Tham vọng bình thường của kiếp người là kéo dài mãi mãi những tháng năm sống ung dung, sung sướng.

Chẳng mấy chúng sinh trên cõi ta bà này thực lòng muốn chết.

Dẫu lên gân tự nhủ bao lần, đa phần nhân quần tránh sao nổi trạng thái tê cứng với thoáng suy tư chợt phủ chụp tối sầm mọi thứ rằng: chỉ là vấn đề thời gian, cái khoảnh khắc đón đợi gọi tên tất yếu phải đến ấy.

Theo nghiên cứu của
Roy Baumeister và Nathan DeWall, chúng ta có một hệ thống miễn dịch tâm lý nội tại vận hành không mệt mỏi bên dưới bề mặt nhận thức; chính hệ thống này hướng tâm trí chúng ta tới một kênh tích cực hơn vào bất kể lúc nào chúng ta nghĩ về cái chết.

Các đối tượng sinh viên tham gia thực nghiệm hoàn thành từ có nghĩa xuất phát ngữ căn gốc, ví dụ "jo_"; theo chiều tích cực ("joy": vui thú) hoặc trung tính ("jog": lắc lư).

Trước đó, các sinh viên được đề nghị trầm tư mặc tưởng về cái chết của chính mình thì càng nghiêng về lựa chọn các từ tích cực, hơn là số sinh viên được đề nghị ngẫm nghĩ tới cuộc thăm viếng phòng mạch của bác sĩ nha khoa
đầy đau đớn.

Xem ra, việc suy tư về cái chết bằng cách nào đấy đã hướng tâm trí của các sinh viên tới những từ tích cực.

Nghiên cứu của hai chuyên gia thuộc
Đại học Tiểu bang Florida (Hoa Kỳ) tương thích với phát hiện mà các nhà tâm lý học gọi là "lý thuyết kiểm soát nỗi kinh hoàng"- một cách thức giúp chúng ta chối bỏ thực tại buồn thảm.

Dường như điều này là một tiến trình của tiềm thức; lý thú hơn, cả việc trầm tư mặc tưởng về cái chết lẫn suy ngẫm tới vị nha sĩ đều ghi nhận điểm số tương tự nhau qua bảng hỏi tự khai về trạng thái cảm xúc bản thân-- được đưa cho các đối tượng giữa hai nhiệm vụ trầm tư mặc tưởng và thực hiện hoàn thành từ.

Kết quả cũng không có gì khác biệt với lần nghiên cứu thứ hai cũng liên quan đến việc sử dụng từ.

Xuất phát với một từ nhắm đến (ví dụ, "joke"), sinh viên phải nói một từ mang nhiều tính cảm xúc liên quan gợi lên trong họ (ví dụ, "sunbeam": tia nắng), hoặc một từ thay thế hàm chứa sắc thái ngữ nghĩa học (ví dụ, "speech": lời nói).

Thực nghiệm cho thấy, khi bắt đầu sử dụng các từ nhắm tới hạnh phúc, chứ không phải các từ chỉ sự buồn bã hay lo sợ, nhóm sinh viên trầm tư mặc tưởng về cái chết có vẻ thích chọn từ cảm xúc liên quan hơn là từ mang sắc thái ngữ nghĩa học.

Đáng lưu ý, qua quan sát không tìm thấy tác động tương tự xảy ra với các sinh viên suy ngẫm về vị nha sĩ-- họ hoặc chỉ thích nhặt những từ chứa xúc cảm hoặc chọn từ mang sắc thái ngữ nghĩa học mà thôi.

Thực nghiệm sau cùng nhằm minh họa sự đối lập với trực giác, và góp phần lý giải vì sao chúng ta thật kém cỏi trong chuyện dự đoán các sự kiện sẽ tác động như thế nào tới khía cạnh xúc cảm của chính mình.

Trái hẳn với kết quả thực tế quan sát thấy trong hai thực nghiệm đầu, các sinh viên được đề nghị tưởng tượng về những ảnh hưởng của việc trầm mặc đã thất bại khi dự đoán rằng họ sẽ hướng tới các từ tích cực, và họ đã ước tính quá mức tồi tệ trạng thái xúc cảm bị ảnh hưởng.


Chết là một sự kiện đe dọa đậm chất tâm lý, song một khi người ta trầm tư mặc tưởng về nó, hệ thống tự động rõ ràng khởi sự tìm kiếm các suy nghĩ tích cực, hai nhà nghiên cứu tuyên bố. Hơn nữa, điều này xảy ra ngay lập tức vượt ngoài nhận thức của chúng ta.
Giờ thì bạn đọc ít nhiều thấu hiểu lý do blog Cái tôi thi thoảng lại trích dẫn cuốn sách Mỗi ngày trầm tư về sinh tử rồi chứ.

Bài đăng Mới hơn Bài đăng Cũ hơn Trang chủ