Hiển thị các bài đăng có nhãn Đồng tính luyến ái. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Đồng tính luyến ái. Hiển thị tất cả bài đăng

Rối loạn ăn uống có thể xảy đến do nhiều yếu tố; gần đây, một số nghiên cứu kết nối áp lực xã hội và rối loạn ăn uống, tìm hiểu cách thức làm thế nào sang chấn quá khứ lại tạo ra quan hệ không lành mạnh với thực phẩm những năm về sau.

Nhóm chuyên gia thuộc Đại học Syracuse tiến hành điều tra 209 sinh viên năm thứ nhất (18-19 tuổi) về sang chấn họ từng trải qua trong quá khứ.

Cuộc điều tra phản chiếu một bối cảnh rộng: ly dị, cái chết của người thân yêu, bị lạm dụng thể lý và lạm dụng tình dục; đồng thời, ngoài việc báo cáo sang chấn
, các đối tượng tham gia còn cho biết mức độ tồi tệ của trải nghiệm ảnh hưởng đến họ ra sao.

Sinh viên đối đầu với sang chấn thời thơ ấu thường biểu hiện các dấu hiệu của rối loạn ăn uống, và các nhà nghiên cứu đã định dạng được mối liên kết giữa các kiểu dạng sang chấn với nhiều triệu chứng khác nhau của rối loạn ăn uống.

Đối tượng nào từng trải qua sang chấn bạo lực thì hay bỏ bữa, ăn nhanh, háu ăn, và sử dụng quá mức các loại thuốc ăn kiêng hoặc thuốc nhuận tràng, cùng lúc việc lạm dụng thuốc nhuận tràng, ăn vô độ và nôn mửa có liên quan với chuyện ly dị và cái chết của người thân yêu.

Các sinh viên được theo dõi từ lúc bắt đầu cho đến khi kết thúc học kỳ. Những ai từng trải nghiệm sang chấn trong quá khứ thì hay biểu hiện rối loạn ăn uống ngay lúc bắt đầu học kỳ, và họ cũng thường có những thói quen ăn uống thiếu lành mạnh lúc kết thúc học kỳ.

Các kiểu rối loạn ăn uống xem ra bùng phát do căng thẳng tinh thần, và chúng thường nổi rõ ở thời điểm học phổ thông hoặc lúc bước vào đại học. Giai đoạn quá độ chuyển từ phổ thông sang đại học càng dễ làm tăng thêm nguy cơ hình thành các thói quen ăn uống thiếu lành mạnh với các đối tượng vốn có tiền sử sang chấn.

Các khía cạnh khác của tình huống hiện tại cũng tác động mạnh mẽ đối với sức khỏe tâm thần của người ta, như minh họa trong một nghiên cứu của Hệ thống chăm sóc sức khỏe thành phố VA Iowa.

Một số nghiên cứu trước đây về ảnh hưởng xã hội với hành vi ăn uống cho thấy, rối loạn ăn uống xem chừng 'lây lan' những người xung quanh.

Tác động này có vẻ xảy đến với các cô gái, đáng chú ý, rất có khả năng là do áp lực từ bạn cùng hội cùng thuyền hoặc vì họ thường xuyên ăn kiêng rồi thảo luận cách thức của việc giảm cân.

Để tìm hiểu sâu hơn ý tưởng này, các nhà nghiên cứu phân tích dữ liệu mang tầm quốc gia với hơn 15.000 học sinh phổ thông trung học.

Khi so sánh các cặp đôi học sinh sống khác tỉnh, thì các cặp đôi sống cùng địa phương biểu hiện gấp 4 đến 10 lần việc ăn kiêng, chối bỏ quyết liệt lượng thức ăn nạp vào, sử dụng viên thuốc ăn kiêng, hoặc dính tới các hành vi thiếu lành mạnh khác thuộc rối loạn ăn uống.

Các hành vi tương tự cũng được thể hiện ở nông thôn, thành thị, vùng ngoại ô phụ cận tỉnh lỵ; chỉ mỗi biểu hiện của hành vi dùng thuốc xổ tẩy ruột là không thấy lan tràn trong các nhóm bạn bè tụ tập cùng nhau: từ góc độ lý thuyết, việc uống thuốc tẩy ruột được xem là ít được chấp nhận và mang tính giấu giếm nhiều hơn so với các hành vi ăn uống khác; cho nên, nó hiếm khi được truyền từ cá nhân này sang cá nhân khác.


Rối loạn ăn uống có thể để lại vô số tác hại nghiêm trọng trong đời sống của trẻ vị thành niên và người mới lớn, thậm chí gây nên tử vong ở một số trường hợp.

Hiểu biết về các yếu tố nguy cơ là điều cốt yếu để xác định đối tượng cần trợ giúp. Cần cung cấp kiến thức, chương trình cho học sinh- sinh viên nhận ra các dấu hiệu của rối loạn ăn uống; thảo luận lựa chọn phương thức điều trị thích hợp cũng khuyến khích họ tìm kiếm sự trợ giúp với những vấn đề họ trải nghiệm.

Trường phổ thông và đại học tạo ra nhiều thách thức cần nỗ lực vượt qua, nhất là những ai từng phải đương đầu với các biểu hiện sang chấn và bệnh tâm thần, song với sự trợ giúp và điều trị, họ có thể cải thiện đời sống và sức khỏe của chính mình.

Định kết thúc bài viết ở đây, sực nhớ đang có dịp ăn uống truyền thống giết sâu bọ...




Ám ta là nó đấy; cái vị, đồ chất, loại thứ, nước nôi,... có lẽ chỉ vừa mới phảng phất thôi chứ chưa cần tập hợp đủ đầy thành phần lệ bộ đã xộc thẳng ngay, lục tung, kích hoạt mọi chốn khắp châu thân ngỡ chừng che chắn quá cỡ kín kẽ để dồn về hiển hiện một mối rờ rỡ.

Mới đây, một cậu bé mắc tự kỷ 15 tuổi thử tiếp xúc với tôi bằng cách áp sát và ngửi mùi áo quần của tôi (xem chừng, tôi đã được cậu bé chấp nhận làm bạn!).

Lý giải tại sao chúng ta trưởng thành cùng với sự gắn bó với các mùi (hay cơn cớ nào người ta dần ngửi quen mùi hôi thối dọc dòng sông Tô Lịch của Thủ đô Hà Nội), Rachel Herz- tác giả cuốn sách The Scent of Desire- cho rằng, khi chúng ta trải nghiệm sự thích ứng khứu giác nghĩa là thụ cảm thể (receptor) dừng việc đáp ứng với một hóa chất trong không khí sau khoảng 20 phút; rằng, chúng ta thích ứng trước mọi cảm giác riêng biệt đó, song khi việc làm quen khởi đầu rồi kết thúc, sự chú ý của ta tập trung vào nó khiến ta dễ bị kích thích, gắt gỏng.

Bằng chứng phức hợp trong bản chất cảm nhận về mùi là bộ não có hai mạng lưới khác nhau liên quan đến việc ngửi:
hệ thống trực chỉ tới mũi (orthonasal) giải quyết việc 'đánh hơi' mùi vị, và hệ thống quay lại về mũi (retronasal) đảm trách cảm nhận mùi vị khi chúng ta thở ra.

Hai nghiên cứu khác vén dần sự tương tác phức hợp giữa các pheromones, xu hướng tình dục và sự quyến rũ- khẳng định cảm nhận mùi vị của chúng ta xem chừng đóng vai trò quan trọng cho việc kích thích, khêu gợi tình dục: mùi con người, mùi tình yêu.

Nhà tâm lý học Charles Wysocki phát hiện những người đồng tính luyến ái nam thích mùi cùng đối tượng và phụ nữ quyến rũ khác phái, trong khi đó, mùi của người đồng tính nam lại tỏ ra kém hấp dẫn với phụ nữ và cánh đực rựa-- hoạt động não của
đàn ông chỉ phơi nhiễm với estrogen.

Cơ sở sinh học của khám phá trên được chứng thực bởi kết quả chụp cắt não bộ.

Các cơ sở kinh doanh đã biết sử dụng "marketing mùi" để nâng cao doanh số bán hàng, bởi mùi có ấn tượng sâu đậm đối với trí nhớ xúc cảm; các khách sạn cũng nhanh nhạy nắm bắt cơ hội chơi trò này.

Dẫn lời Linda Buck -- đọat giải Nobel Y học 2004 (cùng Richard Axel)
"diễn ra một sự thay đổi nhẹ nhàng trong cơ chế hóa học của mùi cam và ta nhận được một cái gì như mùi đôi tất ướt."

Bài báo còn giới thiệu nghiên cứu việc ngửi bằng cách nào giúp cho những người béo phì ăn ít đi, dựa trên ý tưởng sự thừa mứa (satiety) khiến giảm cảm giác đủ đầy và hỗ trợ cho cảm nhận của chúng ta về mùi vị thoả mãn. Bộ não bị hỏng hóc sẽ để lại hậu quả xấu cho cảm nhận về mùi.

Nghiên cứu cho thấy mùi hoa quả bưởi (grapefruit) có thể khiến đàn ông đánh giá phụ nữ trẻ hơn 6 năm so với tuổi thực.

Kiểu dùng lá gội đầu dân dã mà khôn ngoan rất thật ấy giờ chợt hóa xa xưa, sao cứ gợi lên cho ai kia nỗi niềm miên man.

Nói thêm, theo cái nhìn của Tâm lý học Tiến hóa, thông minh thì cực kỳ gợi cảm; sự tử tế và lòng thấu cảm là một trong các phẩm chất chính yếu chúng ta tìm kiếm ở bạn tình tiềm năng cũng như tự mình thổ lộ nhằm đạt tới ham muốn tình dục của đối tượng.



Bà mẹ trẻ cuống lên khi cậu con trai 8 tuổi của mình được một trung tâm chăm sóc và dạy dỗ trẻ tự kỷ tại Hà Nội đánh giá là đối tượng thuộc diện 'lọt khung'.

Nếu cơ sở vừa nêu "tuyên án" chắc nịch sau cuộc gặp gỡ ngắn với trẻ, thì ở một khoa phòng của bệnh viện nổi tiếng khác lại đưa ra phán quyết phủ định- chỉ nhờ tiến hành trắc nghiệm IQ.

Thực trạng nhập nhằng, trái khoáy, đáng quan ngại như trên cho thấy việc hiểu biết thật chính xác chẩn đoán về tự kỷ không hề dễ dàng, chẳng những cực kỳ quan yếu mà còn phải thận trọng; đòi hỏi cả trình độ chuyên môn lẫn đạo đức nghề nghiệp.

Nhìn chung, phổ tự kỷ (autistic spectrum) là tập hợp các triệu chứng, chứ không đơn giản một vấn đề do nguyên nhân duy nhất; thực chất, các rối loạn này bao gồm tự kỷ, cũng như hội chứng AspergerPDD-NOS.

Thực tế, sự tiến bộ trong nghiên cứu một mặt góp phần nâng cao hiệu quả chăm chữa cụ thể, mặt khác trở thành thách thức to lớn đối với việc định danh đúng đắn căn bệnh này, thậm chí, có khả năng thúc đẩy nhu cầu hết sức mạnh mẽ mang tính cách mạng nhằm xem xét lại hiểu biết của chúng ta về tự kỷ-- từ góc độ nhân văn và khoa học.

@ Chẳng hạn, giới chuyên môn khẳng định rằng trẻ mắc tự kỷ dường như 'miễn nhiễm' với việc lây truyền cơn ngáp- có lẽ đây là hậu quả của tiến trình thiếu hụt nhận thức xã hội của trẻ.

Một trong ba khía cạnh cơ bản của hội chứng tự kỷ là sự khó khăn trong tương tác xã hội; hai vấn nạn kia bao gồm các kiểu loại khác nhau của lối suy nghĩ khó hiểu, và hàng dãy biểu hiện kiềm chế hoặc lặp đi lặp lại liên quan đến hành vi.

Không dễ đưa ra câu trả lời giải thích tại sao hiện tượng lây ngáp lại bị giảm thiểu ở đối tượng mắc tự kỷ dù thông thường, các khó khăn gặp phải xét dưới góc độ xã hội của đối tượng tự kỷ vẫn được cho là vấn đề thuộc "lý thuyết tâm trí"-- khả năng hiểu các ước muốn, dự tính và niềm tin của người khác.

@ Nghiên cứu phát hiện thấy: kỹ thuật trị liệu thần kinh (NFB: neurofeedback/ EEG biofeedback
) giúp ích cho các đối tượng có những rối loạn tự kỷ.

Cụ thể hơn, nghiên cứu chỉ ra rằng, kỹ thuật chụp quét não đã được thần kinh học chứng thực-- có thay đổi cho phù hợp trong bộ video game tương tác-- xem chừng hỗ trợ đắc lực việc luyện tập bộ não của trẻ mắc tự kỷ, cốt làm dịu đi rối loạn nặng nề nhất của các chứng hành vi máy giật.

Sự kiện này càng làm tăng thêm hy vọng về khả năng ngăn ngừa từ khía cạnh hành vi và tâm-sinh lý để điều chỉnh mức độ ác liệt của hội chứng phổ tự kỷ.

Việc chụp điện não đồ (EEG: electroencephalogrophy) vốn dùng lâu nay để chẩn đoán và phân tích thực tế các kiểu dạng rối nhiễu thần kinh gây nên chứng bệnh Động kinh, Alzheimer, Tâm thần phân liệt, tổn thương não, v.v....

Vì nguồn gốc vấn đề dính dáng tới sự nối kết thần kinh ẩn bên dưới các trường hợp tự kỷ, nên chuyện chụp EEG trở nên thông dụng và là công cụ chính đối với bệnh nhân.


Cách tiếp cận theo hướng NFB cơ bản cho phép bệnh nhân 'huấn luyện' não bộ mình thông qua việc họ tuân theo chỉ dẫn của công cụ máy tính tựa như video game.

Thành công vang dội trong việc điều trị rối loạn stress sau sang chấn (PTSD) và tăng động- giảm chú ý (ADHD), luyện tập tâm trí nhằm giúp bệnh nhân tránh rơi vào hố vực sâu thẳm của cơn sợ hãi, giờ đây, cách tiếp cận theo hướng NFB còn được thử nghiệm áp dụng điều trị hội chứng tự kỷ và thực tế đã chứng tỏ kết quả khả quan.

@
Tuy không dự tính hành động đập phá, song các biểu hiện nhu cầu và cảm xúc của trẻ mắc tự kỷ dưới dạng căng thẳng, hụt hẫng và tức giận lại gây khó khăn cho chính chúng cũng như người chăm sóc.

Cứ 150 trẻ thì có một em mắc rối loạn phổ tự kỷ. Thử xem cuộc đối đầu với hội chứng tai ác này.

@ Sử dụng video và các diễn đàn trực tuyến, người phụ nữ mắc tự kỷ 27 tuổi Amanda Baggs đã buộc các nhà khoa học phải xem xét lại những gì họ nghĩ mình đã biết.

Nêu ra quyền lợi của người mắc tự kỷ trong phong trào online, Amanda Baggs thách thức cách chúng ta hiểu biết và lượng giá những ai trải nghiệm thế giới hoàn toàn khác biệt.

Dẫu không hề nói năng gì được, song cô đã tự mình 'diễn dịch' sự tương tác với môi trường thông qua các dạng ngôn ngữ và tri giác thần kinh đặc thù. Cô cũng đẩy lên mạng các giấy tờ y khoa có liên quan.

Quan điểm nhìn nhận tự kỷ như một biến thể (variation) chứ không phải là rối loạn (disorder) này đã được nhiều nhà nghiên cứu theo trường phái Thần kinh học Nhân văn ủng hộ, và bài báo về cô Amanda trên tờ Wired thêm bằng chứng cho thấy các nghiên cứu của chuyên ngành Tâm lý học Thần kinh đang tiếp tục xác định lại khung tham chiếu thỏa mãn điều kiện tự kỷ.

Ý nghĩ cho tự kỷ là một trạng thái bệnh lý cần bị trừ tiệt hẳn, họ nói. Không phải là não của người mắc tự kỷ khiếm khuyết mà đơn giản là não của họ khác biệt-- một minh họa cho sự phát triển phong phú của con người.

Các nhà nghiên cứu này khẳng định rằng, chính việc chú tâm vào việc chữa trị chứng tự kỷ-- mô hình bệnh tật-- đã khiến giới khoa học quên đặt các câu hỏi căn bản về chức năng bộ não người tự kỷ.

Bài báo ghi nhận thành tựu đáng khích lệ của nhóm nghiên cứu đứng đầu là bà Michelle Dawson:

... Điều mà các nhà nghiên cứu tìm thấy là: trong khi các đối tượng không mắc tự kỷ có cùng điểm số-- trên mức trung bình một chút-- ở cả hai trắc nghiệm [test Thang đo Trí tuệ Wechsler (WIS) và test Ma trận Lũy tiến Raven (RPM)] thì nhóm đối tượng mắc tự kỷ có điểm số tốt hơn ở test Raven.

Hai cá nhân có điểm số thoát khỏi ranh giới chậm phát triển tâm thần đạt đến thứ hạng bách phân 94. Đáng lưu ý hơn, số liệu chi tiết còn tỏ lộ điểm số của trẻ mắc tự kỷ ở test Raven xê dịch quanh điểm bách phân C30 nhiều hơn- so với điểm số thực hiện test chủ yếu dựa vào ngôn ngữ là Wechsler; tuy không kéo tất cả lên song đã khiến đôi người trong nhóm thoát khỏi ranh giới chậm phát triển tâm thần.
Tôi muốn kết thúc bài điểm tin này bằng ý kiến của nhà tâm thần học Laurent Mottron rằng, một ngày nào đó, chúng ta sẽ ngoái nhìn các ý tưởng hôm nay về tự kỷ với cảm giác hổ thẹn như những gì chúng ta từng cảm thấy khi nói về quan điểm của tâm lý học những năm trước cột mốc 1974- DSM-IV đã coi đồng tính luyến ái là một căn bệnh tâm thần.

Đàn bà to mồm

Rồi ra sẽ có một ngày, mọi người chỉ là chính họ thôi-- bất kể đối tượng mà họ yêu thương... Và nhu cầu tìm hiểu "hồ sơ đồng tính luyến ái nữ" xem chừng dễ dàng trở thành lịch sử. Chuyện như thế thật tốt biết bao!

(ảnh)

1. Hôm nay, xem bộ không phải "một ngày như mọi ngày" theo
bài hát quen thuộc; thiên hạ bốn phương tám hướng đang lao xao, sốt cưới bởi ngày may mắn.

Nghiên cứu
mới đây phát hiện Trái Đất nhỏ hơn so với tưởng nghĩ bấy lâu; đồng thời, chương trình hòa nhạc được truyền trực tiếp như hành động thiết thực, tiếp tục bảo vệ hành tinh xanh trước cuộc khủng hoảng khí hậu toàn cầu.

Chuyện nọ xọ chuyện kia; các con số 7 đi với nhau gợi nhớ nỗi
ám sợ triskaidekaphobia về con số 13 vào ngày thứ Sáu.

Theo Vyse (1997), nỗi ám sợ này xếp vị trí 3 trong danh sách mê tín của dân Mỹ (9%), chỉ chịu đứng sau hiện tượng con mèo đen băng ngang qua (14%) và đi bộ chui dưới cái thang (12%); Scanlon và cs. (1993) thấy vào ngày thứ Sáu 13, lượng người lái xe giảm bớt và xảy ra nhiều tai nạn- dù ít phương tiện giao thông hơn [dẫu thế, người ta vẫn không nản lòng shopping]; Nayha (2002) thì cho rằng, thứ Sáu ngày 13 không có gì nguy hiểm cho cánh đàn ông so với các thứ Sáu khác, song phụ nữ lại gặp nguy cơ tử vong cao vì tai nạn giao thông [lên đến 63%]; tin cuối may mắn thay, Radun & Summala (2005) đã không tìm thấy tác động như trên, và họ khẳng định các kết quả của Nayha chỉ thực sự là thống kê dị thường và ngoại lệ (anomaly).

2.
Nhật ký Vàng Anh gây dư luận khen chê xôm tụ.

Tôi không theo dõi, vừa
mới xem một tập duy nhất nên cảm nhận chung là đèm đẹp, quen quen và... thường thôi.

Dù không phải là fan của thi sĩ Dương Tường "đứng về phe nước mắt", song tôi thiển nghĩ, chuyện đáng ầm ĩ phải tập trung vào nguồn cơn bao quát, trực tiếp tác động mạnh mẽ đến cộng đồng xã hội hơn: lối ứng xử giữa cha mẹ và con cái, áp lực ghê gớm đè lên lứa tuổi teen.


Thực lòng, đúng như bài báo tuyệt hay này đã chỉ ra, tôi tin tưởng sâu xa là lứa tuổi teen sôi động nhiều màu lắm vẻ, đầy ấn tượng và phá cách có thừa trình độ và năng lực- vượt hẳn điều chúng ta vẫn giả định, rằng hầu hết mọi sự rắc rối cơ bản khởi từ việc người lớn hạn chế, tạo vô số ngăn cấm quá đáng, thiếu hiểu biết và cảm thông đối với họ.

Cứ lêu bêu
đọc, liên tưởngso sánh; quả là, dễ tán đồng "về tự khen, chúng ta đứng đầu thế giới"(!)

3.
Thuốc giúp người ta quên(?)

Thực sự
Tin nhanh Việt Nam đưa tin đáng tin cậy?

Vâng, đúng là theo cả hai tờ
Live ScienceTelegraph- thậm chí BBC nữa- thì các nhà nghiên cứu đã tìm thấy thứ thuốc ấy trong Propranolol (Inderal), thường được chỉ định làm viên chẹn beta (khá cũ).

Tiếc thay, điều đấy không chính xác! Ba website trên đã tuyên bố những điều phát hiện mà kỳ thực các nhà nghiên cứu không hề tìm thấy.

Nguồn chứng tỏ, nghiên cứu không hề tìm ra một loại thuốc "trục xuất các ký ức tồi tệ", cũng không phát hiện thấy bất cứ thứ gì có thể "xóa bỏ một số trí nhớ riêng tư, chuyên biệt trong khi để lại nguyên vẹn các ký ức khác"; đồng thời, nó chẳng đo lường gì liên quan đến trí nhớ cả...

Sự thật luôn cần được trả giá xứng đáng. Tôi lo ngại bởi cách giật "tít" và đưa tin thiếu chính xác nhằm bán được báo, thu hút nhiều người truy cập; thử tưởng tượng, vẻ hấp dẫn của loại "thuốc lãng quên" không hề tồn tại ấy thừa sức lôi cuốn và in đậm trong trí não của quảng đại quần chúng như thế nào...

4. Liên kết
lần đầu mua bao cao su (cách sử dụng) từ trang chủ thế hệ 8X có đăng ý kiến chững chạc:

Tui thấy chuyện đó cũng bình thường thôi . Người Việt Nam sợ nhất là đỗ xe xịch trước cửa nhà thuốc, hất hàm, chị cho em mua cái bao cao su. Người Việt Nam có thể ngang nhiên mua thuốc lá, nhưng sợ hãi xấu hổ khi mua bao cao su. Đáng lẽ phải ngược lại, nên xấu hổ khi mua thuốc lá, một thứ thuốc độc với cơ thể con người. Còn bao cao su, đó là nhu yếu phẩm của đời sống một người trưởng thành.

Dù nhận thức của bạn hoàn toàn nghiêm túc và đứng đắn, dù bạn có học, bạn hiểu biết, dù bạn có trách nhiệm, bạn đủ tuổi công dân, dù bạn muốn yêu người bạn yêu chứ không phải định dùng bao cao su để làm chuyện đó với gái điếm, bạn sẽ vẫn phải buông cờ trắng đầu hàng trước các cô bán thuốc đứng chắn giữa bạn và tấm lưới lọc tình yêu kia.

Và còn một khía cạnh tế nhị khác, bạn chưa dùng thử bao giờ, bản thân bạn không thật tự tin trước cái gói nhỏ nặng 5 gram nhỏ như viên kẹo cao su nhưng nặng nề như cả một thành kiến kia. Và bạn rất sợ vào giây phút căng thẳng đó, trước mặt cô bạn gái, bạn để lộ ra động tác vụng về lúng túng. Cho nên hầu hết nhiều người đã không hề sử dụng bao cao su trong lần đầu tiên quan hệ tình dục.
Thế còn có bao nhiêu cách để đánh vần từ "vi@gra"? Ở đây không bàn về viên thuốc ấy mà nói về bệnh dịch spam rác trên mạng lưới điểm toàn cầu và phương thức chữa trị nó.

5.
Suy tư thêm về hạnh phúc; dĩ nhiên, hãy hiện thực hóa ý tưởng, chứ đừng chỉ nói về việc thực hiện nó.

Hiện tại, tôi thích quan niệm của
Mahatma Gandhi, rằng hạnh phúc là sự hài hòa giữa những gì bạn nghĩ, nói và làm.

Kiến thức chí ít có thể khiến bạn sống thật là mình hơn, hay giúp bạn hiểu biết thêm lý do mình định kiến với những người có định hướng giới tính không giống số đông, lắng nghe những chia sẻ chân tình.

6.
Nam và nữ, ai nói nhiều hơn ai?

Trái với suy tư dân dã,
lượng từ của hai giới tương tự nhau: khoảng chừng 16.000 từ mỗi ngày; dĩ nhiên, đó là tin rích, bởi từ năm ngoái Mark Liberman đã nhận thấy tính trung bình, đàn ông hàng ngày nói nhiều hơn phụ nữ.

Ai từng xem film
The Holiday chắc là khó quên lời thoại của nhân vật chính Amanda rằng cuối cùng, mình đã tìm ra người (Graham) nói nhiều hơn cô ấy.

7. Tờ
Psychology Todaybài về bản chất người.

Theo đó, suy tư, cảm xúc và hành vi của chúng ta hình thành nên không chỉ bởi các trải nghiệm cá nhân và môi trường ta sống trong đời mà còn từ những gì xảy đến với tổ tiên chúng ta hàng triệu năm trước; hơn thế nữa, chúng còn được chia sẻ với một tầm mức rộng lớn- ở cả hai giới- bất chấp sự khác biệt về văn hóa.

Nhấn mạnh tác động của các yếu tố sinh học đến hành vi người, bài báo trích dẫn 10 sự thật dựa trên chứng cứ khoa học xác thực.

Tôi đặc biệt hứng thú với một số lập luận như về bản chất, con người thuộc loài đa thê; rằng, đa phần phụ nữ hưởng lợi từ chế độ này, trong khi đàn ông lại từ chế độ một vợ một chồng; rằng, đàn ông quấy rối tình dục phụ nữ bởi vì họ không phải là những kẻ định kiến, kỳ thị giới tính,... (Nhân tiện, tôi sực nhớ ẩn dụ vui về sự sướng khoái của chiếc tăm bông và cái lỗ tai).

Đã đến hồi kết thúc, tất cả liên kết chỉ có vậy; cuối tuần vui vẻ!

Lại một lần nữa, có vẻ tờ tin nhanh điện tử VnExpress tiếp tục vô tư đến độ không hề biết mình đang bóp méo kết quả nghiên cứu- ngay từ cách giật tít bài:

Người ăn rau thông minh hơn người ăn thịt (?)
Mới thoáng đọc dòng này, tôi đã cảm thấy không ổn.

Bởi theo tôi hiểu, "thông minh" là một vấn đề cực kỳ nhạy cảm, rất dễ bị lợi dụng cho những mục đích ích kỷ phi nhân bản, hàm ý định kiến và phân biệt đối xử.

Do đó, tôi nghĩ, một xác quyết thẳng thắn như thế-- dù tác giả công trình khẳng định mình tiến hành bài bản và tuân thủ nghiêm ngặt các tiêu chí khoa học-- chắc chắn không khỏi gây tranh cãi, thậm chí có thể lập tức khiến người ta buồn cười vì sự ngây ngô và phi lý của nó.

(Wow, bạn không thể bịt mồm bịt miệng thiên hạ, họ có quyền bình phẩm và cũng có quyền công bố phát kiến như
chuyện đức chúa Jesus nói được tiếng Việt.)

...Cuộc nghiên cứu trên hàng nghìn người tại Anh cho thấy những ai ăn chay thường có chỉ số IQ cao hơn 5 điểm so với người ăn thịt. Các chuyên gia cho rằng có thể chế độ ăn nhiều trái cây và rau quả thúc đẩy năng lực trí não.

Lạ quá đi mất. Dường như câu thứ hai hơi võ đoán, thiếu thuyết phục; còn ý đầu, nêu luận điểm bằng con số cụ thể, song vẫn không tin nổi.

Lý do phản bác: đợi đã, ý bạn có phải là, những gì người thông minh chọn lựa có ảnh hưởng lên những người khác?

Hơn nữa, thử tưởng tượng kết quả ra sao, nếu có một nghiên cứu tiến hành trong cộng đồng với nền văn hoá mà người dân đa phần ăn chay (vegetarians), ví dụ Ấn Độ giáo (
Brahmins)?

...Người ăn rau cũng dễ kiếm được các bằng cấp và nắm giữ chức vụ cao.

Quá bất ngờ; mọi người còn chờ gì nữa mà không chóng chuyển sang chế độ dinh dưỡng mới để thêm động lực mạnh mẽ vươn tới ước mơ cháy bỏng!

Xin nói ngay, bản thân tôi từng ăn chay trường 2 năm liền. Và dù hiện nay tôi không có điều kiện thường xuyên lưu giữ thói quen ấy (một phần vì lý do tài chính và đi lại, không thể tự nấu lấy được) song thực lòng, tôi mong mỏi người quen hạn chế dùng thịt cá, tăng cường rau củ quả và sản phẩm chế biến từ thực vật.

Mặc dù vậy, quan điểm riêng và ý thích cá nhân không buộc tôi phải vội vàng tán đồng,
a dua phát tán rộng thêm nữa thông tin sai lạc.

Vâng, hoàn toàn không chút xíu lăn tăn chi cả, bản tin của VnExpress đã bóp méo rõ ràng kết quả nghiên cứu của các nhà Dịch tễ trường đại học Southhampton, Anh quốc!

Mời bạn đọc kiểm chứng với bản tin của
Reuters Smart children "more likely to become vegetarians" (Trẻ thông minh dễ có xu hướng trở thành người ăn chay), và nếu cần, xem thêm nguồn Reuters dựa vào.

Nhân tiện, liên quan đến đề tài "chay-mặn", cũng vừa mới có người báo động rằng, đừng ăn quá nhiều tàu hũ (tofu) và các các sản phẩm chế biến từ đậu nành (soy), bởi vì chúng ta sẽ có nguy cơ đồng tính (gay) đấy!

Đọc cẩn thận bài viết, bạn sẽ không khỏi giật mình về những giả định ngầm ẩn sau mỗi phán đoán, lập luận.

Tác giả
Jim Rutz chứng tỏ rất quan tâm đến các lý giải khoa học về hiện tượng đồng tính luyến ái (homosexuality); tuy nhiên, người đọc băn khoăn ông ấy đã thực sự phân tích đúng đắn các dữ kiện nghiên cứu cũng như xây dựng một lý thuyết khoa học có giá trị?

Đậu nành (soy) có chứa chất
isoflavones, làm trở ngại cho quá trình hoạt động của estrogen; dẫu thế đi nữa, liệu đã có bằng chứng chắc chắn rằng, isoflavones gây nên hiện tượng đồng tính, hoặc giảm thiểu kích cỡ dương vật, hoặc một số điều khác như ông Rutz khuyến cáo?

Rốt ráo ra, trong khi đợi mọi chuyện ngã ngũ, thì gợi ý đáng giá lúc này là: muốn thông minh hơn, hãy đọc bản tin của VnExpress!

Chuyện vô danh hữu tính, nick này tên nọ, phải che giấu thân phận để an toàn hoặc sống trong bóng tối do định kiến xã hội,... không chỉ tìm thấy trên các forum, blog đời thường mà nó còn diễn ra cả trong lĩnh vực nghiên cứu và ứng dụng khoa học như giới chuyên gia sức khoẻ tâm thần.

Gần đây, tôi mới được biết đến trường hợp của Bác sĩ ẩn danh H. (Dr. H. Anonymous), người đã phải ngụy trang khi xuất hiện tại Hội nghị năm 1972 của Hiệp hội Tâm thần học Hoa Kỳ (APA) để tuyên bố mình là bác sĩ tâm thần học đồng tính.

Tên thật của ông: John E. Fryer-- người mà cáo phó được đăng trên các tạp chí y khoa danh tiếng hàng đầu thế giới khi ông mất vào năm 2003.

Cần lưu ý rằng, mặc dù các tiêu chuẩn chẩn đoán trong tâm thần học, tâm bệnh học có đảm bảo tính ứng nghiệm (reliability) và độ hiệu lực (validity) cao đến đâu chăng nữa, bản thân chúng cũng mang một số tiêu cực, khiếm khuyết.

Có lẽ, điều quan yếu nhất là tiến trình chẩn đoán hàm ý cá nhân có một trạng thái y khoa 'bất thường' ('abnormal' medical condition). Các tiêu chuẩn chẩn đoán 'y khoa hoá' ('medicalize') cá nhân và đặt để người ta trong thẩm quyền xem xét của giới chuyên gia sức khoẻ tâm thần-- đôi khi hoàn toàn không thích hợp chút nào.

Vì thế, cho đến năm 1973, đồng tính luyến ái (homosexuality) vẫn còn thuộc danh sách rối loạn tình dục của DSM-- những nỗ lực hợp pháp hoá việc điều trị và chính thống chống lại người đồng tính (homosexuals). [Paul Bennett. (2003).
Abnormal and clinical psychology--An introductory textbook. USA: Open University Press, tr.13.]

Hiện một trang
Wikipedia về John E. Fryer đang tiếp tục xây dựng.

Nhân tiện, xin giới thiệu thư của Sigmund Freud (1856-1939)-- ông tổ của trường phái trị liệu Phân tâm học (Psychoanalysis) nổi tiếng--
gửi mẹ một người đồng tính luyến ái (1935), qua bản Việt ngữ của Trịnh Hữu Tuệ (talawas.de, 16.6.2002).

Bà X. thân mến,

Đọc thư bà, tôi hiểu rằng con trai bà là một người đồng tính luyến ái. Ấn tượng mạnh nhất của tôi là khi kể về cậu ta, bà không hề dùng đến từ đồng tính luyến ái. Cho phép tôi hỏi vì sao bà phải tránh nó. Đồng tính luyến ái tất nhiên không là điều lợi, nhưng cũng không khiến ta phải hổ thẹn. Nó không phải là tật hay nhục, cũng không thể coi là bệnh; nó được coi là một biến thể của chức năng tình dục, nảy sinh do một bước nhất định của quá trình phát triển tình dục bị trì hoãn. Nhiều tên tuổi vĩ đại từ xưa tới nay cũng thuộc giới đồng tính luyến ái (Plato, Michelangelo, Leonardo da Vinci, v.v...) Buộc tội người đồng tính luyến ái là bất công, và cũng là tàn nhẫn. Nếu bà không tin tôi, xin bà hãy đọc sách của Havelock Ellis.

Tôi nghĩ, khi hỏi tôi có giúp được gì không, ý bà là liệu tôi có trừ bỏ được đồng tính luyến ái, thay thế nó bằng tình dục bình thường được không. Câu trả lời là, nói chung, chúng tôi không thể hứa là sẽ làm được. Trong một vài trường hợp nhất định, chúng tôi thành công trong việc phát triển cái mầm mống tình dục khác giới bị cằn cỗi quá sớm trong những người đồng tính luyến ái, nhưng trong đa số trường hợp thì việc này không thể làm được. Điều này tuỳ thuộc vào tuổi và tư chất của từng cá nhân. Ta không thể tiên đoán kết quả điều trị được.

Phân tâm học có thể giúp con trai bà trong một chiều hướng khác. Nếu cậu ta buồn bực, thần kinh bất ổn, bị mâu thuẫn giằng xé, bj kiềm chế trong đời sống xã hội, phân tâm học có thể mang lại sự điều hoà, tâm trạng thanh thản, công suất làm việc tối đa, không cần biết cậu ta có thay đổi xu hướng tình dục hay không. Nếu bà quyết định cho tôi điều trị cậu ấy (tôi không nghĩ vậy!), cậu ấy sẽ phải đến Vienna.

Tôi không có ý định rời khỏi đây. Dù sao, bà cũng đừng quên cho tôi một câu trả lời.

Chúc bà mọi sự tốt lành,

Freud

P.S: Nét chữ viết tay của bà không gây khó khăn gì cho tôi. Hy vọng nét chữ và tiếng Anh của tôi sẽ không gây khó khăn hơn cho bà.

Cuối cùng, thêm một tin tốt lành mới nhất cho những người đồng tính.

Đây là lần đầu tiên blog Cái Tôi post trực tiếp về vấn đề đồng tính luyến ái (homosexuality.)

Nguyên cớ gần nhất là do được đọc
tâm sự của những người trong cuộc.

Đồng tính luyến ái là một thực tế lịch sử của nhân loại chúng ta tồn tại ở các nền văn hoá khác nhau.

Trước đây, từng có nhiều người
chia sẻ chân thành, bàn luận nhiệt tình, không ít nghiên cứu khoa học gắng lý giải nguồn cơn hiện tượng; song dường như cho đến tận bây giờ, đồng tính luyến ái vẫn còn là vấn đề úp úp mở mở, nửa công khai nửa giấu diếm tại Việt Nam.

Có vẻ, câu chuyện dẫn trên tiếp tục phản ánh (chính xác) thế giới người đồng tính, góp phần bộc lộ phần nào cái nhìn, thái độ và niềm tin của dư luận, độc giả đối với những biến chuyển xã hội đang diễn ra.

Vậy, thực sự chúng ta thấy cái chi và cảm nhận điều gì qua một loạt bộc bạch của người đồng tính-- dọc theo cách trình bày của phỏng vấn viên?

Rằng, ở đây hiển hiện một sự cự tuyệt; đồng tính luyến ái đúng là điển hình cho tâm thế cảm thấy bị cự tuyệt bởi ý tưởng về người bạn tình cùng giới?

Rằng, bởi vì hình thức hoạt động tình dục này không đòi hỏi nỗ lực trở thành bố mẹ nên nó xúc tiến thêm sự phức tạp và những mối quan hệ ngắn hạn?

Rằng, trên nhiều bình diện xã hội, đây là lý do quan ngại quấy rối khung cấu thành lâu nay "gia đình là tế bào của xã hội"?

Rằng, việc ly dị và gia đình đơn thân có thể được viết cùng kịch bản như câu chuyện đồng tính luyến ái?

Rằng, phải chăng phát hiện nguồn gốc sinh học của đồng tính luyến ái ẩn chứa nhiều nguy cơ tiềm ẩn; và có cần thiết tìm hiểu, nghiên cứu đồng tính luyến ái khi mà những tác động chính trị và y khoa của nó là khó lường?

Và rằng, những hàm ý đồng tính luyến ái dần phổ biến như một lựa chọn tình dục có khả năng sống được, sẽ đe doạ số đông nhân quần chúng ta?

Tàng tàng thức đêm xem các cặp đôi trong bộ film hài ái tình lãng đãng Anh quốc Imagine Me and You (2005, được giới sang băng đĩa Hà thành chuyển ngữ: Một nửa thực sự) xàng xê duyên nợ trên nền bài hát mang mang điệu twist Happy Together/ Vui buồn bên nhau:

Me and you and you and me
No matter how they toss the dice, it has to be
The only one for me is you, and you for me
So happy together

(Em và anh rồi anh và em
Bất kể trò chơi tung thảy súc sắc trêu ngươi
Rốt cùng số phận vẫn đặt bày đôi ta mắc lưới
Vì em luôn luôn chỉ thuộc về anh và anh là của riêng em thôi
Vui buồn bên nhau trọn đời.)
Nhân vật “anh” và “em” trong bộ film này, có thể là đôi vợ chồng già- bố mẹ của cô dâu chú rể, cũng có thể là cặp đồng tính hoặc cái gì đó đại khái thế giữa một người vừa làm vợ Rachel (Piper Perabo) và cô gái phục vụ hoa trong lễ cưới Luce (Lena Heady).

Tình tiết buông lơi nhẹ nhàng, xen đôi chút humor cà tửng truyền thống Anglais xứ sương mù quen thuộc Bốn đám cưới một đám ma, Đồi Noting,...) chuyện yêu đương của Imagine Me and You có vẻ cố minh họa cho lý thuyết tiếng sét ái tình, phải lòng nhau ngay từ cái nhìn đầu tiên.

Với diễn tiến đời sống ái ân ngoài dự tính và kết cục khó ngờ, dường như Thượng Đế thừa độ lượng và công bằng khi giúp tân lang đẹp trai, lịch lãm làm ở ngân hàng Heck (Matthew Goode) nhận ra hậu quả nặng nề của một lối sống giả dối, gượng ép, sợ hãi mất mát-- cả nơi làm việc và gia đình vợ chồng son rỗi.

Buộc ràng bền vững thực sự đến từ cách ứng xử chân thành, thái độ tôn trọng sinh mệnh mỗi người, khả năng lắng nghe tiếng nói nội tâm, quyết tâm giữ gìn cái nhìn tươi sáng và độ nhạy cảm, thông minh, dũng cảm để giã từ đúng lúc hay kịp thời đón nhận việc sống cùng với một nửa thực sự của mình.

Lối triết lý đời thường của đạo diễn Ol Parker dễ được người xem chấp nhận bởi một kịch bản khá lỏng lẻo vừa đủ để các nhân vật già trẻ, lớn bé biểu hiện sinh động mà chặt chẽ logic quyền lực khó chống cự nổi của yêu thương.

Sự đời lắm khi thật tréo ngoe, phức tạp nên tôi không thể nhịn cười khi nghe những lời chia sẻ tâm tình, khuyên nhủ như bà cụ non của cô nhóc 8 tuổi hồn nhiên trong film.

Imagine Me and You đáng xem vì biết đâu đấy, bạn sẽ chợt phát hiện ra rằng đời không như ta mộng mơ, song có thể là bài thơ da diết níu kéo mình thêm yêu thương và bao dung hơn với những gì đang hiện hữu.

Chí ít thì Imagine Me and You có thể giúp bạn phấn chấn lên, nhờ
giai điệu dăng díu dây dưa của The Turtles. Tưởng tượng thử tí chút nào…

Thế là câu chuyện tường lửa vẫn chưa có hồi kết. Hà Nội trở gió, nhếch nhác và vô duyên.

Tab các font chữ biến đâu mất, đành sử dụng những gì đang có. Không biết rồi còn sẽ xảy đến điều gì, khi mà ngay cả bản lai diện mục cũng hóa thành hư ảo, chẳng đáng bận tâm. Viết, như một hành vi cố chống chọi với môi trường dường như đang quyết liệt tha hóa mình.

Tối qua xem VCD My Summer of Love (2004). Một bộ film về những ước mơ, ham muốn và khao khát; sự nghèo đói của hai nhân cách tuổi teen là tâm điểm để chiếu rọi về sự lệch lạc, đầu độc và bệnh lý nhân danh quyền lực tối thượng: tôn giáo, tình yêu, cộng đồng.

Có thể là một bộ film về lesbian; cũng có thể là nốt nhạc réo rắt của hoan lạc ngất ngây và sự bẽ bàng chứng kiến thói trơ tráo diễn trò; đây đó phủ trùm hơi thở của kẻ khám phá cố xóa đi nỗi sợ hãi cô đơn khi tỉnh táo tách khỏi bầy đàn, dù chất gây ảo giác có tác dụng thực sự trên sàn nhảy; thậm chí, cuộc sống tẻ nhạt đời thường của một thị trấn nhỏ bé ở nước Anh mê hoặc người ta tin vào những lời phù chú trừ tà và sự chở che của đấng tối cao,...

Điều cần nói thêm, những cảnh quay và vai diễn của hai nữ nhân vật chính đập mạnh vào giác quan khán giả, nó khiến bài học cuộc đời nhào trộn cả sự phi lý, niềm đam mê trần tục và năng lực hành động thực tế, cho dù phải trả giá vì quyết định dấn thân.

Hoàn toàn không phải là sự minh họa chủ đề hay gán ghép ý tưởng thô thiển, lộ liễu, bộ film vì thế, có thể gây tranh cãi song chắc chắn nó mang một giá trị nhân văn vượt trên những gì sờ chạm, trông thấy bằng mắt môi. Đoạn đối thoại giữa Tamsin (Emily Blunt) và Mona (Nathalie Press) thể hiện điều đó: một nơi chốn buồn cười, tựa như trò chơi lego gồm những đồ nhựa lắp ghép, là ngụy tạo mà thôi.

Bài đăng cũ hơn Trang chủ