Bài này mượn tiêu đề Why we hate đăng trên tờ Psychology Today (Tâm lý học Ngày nay), quyển 35, số 3, tháng 5- 6/2002.

Tuy không thừa nhận, song chúng ta gây hại cho nhau bởi các xu hướng bài ngoại. Những định kiến của chúng ta được giấu kín sâu thẳm đến độ chúng ta vội vàng đánh giá, sợ hãi và thậm chí ghét bỏ người xa lạ, không quen biết.

Hôm qua, khi trở lại ngồi ngắm lần nữa vẻ trầm mặc cũ kỹ của quần thể
Nhà thờ đá Phát Diệm (huyện Kim Sơn- Ninh Bình) trong tiếng chuông điểm giờ ngọ, tôi như nghe thấy từ ngôi nhà nguyện hoang lạnh kia lời Kinh Cáo mình thầm thì: Mea culpa (Lỗi tại tôi, lỗi tại tôi mọi đàng!)

Xung quanh tôi có rất nhiều em học sinh mang phù hiệu trường lớp đi lại theo nhóm- có lẽ nhân ngày Hiến chương 20.11 vui vẻ- đã đạp xe cả tiếng đồng hồ để ghé thăm thắng cảnh này.

Những phiến đá nhẵn nhụi soi bóng khổ đau, những cánh cửa giáo đường đều khoá kín: "Hãy lắng nghe dục vọng như bạn lắng nghe gió thổi trong cây" (Krishnamurti).

Chính tại chốn tu hành này, hơn hai năm trước, tôi đọc được một câu suy ngẫm Chúa Nhật thật ấn tượng:Yêu thương là điều chúng ta hay sai lỗi hơn cả.

Và tôi nhớ trong bộ đĩa VCD film The Passion of The Chirst (Cuộc khổ nạn của đức Jesus), Ngài kêu xin Chúa Cha trên thập giá: Lạy Cha, xin Cha tha cho họ vì họ không biết việc họ làm.

Hình như trong sách Phúc Âm còn khuyến cáo: Con đừng tự đặt mình làm thẩm phán để tránh khỏi bị xét đoán.

Dĩ nhiên, ở đây "đừng xét đoán" không hàm ý chớ sử dụng sự phê phán, mà đúng hơn nó có nghĩa là không nên sử dụng sự phê phán của mình để "kết án" người khác.

Triết gia Hy Lạp Sénèque thấy trong sự thương hại động lực chính của sự tha thứ: "Con hãy tha thứ cho người yếu hơn con vì thương hại y, và con hãy tha thứ cho người mạnh hơn con vì thương hại con."

Cơn cớ chi chúng ta thù hận, ghét bỏ nhau? Tính bài ngoại (xenophobia) --phái sinh từ tiếng Hy Lạp với nghĩa "người dưng, kẻ xa lạ" (stranger)-- này chỉ thuần tuý là sự tùy tiện, độc đoán (arbitrary)?

Hai thực nghiệm ở trường học chứng tỏ thật dễ dàng biết bao để một "nhóm" này quay sang chống "nhóm" kia.

Vào những năm cuối của thập niên 60 thế kỷ XX, giáo viên môn Lịch sử của một trường Trung học tại California, Hoa Kỳ là Ron Jones kêu gọi các em học sinh tham gia chương trình văn hoá ngoại khoá mới mang tên "Làn Sóng" ("the Wave").

Chỉ trong vòng vài tuần lễ, các em tự tách mình khỏi những học sinh khác và có những chỉ trích hăm doạ nhau cực kỳ hung bạo.

Kết quả, Jones phải đương đầu với thực tế là học sinh đã tham gia không hay biết gì trong một thực nghiệm nhằm mô tả quyền lực của các phong trào dân tộc.

Rồi một năm sau, giáo viên Jane Elliot ở Iowa lại khám phá ra cách thức làm thế nào thật nhanh chóng để có sự phân biệt đối xử nhóm.

Cô Elliot chia lớp học thành 2 nhóm- các em mắt xanh da trời và các em mắt nâu hoặc xanh lá cây.

Nhóm mắt nâu được nhận đặc quyền đặc lợi, trong khi nhóm mắt xanh da trời không có phần thưởng và bị cho là hạ cấp, kém cỏi.

Sự hoà điệu vốn có trước đấy mấy tiếng đồng hồ của lớp học giờ trở thành hai phe phái đầy ắp sự sợ hãi, nghi kỵ, bực tức lẫn nhau.

Điều đặc biệt gây sốc là các em học sinh mới chỉ đang ở lớp 3.

Mới đây,
nghiên cứu của Lasana Harris và Susan Fiske đã tiến hành chụp cắt lớp não của 10 sinh viên Đại học Princeton danh tiếng trong khi họ xem các hình người thuộc các nhóm xã hội khác nhau.

Như dự đoán từ trước, các bức hình tài năng thể thao, người già lão và doanh nhân đều làm khởi phát dồn dập một vùng não-- vỏ não giữa thùy trán trước (medial prefrontal cortex)-- được biết là có liên quan đến suy nghĩ về bản thân và người khác.

Ngược lại, với những bức hình người vô gia cư hoặc nghiện ngập ma tuý lại không thấy vùng não này hoạt động, thay vào đó, lại gây phản ứng mau lẹ ở những vùng não liên quan đến sự kinh tởm, chán ghét (disgust).

Các nhà nghiên cứu cho rằng, thành viên của một số nhóm xã hội dường như bị nhìn nhận là kém phẩm chất người (dehumanised), chí ít được biểu thị bởi hiện tượng vắng bóng các dấu hiệu thần kinh đặc trưng của sự nhận thức xã hội.

Nghiên cứu tiếp theo với 12 sinh viên khẳng định rằng, các bức hình người vô gia cư và nghiện ngập ma tuý cũng không kích hoạt vùng vỏ não giữa thùy trán trước-- trừ việc quan niệm về tiền bạc-- mà 12 đối tượng tham gia thực nghiệm cho là nguyên nhân khiến họ nghĩ đến những người giàu có.

Rất nhiều nghiên cứu chỉ ra lỗi lầm trong sự rập khuôn về nhóm (group stereotype) của con người-- như tin tưởng sai lạc rằng một người Arab là kẻ khủng bố.

Thật không may là những rập khuôn như thế được củng cố thường xuyên đến độ có thể trở thành thâm căn cố đế. Rất khó khăn để vượt thoát khỏi những tập quán quen thuộc nhằm đối xử với mọi người như những cá nhân, hơn là những thành viên của một nhóm.

Song, dường như bằng nỗ lực nhận ra tội lỗi ngầm ẩn nhờ việc học hỏi về lắm định kiến (prejudices) của bản thân có thể thúc đẩy người ta nỗ lực hơn để không làm kẻ thiên lệch (biased).

Đấy có thể là cách thức tốt nhất tránh phân chia thế giới làm hai-- và phân biệt đối xử (discriminate) chống lại phần kia của nhân loại:

Chúng ta là thế giới. Thế giới là bạn và tôi. Thế giới không tách biệt với bạn và tôi. Chúng ta tạo ra thế giới này- thế giới của bạo lực, thế giới của chiến tranh, thế giới của phân ly tôn giáo, giới tính, khắc khoải, hoàn toàn thiếu hiệp thông, chẳng có cảm giác từ bi, không cân nhắc tới người khác.

Ở bất cứ nơi nào ta đặt chân tới, tại bất kỳ xứ sở nào khắp thế giới, con người, nghĩa là bạn và tôi, đều đau khổ. Chúng ta khắc khoải, chúng ta không biết điều gì sắp xảy tới. Mọi sự trở nên vô định. Chúng ta, toàn thể loài người khắp thế giới, đều sống trong khổ não, sợ hãi, khắc khoải, bạo động, mọi sự không chắc chắn, không an toàn.

Giữa chúng ta có mối quan hệ chung. Một cách cốt tủy và nền tảng, chúng ta là thế giới. Nhận biết điều ấy một cách căn bản và sâu xa, chứ không phải một cách lãng mạn và tri thức mà là thực tế, chúng ta sẽ thấy rằng vấn đề của mỗi người là vấn đề toàn cầu. Nó không là vấn đề của riêng tôi hoặc vấn đề của riêng bạn, nhưng là vấn đề con người.


(
Krishnamurti. Krishnamurti- cuộc đời và tư tưởng; tập I: Krishnamurti tinh yếu, Nguyễn Ước biên dịch, Hà Nội: Nxb. Văn học, tr.421)

Bài đăng Mới hơn Bài đăng Cũ hơn Trang chủ