Leonardo da Vinci, v.v...) Buộc tội người đồng tính luyến ái là bất công, và cũng là tàn nhẫn. Nếu bà không tin tôi, xin bà hãy đọc sách của Havelock Ellis.
Tôi nghĩ, khi hỏi tôi có giúp được gì không, ý bà là liệu tôi có trừ bỏ được đồng tính luyến ái, thay thế nó bằng tình dục bình thường được không. Câu trả lời là, nói chung, chúng tôi không thể hứa là sẽ làm được. Trong một vài trường hợp nhất định, chúng tôi thành công trong việc phát triển cái mầm mống tình dục khác giới bị cằn cỗi quá sớm trong những người đồng tính luyến ái, nhưng trong đa số trường hợp thì việc này không thể làm được. Điều này tuỳ thuộc vào tuổi và tư chất của từng cá nhân. Ta không thể tiên đoán kết quả điều trị được.
Chúc bà mọi sự tốt lành,
Freud
P.S: Nét chữ viết tay của bà không gây khó khăn gì cho tôi. Hy vọng nét chữ và tiếng Anh của tôi sẽ không gây khó khăn hơn cho bà.
Phân loại: Đồng tính luyến ái, Đời sống, Nghiên cứu, Tâm bệnh học, Thời sự
Bài đăng Mới hơn Bài đăng Cũ hơn Trang chủ