Hiển thị các bài đăng có nhãn Sợ hãi. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Sợ hãi. Hiển thị tất cả bài đăng


Đã
ngỏ lời từ trước, nay blog Cái tôi giới thiệu chi tiết hơn công việc thu thập và mổ xẻ bộ não các thiên tài lớn nhất nước Nga trong một bộ sưu tập đồ sộ được gọi là "Điện Pantheon Não Bộ".

Đó là câu chuyện lôi cuốn mới được kể gần đây trong bài báo vốn đăng trên tạp chí Brain; sửng sốt nhất, bộ não cuối cùng được đưa vào "Điện Pantheon" chỉ diễn ra vào năm 1989.

Chính xác hơn, bộ sưu tập này gồm các bộ não của một số nhà Tâm lý học và Khoa học Thần kinh nổi tiếng nhất nước Nga; đồng thời, còn có nhiều k
hía cạnh liên quan gây ra sự tò mò, như cái chết bí ẩn của người sáng lập V.M. Bekhterev: sau khi tạ thế, bộ não của ông ngay lập tức được đưa vào bộ sưu tập.

Năm 1927, Bekhterev đi đến kế hoạch lập một tổ chức gọi là "Điện Pantheon Não Bộ" ở Leningrad nhằm sưu tập các bộ não tinh hoa.

Việc này dường như chính xác là định mệnh trêu ngươi khi vấn đề lập ra Điện Pantheon đã được giải quyết tích cực thì người khởi sự xây dựng công trình-- Bekhterev-- đột ngột biến mất. Hậu quả để lại đến nay vẫn còn là vấn nạn để ngỏ.

Ngày 17.12.1927, Đại hội toàn Liên bang các nhà Tâm thần học và Bệnh lý học Thần kinh lần thứ nhất được tổ chức tại Moscow. Bekhterev, cùng với L.S. Minor & G.I. Rossolimo được bầu là Chủ tịch danh tự của Đại hội.

23.12, ngày cuối cùng của Đại hội, Bekhterev thuyết trình ở phiên họp chiều. Đến tối, các triệu chứng của rối loạn dạ dày- ruột non khởi phát và 24 tiếng đồng hồ sau, Bekhterev mất vì suy tim cấp tính (theo thông báo chính thức). Không có bất kỳ một cuộc giải phẫu học bệnh lý tử thi nào được tiến hành, bộ não của Bekhterev bị chuyển đi và hôm sau, người ta hỏa thiêu xác ông.

Tuy vậy, lý tưởng của ông không bị biến mất dần. Năm 1928, Phòng Thí nghiệm Bệnh lý Thần kinh của Vogt và các đồng nghiệp Nga khác đã thiết lập lại Viện Nghiên cứu Não bộ Moscow, nơi khởi sự việc tổ chức sưu tập và vẽ bản đồ các bộ não Nga vĩ đại.

Bekhterev dẫu không nhìn thấy kế hoạch bản thân nay thành hiện thực, song bộ não của ông
(trọng lượng là 1.720g) làm phong phú thêm bộ sưu tập-- thu được não bộ của các nhà chính trị Soviet, các văn gia, thi sĩ, nhạc công lừng danh, v.v...

Không có gì đáng ngạc nhiên, khi Điện Pantheon còn lưu giữ các bộ não của những nhà Khoa học Thần kinh nổi tiếng như nhà Thần kinh học G.I. Rossolimo (1860-1928)-- nặng 1.543g; nhà Sinh lý học I.P. Pavlov (1849-1936)-- nặng 1.517g; nhà Thần kinh học M.B. Kroll (1879- 1939)-- nặng 1.520g; nhà Tâm thần học P.B. Gannushkin (1975- 1933)-- nặng 1495g; nhà Tâm lý học L.S.Vygotsky (1896-1934).

Dưới chế độ Soviet, công việc của Viện Nghiên cứu Não Bộ Moscow tiếp diễn âm thầm đằng sau cánh cửa đóng kín.

Bộ sưu tập còn được tiến hành đến năm 1989, với sự bổ sung bộ não của nhà Vật lý hạt nhân xuất chúng A.D. Sakharov (1921-1989), người bất đồng chính kiến và họat động vì quyền con người. Ông ủng hộ tự do dân sự và cải cách trên đất nước Soviet; được trao giải Nobel vì Hòa Bình năm 1975-- bộ não của ông nặng 1.440g.
Xem chừng, câu chuyện trên sẽ thêm phần hấp dẫn nếu biết các tác giả đã tính toán chính xác như thế nào trọng lượng mỗi bộ não của từng thiên tài kể trên.


Mắt phải, chân phải, tay phải

Hễ lúc nào rời khỏi phòng là tôi nhìn chăm chăm vào ngọn đèn điện với con mắt phải, trong khi chân phải tôi vẫn còn chưa rời khỏi cửa và bàn tay phải tôi thì đang nắm chặt quả đấm.


Tôi cứ đứng ở đúng vị trí vừa chạm chân tôi như thế để mà mở chúng và đóng cửa 3 lần. Nếu đèn đã tắt thì tôi lại bật sáng lên và cứ tiếp diễn chuyện bật tắt này.

Cuối cùng, tôi phải đóng cửa sau chừng 3 hoặc 7 lần, tùy thuộc trạng thái căng thẳng tinh thần.


Còn bạn, bạn có nghĩ mình từng rối nhiễu?
Một blog bắt mắt và thu hút tâm trí người đọc; càng ấn tượng về những dòng viết ngắn gọn, bởi dù trời vừa đột ngột đổ mưa, sấm nổ đì đùng song chưa kịp xua hết cái không khí bức bối dồn ứ từ trưa hè nóng nực.


Các tín đồ của học thuyết Mác đều rất tin môi trường xã hội và hoàn cảnh cá nhân có ý nghĩa quyết định tới sự hình thành tính cách con người.

Một địa phương có nhiều phong trào cách mạng tích cực ắt phải sản sinh ra nhiều tập thể tốt, một tập thể tốt sẽ sinh ra nhiều cá nhân tốt.

Con người là một thực thể vật chất nên không thể thoát ly những điều kiện vật chất đã cho phép nó tồn tại. Nhưng nó còn là một thực thể sinh học, một thực thể tinh thần, tâm linh, văn hoá bao gồm lịch sử cá nhân và dòng họ ở trong nó.

Nó cũng không thể biết hết nó, không thể biết hết những phản ứng bất thần trong chính nó khi vấp phải những đối nghịch trong cuộc sống. Nên cái thế giới tinh thần, tâm lý của con người là rất đa dạng, phức tạp, có muôn vàn lối đi ngoắt ngoéo.

Từ thời con người có ngôn ngữ để giao tiếp, có chữ viết để lưu lại, có văn chương để bày tỏ những bí mật của riêng mình, nó vẫn không ngớt than thở là chả biết được bao nhiêu về mình và đồng loại. Con người vẫn nguyên vẹn là một bí mật mênh mông, sâu thẳm như từ thủa nguyên sơ vậy.

Người cộng sản phải kiêu ngạo lắm mới dám bày cái trò chỉnh huấn phê bình để lãnh đạo một cách chuẩn xác cái phần khó nắm bắt nhất trong con người. Vì nó biến hoá, nó phù du như mây như gió vậy.

Đi tìm cái tôi đã mất (biết qua Diễn Đàn), tùy bút chính trị cuối cùng (2006) của nhà văn Nguyễn Khải (1930-2008).

Trong ngày kỷ niệm chiến thắng Điện Biên Phủ, đọc những dòng viết bề bộn câu chữ và ngổn ngang tâm sự của cây bút quân đội kỳ cựu để câm lặng ngậm ngùi cho số mệnh dân tộc mình, càng thêm thấy chua xót với thân phận làm người Việt Nam.

Một xã hội không tự hiểu mình, mỗi cá nhân cũng không tự hiểu mình, vàng thau, phải trái, cao quý ti tiện lẫn lộn, các giá trị lẫn lộn bắt đầu từ sự không chuẩn xác của ngôn từ.

Câu mở đầu kinh thánh Cựu ước “Thoạt Tiên Là Ngôn Ngữ…” (Au conmmencement était le Verbe).

Ngôn ngữ làm nên văn minh này, vì nó có thể lưu giữ và truyền lại toàn bộ kinh nghiệm của nhiều đời trước cho nhiều đời sau, càng ngày cái khả năng nhận thức càng gần đúng như nó có, khiến sự lựa chọn của con người khách quan hơn, có hiệu quả tích cực trong quá trình chủ động thích ứng với mọi đổi thay của môi trường sống và môi trường xã hội.

Vậy mà ngôn từ lại là cái mặt yếu nhất trong các lãnh vực thuộc thượng tầng kiến trúc ở các nước xã hội chủ nghĩa.

Công dân của các nước ấy dùng ngôn từ để che đậy chứ không nhằm giao tiếp, hoặc giao tiếp bằng cách che đậy, “nói vậy mà không phải vậy ”!

Nó là cái vỏ cứng để bảo vệ mọi sự bất trắc, chống lại thói quen hay xét nét lời ăn tiếng nói của công dân của mọi chính quyền chuyên chế.

Cái cách tự bảo vệ ấy lại càng rõ rệt ở cấp lãnh đạo và các viên chức nhà nước làm việc ở các cơ quan quyền lực.

Họ nói bằng thứ ngôn ngữ khô cứng đã mất hết sinh khí, một thứ ngôn ngữ chết, ngôn ngữ “ gỗ ”, nói cả buổi mà người nghe vẫn không thể nhặt ra một chút thông tin mới nào.

Các buổi trả lời phỏng vấn báo chí, diễn văn tại các buổi lễ kỷ niệm, báo cáo của Đảng, của chính phủ, của quốc hội, tất cả đều dùng các từ rất mơ hồ, ít cá tính và ít trách nhiệm nhất.

Người cầm quyền cấp cao nhất và cấp thấp nhất đều biết cách nói mơ hồ, càng nói mơ hồ càng được đánh giá là chín chắn.

Và nói dối, nói dối hiển nhiên, không cần che đậy. Vẫn biết rằng nói dối như thế sẽ không thay đổi được gì vì không một ai tin nhưng vẫn cứ nói.

Nói đủ thứ chuyện, nói về dân chủ và tự do, về tập trung và dân chủ, về nhân dân là người chủ của đất nước còn người cầm quyền chỉ là nô bộc của nhân dân. Rồi nói về cần kiện liêm chính, về chí công vô tư, về lý tưởng và cả quyết tâm đưa đất nước tiến lên chủ nghĩa cộng sản.

Nói dối lem lém, nói dối lì lợm, nói không biết xấu hổ, không biết run sợ vì người nghe không có thói quen hỏi lại, không có thói quen lưu giữ các lời giải thích và lời hứa để kiểm tra.

Hoặc giả hỏi lại và kiểm tra là không được phép, là tối kỵ, dễ gặp tai hoạ nên không hỏi gì cũng là một phép giữ mình. Người nói nói trong cái trống không, người nghe tuy có mặt đấy nhưng cũng chỉ nghe có những tiếng vang của cái trống không. Nói để giao tiếp đã trở thành nói để không giao tiếp gì hết, nói để mà nói, chả lẽ làm người lại không nói.

Thật ra nói thế mà vẫn hiểu nhau cả. Người cầm quyền thì biết là nhân dân đang rất bất bình về nhiều chuyện, nhân dân thì biết người cầm quyền đang nói dối, nhìn vào thực tiễn là biết ngay họ đang nói dối. Nhưng hãy mặc họ với những lời lẽ dối trá của họ, còn mình là dân chả nên hỏi lại nói thế là thật hay không thật. Mình cứ làm theo ý mình và mình cũng sẽ nói dối, nói che đậy nếu như có dịp được người cầm quyền hỏi.

Trong hàng trăm cuốn hồi ký của các nhà văn hoá, của những người hoạt động chính trị, của nhiều tướng lĩnh, ta chả biết được bao nhiêu cái thế giới riêng của họ, cái thế giới cá nhân của họ.

Cái phần đóng góp của họ càng nhỏ thì cái ý nghĩa quyết định của tập thể càng lớn, cái có tên thì bé tí xíu, vô nghĩa, cái không tên thì bao trùm rộng khắp nhưng cũng không có hình thù rõ rệt, cứ mờ mờ mịt mịt, có đấy mà cũng không có đấy, cái chung ấy chả phải chịu trách nhiệm với một ai, có biết nó là ai mà truy cứu.


Chẩn đoán ung thư thường khiến người ta lo lắng cao độ. Phần vì đối đầu với cái chết, mặt khác họ phải chọn một phương pháp điều trị và chấp nhận các tác dụng phụ đi kèm.

Hóa trị liệu (chemotherapy)-- giết rất nhiều tế bào lành mạnh cùng với các tế bào ung thư- bị nghi ngờ là phá hoại cả tâm trí lẫn cơ thể bệnh nhân.

Vì thế, nhiều đối tượng báo cáo các trục trặc xảy ra cho suy nghĩ và trí nhớ như là tác dụng phụ về mặt nhận thức mang tên là 'não hóa trị liệu' (chemo brain)-- mất tập trung, khó xử lý việc phức tạp, quên những điều vốn rất quen thuộc,...

Danh xưng nhiều khi không phản ánh sự thật, và hai nghiên cứu đăng tại Hội nghị thường niên Viện Thần Kinh Hoa Kỳ (AAN) đã hé lộ đôi chỗ về hiện tượng này.

Các nghiên cứu trước dường như xác quyết rằng, hóa trị liệu là nguyên nhân gây nên sự sa sút về mặt nhận thức.

Hai nghiên cứu gần đây của TS. Michael J. Boivin & TS. David G. Darby đã chỉ ra rằng, sự sa sút thực sự thích hợp với cơn đau và nỗi lo lắng hơn là bởi tính ác nghiệt của hóa chất.


Nhóm nghiên cứu thiết lập các trắc nghiệm nhận thức với 30 phụ nữ trước và sau một số vòng hóa trị liệu.

Kết quả, có 03 phụ nữ thể hiện sự giảm sút trong tốc độ xử lý thông tin, song những biểu hiện giảm sút này là các thiếu hụt không mấy ý nghĩa-- có thể được tìm thấy khi so sánh phụ nữ trước lúc tham gia điều trị đối với cộng đồng chung.

Thực chất, còn có một số điều không thuộc hóa trị liệu quấy nhiễu luồng suy nghĩ của bệnh nhân ung thư.

Rõ ràng không loại trừ khả năng rằng hóa trị liệu là một trong những nguyên nhân gây ra sự thiếu hụt, khiếm khuyết tâm thần tức thời, song ta nên xem xét, lắng nghe các sự kiện vặt vãnh với thái độ hoài nghi, bởi vì không có mối tương quan nào giữa các báo cáo cá nhân về thiếu hụt trong tri giác với sự thiếu hụt thực sự.

Chẳng có ai trong số 3 phụ nữ- kết quả test rõ ràng tồi tệ-- lại cảm thấy chính họ suy nghĩ tồi tệ hơn so với người thường.

TS. Boivin giải thích khả năng thiếu hụt ban đầu trong nghiên cứu của ông.

Theo đó, Boivin tập trung thành 3 nhóm phụ nữ: những người mới đây được chẩn đoán là ung thư vú song chưa bắt đầu tham gia hóa trị liệu; những người mà sinh thiết của họ chứng tỏ lành tính, và những người điều trị sống sót cũng như có dấu hiệu thuyên giảm trong vòng một năm.

Các thành viên của mỗi nhóm được kiểm tra qua bộ công cụ Lượng giá Trạng thái Tâm lý- Thần kinh và một số loại trắc nghiệm đánh giá tâm trạng khác nhau như Thang đo Chất lượng Cuộc sống Bệnh nhân Ung thư vú mang tên HOPE.

Trái ngược với ước đoán của Boivin, những phụ nữ trước khi hóa trị liệu có điểm số thật kém cỏi trong các trắc nghiệm về nhận thức hơn là các phụ nữ sau điều trị.

Sự thể hiện kém cỏi này liên quan chặt chẽ với mức độ khó khăn và sợ hãi trong đời sống.

Điều đó chứng tỏ rằng, không phải do điều trị hóa chất mà chính sự căng thẳng tinh thần (stress) khiến tâm trí u ám.

Đây là phát hiện quan trọng giúp bệnh nhân lên tinh thần, bởi vì vấn đề thực sự chính là hiểu biết sai lệch về các nguy cơ của hóa trị liệu có thể làm tăng thêm mức độ stress.

Các nhà tham vấn chuyên nghiệp và công tác hỗ trợ xã hội là thành phần quan trọng góp phần trong tiến trình chữa trị bất cứ bệnh tật thể lý cơ bản nào, vì nó có thể giúp giảm nhẹ gánh nặng nhận thức dường như là nguyên nhân tạo ra sự giảm sút.


Tham vọng bình thường của kiếp người là kéo dài mãi mãi những tháng năm sống ung dung, sung sướng.

Chẳng mấy chúng sinh trên cõi ta bà này thực lòng muốn chết.

Dẫu lên gân tự nhủ bao lần, đa phần nhân quần tránh sao nổi trạng thái tê cứng với thoáng suy tư chợt phủ chụp tối sầm mọi thứ rằng: chỉ là vấn đề thời gian, cái khoảnh khắc đón đợi gọi tên tất yếu phải đến ấy.

Theo nghiên cứu của
Roy Baumeister và Nathan DeWall, chúng ta có một hệ thống miễn dịch tâm lý nội tại vận hành không mệt mỏi bên dưới bề mặt nhận thức; chính hệ thống này hướng tâm trí chúng ta tới một kênh tích cực hơn vào bất kể lúc nào chúng ta nghĩ về cái chết.

Các đối tượng sinh viên tham gia thực nghiệm hoàn thành từ có nghĩa xuất phát ngữ căn gốc, ví dụ "jo_"; theo chiều tích cực ("joy": vui thú) hoặc trung tính ("jog": lắc lư).

Trước đó, các sinh viên được đề nghị trầm tư mặc tưởng về cái chết của chính mình thì càng nghiêng về lựa chọn các từ tích cực, hơn là số sinh viên được đề nghị ngẫm nghĩ tới cuộc thăm viếng phòng mạch của bác sĩ nha khoa
đầy đau đớn.

Xem ra, việc suy tư về cái chết bằng cách nào đấy đã hướng tâm trí của các sinh viên tới những từ tích cực.

Nghiên cứu của hai chuyên gia thuộc
Đại học Tiểu bang Florida (Hoa Kỳ) tương thích với phát hiện mà các nhà tâm lý học gọi là "lý thuyết kiểm soát nỗi kinh hoàng"- một cách thức giúp chúng ta chối bỏ thực tại buồn thảm.

Dường như điều này là một tiến trình của tiềm thức; lý thú hơn, cả việc trầm tư mặc tưởng về cái chết lẫn suy ngẫm tới vị nha sĩ đều ghi nhận điểm số tương tự nhau qua bảng hỏi tự khai về trạng thái cảm xúc bản thân-- được đưa cho các đối tượng giữa hai nhiệm vụ trầm tư mặc tưởng và thực hiện hoàn thành từ.

Kết quả cũng không có gì khác biệt với lần nghiên cứu thứ hai cũng liên quan đến việc sử dụng từ.

Xuất phát với một từ nhắm đến (ví dụ, "joke"), sinh viên phải nói một từ mang nhiều tính cảm xúc liên quan gợi lên trong họ (ví dụ, "sunbeam": tia nắng), hoặc một từ thay thế hàm chứa sắc thái ngữ nghĩa học (ví dụ, "speech": lời nói).

Thực nghiệm cho thấy, khi bắt đầu sử dụng các từ nhắm tới hạnh phúc, chứ không phải các từ chỉ sự buồn bã hay lo sợ, nhóm sinh viên trầm tư mặc tưởng về cái chết có vẻ thích chọn từ cảm xúc liên quan hơn là từ mang sắc thái ngữ nghĩa học.

Đáng lưu ý, qua quan sát không tìm thấy tác động tương tự xảy ra với các sinh viên suy ngẫm về vị nha sĩ-- họ hoặc chỉ thích nhặt những từ chứa xúc cảm hoặc chọn từ mang sắc thái ngữ nghĩa học mà thôi.

Thực nghiệm sau cùng nhằm minh họa sự đối lập với trực giác, và góp phần lý giải vì sao chúng ta thật kém cỏi trong chuyện dự đoán các sự kiện sẽ tác động như thế nào tới khía cạnh xúc cảm của chính mình.

Trái hẳn với kết quả thực tế quan sát thấy trong hai thực nghiệm đầu, các sinh viên được đề nghị tưởng tượng về những ảnh hưởng của việc trầm mặc đã thất bại khi dự đoán rằng họ sẽ hướng tới các từ tích cực, và họ đã ước tính quá mức tồi tệ trạng thái xúc cảm bị ảnh hưởng.


Chết là một sự kiện đe dọa đậm chất tâm lý, song một khi người ta trầm tư mặc tưởng về nó, hệ thống tự động rõ ràng khởi sự tìm kiếm các suy nghĩ tích cực, hai nhà nghiên cứu tuyên bố. Hơn nữa, điều này xảy ra ngay lập tức vượt ngoài nhận thức của chúng ta.
Giờ thì bạn đọc ít nhiều thấu hiểu lý do blog Cái tôi thi thoảng lại trích dẫn cuốn sách Mỗi ngày trầm tư về sinh tử rồi chứ.


29.2- Ngày phái đẹp tỏ tình. Báo Tiền Phong đăng lại tin từ chương trình truyền hình CCTV.

Còn tôi chỉ biết cái chuyện được gọi là "không nhảm nhí một chút nào" này khi chỉ còn chừng tiếng đồng hồ thôi là sang ngày mới của tháng Ba, nhờ đọc offline của một cô bạn chưa chồng-- người mời tôi đi uống café để tâm sự đầu giờ tối nay.

Vâng, ngỡ ngàng thay cho tôi vì cô bạn trên đã bỏ dở nửa chừng 2 bí mật gì đấy mà chính cô bất chợt thổ lộ, chẳng muốn kể rõ ra nữa do cảm thấy thời điểm chưa đủ độ chín muồi, thích hợp chăng (!)

Tuyệt không chút tơ tưởng xa gần hay "dưa bở, dưa lê" tí ti gì, cá nhân tôi tin rằng, hầu như tất cả chúng ta xem chừng đều gặp bất an lúc nào đó trong đời, và nhiều người có bí mật cất giữ riêng.

Đôi khi chúng ta chia sẻ những nỗi niềm sâu kín ấy với đối tượng ta quen biết, thân thiết; đôi khi chúng ta lại cảm thấy mắc kẹt, ngại ngần hoặc cảm thấy chẳng đủ khả năng thực hiện điều đấy.


Đôi khi những muộn phiền bứt rứt, bất ổn vốn thuộc chủ đề tự tin hoặc cảm giác mình không đủ tốt trong chuyện gì đó mình tiến hành-- thường là kết quả từ thời ấu thơ, hay trải nghiệm tồi tệ nảy sinh hồi mới lớn, cái thuở chập chững vào đời.

Và đôi khi chúng ta không muốn chia sẻ chúng, đơn giản bởi vì chúng ta e rằng người khác sẽ không thể hiểu nổi chúng ta; ngay cả, với chính những người ta yêu thương và gần gũi cõi lòng ta nhất.

Với những ai rốt cục học hỏi được ít nhiều xoay quanh nỗi niềm bất an hay bí mật như thế, có vẻ dư vị từa tựa sự phản bội tình yêu thương, thiếu thủy chung, và vụt hóa ngăn chia nghìn trùng trong quan hệ vốn ta đặt tất cả tin tưởng, kỳ vọng lâu nay.

Không phải vì điều gì đấy có thực đã không được chia sẻ; cũng không phải vì ai đó chẳng đủ năng lực hay ý muốn tỏ bày nó.


Đáng tiếc, nhiều người chật vật lắm mới hiểu ra nổi điều này, và cứ mải mê dằn vặt cơn cớ gì khiến họ đã không chia sẻ như vậy.

Họ không nhận ra rằng, người khác-- kẻ cảm thấy bị đối xử cơ chừng hắt hủi, tệ bạc ấy-- đã không hề quan tâm nó ghê gớm đến thế đâu. Chính việc lựa chọn cách ứng xử của họ mới góp phần tạo nên vấn đề.

Ra Giêng ngày rộng tháng dài; cần cảm thông ai đó vẫn mơ hồ
nuối tiếc dịp hoan hỉ, ăn chơi nhảy múa đã chấm hết, thời điểm xuất hiện lễ hội Valentine.

Tháng Hai có 29 ngày, nên chi tiết thêm cũng không thừa thãi.

Trong
quan hệ, chúng ta luôn nói rằng căn bản là phải thường xuyên thông truyền với nhau.

Song truyền thông không có nghĩa chỉ bày tỏ những điều dễ dãi, giản dị mà còn bao gồm cả lắm điều chính ta cảm thấy cực kỳ khó diễn đạt, khủng khiếp, đáng sợ,...


Nghiên cứu cho thấy, thổ lộ các cảm xúc tiêu cực, âm tính như lo lắng, buồn bã, sợ hãi và giận dữ có thể thực sự làm cho quan hệ của ta trở nên thân mật và gần gũi hơn nhiều.

Lý do-- theo nhóm tác giả-- các cảm xúc này báo hiệu với người khác rằng, ta đang cần được hỗ trợ, giúp đỡ; khiến cho đối tượng của ta càng mong mỏi đưa bàn tay yêu thương, ghé đôi vai tin cậy để ta nắm lấy, dựa vào.

Trạng thái bất an, giấu kín bí mật riêng tư còn là chỉ báo chứng tỏ ta đang gặp điều bất ổn, rằng thực sự chính ta không hề thoải mái chút nào; ta cần quyết nỗ lực để vượt qua; và khi truyền thông với đối tượng rất đáng giá với ta-- cởi mở mọi điều với người ấy-- ít nhất hàm ý rằng, tồn tại sự khác biệt giữa mình với tha nhân.

Dù bằng hình thức ra sao-- tự ngẫm nghĩ, trị liệu hay nhờ nhóm bạn giúp đỡ,...-- lợi lạc dễ nảy nở phù hợp nếu ta phát hiện, tìm ra được phương cách chia sẻ cùng đối tượng mà ta yêu thương bằng trọn vẹn trái tim những bí mật sâu kín, tế vi của bản thân- trước khi chúng diễn tiến theo hướng khó kiểm soát hoặc không như lòng ta mong đợi.

Bởi đa phần, chẳng bao giờ là quá muộn để chia sẻ; mặt khác, lẽ nào mỗi người chúng ta chưa từng trải qua trạng thái ngạc nhiên, phấn khích về lối phản hồi đầy tích cực của đối tượng ta yêu thương da diết-- ngay sau lúc đón nhận chính sự chia sẻ chân tình của chúng ta?

Một bài viết dễ đọc; tuy miệng lưỡi chua cay mà tâm ngay thẳng; hợp lý, thuận tình; phản ánh đúng lòng dân, song lời lẽ hơi chướng mắt nên xem chừng sẽ khó nghe; còn những mong đặng rồi chóng lọt thấu tai Chính phủ thì còn khuya.

[Blog Cái tôi trích nguyên văn, chỉ ngắt đoạn để tiện nhìn thôi.]

Tôi thưa thật với Thủ Tướng


............

Thưa Thủ Tướng,

Nếu tôi chỉ vì tôi, tôi sẽ không nói thật với Ngài: tất cả rồi sẽ bằng không nếu dân và nhà nước chưa một lòng một dạ.

Ngài có biết những người đội nón bảo hiểm đã phân tích:

"Gọi nón bảo hiểm là không đúng, vì chấn thương sọ não là chấn thương cái đầu của dân, dân tự chi tiền, dân tự nằm viện, chẳng ai trả tiền thay cho dân mà gọi là bảo hiểm.

Gọi nón bảo vệ cũng không xong, bởi một khi tai nạn xảy ra không chỉ có cái đầu bị đụng.

Đó là chưa nói, thiếu gì trường hợp đội nón vẫn mất mạng.

Thế mà Nhà nước hết bắt buộc, đến giam xe, rồi bây giờ là phạt nặng nếu không đội nón bảo hiểm.

Bảo hiểm gì, bảo... đội thì có"!

Tôi thiển nghĩ, chính sách đúng, phải là chính sách thuận lòng dân.

Chính sách thuận lòng dân trong việc bắt buộc người tham gia giao thông đội nón bảo hiểm là trước khi ban hành, Nhà nước phải tiến hành điều tra nghiên cứu một cách toàn diện, khoa học và trung thực.

Cụ thể là, trong số người chết vì tai nạn giao thông, cần tách bạch: có bao nhiêu trường hợp do hệ thống đường xá chưa bắt kịp tốc độ phát triển kinh tế và dân số (tầm nhìn), do việc quản lý giao thông yếu kém, do quy hoạch và quản lý đô thị bất cập, do những công trình thi công chậm chạp chiếm lòng đường...- nghĩa là lỗi về phần nhà nước; bao nhiêu trường hợp do lỗi của người tham gia giao thông? Trong số những người bị nạn, có bao nhiêu người chết vì chấn thương sọ não.

............

Ngay cả cha mẹ sanh con ra, cực khổ nuôi con lớn cũng phải tôn trọng sự riêng tư của con mình, rất ngần ngại ép con mặc cái quần, cái áo hoặc đội cái nón do cha mẹ mua sắm.

Thiết nghĩ, Thủ Tướng không phải là cha mẹ dân, ép cái gì lên thân thể của người khác lại buộc họ bỏ tiền ra sắm thì phải có lý lẽ xác đáng, có như thế mới mong nhận được sự đồng tình, hậu thuẫn của người thực hiện.

Thưa Thủ Tướng, sanh ra và lớn lên trong nội thành, tôi biết và nhớ như in, những cuộc biểu tình ở Sài Gòn trước ngày giải phóng do những người Cách mạng lãnh đạo cũng bắt đầu từ câu chuyện dân sinh, giống như chuyện đội nón bảo hiểm của ngày nay vậy.

Kính chúc Thủ Tướng khoẻ mạnh.

Kính thư

Tạ Thị Ngọc Thảo
Nhân dịp nhắc tới chủ đề mũ bảo hiểm, mời bạn đọc thêm ở đâyđây.

Vui kinh!

Tàn đêm Halloween rồi; ai đủ thời gian và kiên tâm thì tìm hiểu thêm ngoài lề: hai nhà Vật lý học chứng tỏ
ma cà rồng không hề tồn tại.

Dễ chừng 15 hay 16 năm trước gì đó, mang máng đọc sách lý luận bàn về bi kịch Hy Lạp cổ đại thấy có ý-- của Karl Marx thì phải-- từng phát biểu dường như rằng, xã hội thường tống tiễn một giai đoạn lạc hậu và chào đón thời mới bằng tiếng cười.

(Sông Hồng ở Bát Tràng)

Vào thu đã lâu. Mùi hoa sữa vô tư hắc sực.

Lũ lụt, ngập nước, cúm gà, dịch bệnh, thực phẩm,...

Dưới bầu không khí se buốt pha rét dịu của
một ngày gió mùa đông bắc, trên chiếc xe bus băng qua cầu Chương Dương, thấy sông Hồng ngầu đục, cạn trơ và mờ mờ hình hài cầu Long Biên duyên dáng xa kia.

Vừa đi qua sau lưng Văn Miếu- Quốc Tử Giám; xuyên suốt con đường Hoàng Diệu rợp bóng cây và biệt thự kiểu cổ; đài tưởng niệm Anh hùng - Liệt sĩ, nhà thờ Cửa Bắc (nơi tổng thống Mỹ gần năm trước từng tới cầu nguyện); trờ ngay đấy là tường thành cổ Hà Nội còn mang dấu tích 2 vết đạn thời Pháp công thành gợi nhớ danh tướng Nguyễn Tri Phương; náo nức mấy phố hàng và chợ Đồng Xuân; ô Quan Chưởng;...

Ngẫm nghĩ tại sao mãi không thôi áy náy, cứ cố đánh mắt với chàng soát vé trẻ tuổi cho đến khi cậu ta nhận từ tay ta tờ bạc giấy nãy giờ hết đút túi rồi lại rút ra huơ huơ.

Và nhớ về cái tin má thằng bạn bác sĩ Nội khoa ở quê nhà đang mắc ung thư cũng như liên tưởng đến nghiên cứu chỉ ra rằng, cảm xúc không giữ vai trò chính quyết định tỷ lệ sống sót như người đời gắng tin tưởng bấy lâu.

(Thực tế, căn bệnh nan y này làm xấu đi sức khỏe tâm thần, nên bệnh nhân ung thư cần được lượng giá nghiêm túc; việc kết hợp giữa điều trị ung thư và trị liệu tâm lý chứng thực hiệu quả ấn tượng; dĩ nhiên, người bệnh cũng cần sự hỗ trợ từ gia đình, bạn bè và tôn giáo, bởi chí ít thì qua điều tra,
90% các bệnh nhân ung thư tin sự hồi phục là nhờ lòng thành.)

Một ngày sắp kết thúc, mệt nhọc thể lý rõ ràng. Đêm khuya thấu lạnh.

Dù sao, vẫn còn hy vọng và cơ hội; vì "mai là một ngày khác" (lời nhân vật
Scarlett O'Hara trong bộ film Cuốn theo chiều gió.)

(ảnh: NYT)

Một bài báo đáng đọc, nếu ta muốn dành thời gian và tâm trí làm hòa với chính bản thân mình:

Cái thói đến lượt mình lại đi gây hấn tiếp (redirected aggression) [chuyển nỗi đau từ một nạn nhân này sang một nạn nhân khác] không đơn giản khởi phát bởi thứ gì thậm phi lý hoặc thuộc tính bẩn thỉu của con người, mà nó-- kéo theo sự trả đũa và lòng thù hận-- thâm căn cố đế trong tận cùng kết cấu của thế giới tự nhiên rồi, là diễn tiến đáp ứng tất yếu với nỗi đớn đau.

Cách thức tồn tại lâu dài về mặt sinh học của thói tiếp tục gây hấn không chỉ lý giải sự vô nghĩa rõ ràng mà còn cả tính phổ quát của nó nữa.

Chuyện này phơi bày qua bao thời đại-- như chúng ta đã và đang chứng kiến--, xuyên suốt các nền văn hóa, các đơn vị xã hội, ở các cá nhân và hiển hiện nơi các cộng đồng, các quốc gia.

......


Gần đây, các nhà sinh lý học đã khám phá ra cơ sở
hormone của hành vi này. Cả động vật lẫn con người đều trải nghiệm sự đe dọa, bị tấn công do việc "hạ thấp tầm quan trọng của stress"; kết cục, tăng hormone adrenaline, cùng với huyết áp cao và viêm loét lan rộng là chắc chắn.

Chưa hết, điều này mới chính yếu: khi được dịp "trả thù" ai đó khác thì các nạn nhân không hề thấy một dấu hiệu căng thẳng (stress) nào.


Chuyển dọc nỗi đau đớn của bản thân, các nạn nhân định hình mối ưu phiền nội tại riêng có, đồng thời tạo nên rắc rối cho những nạn nhân kế tiếp xếp phía sau hàng.

Nghĩ mà xem-- nhà sinh học Robert Sapolsky đề nghị-- về kẻ không hề mắc phải loét nhưng mặt khác lại gây ra các vết loét!

(ảnh)

Cách đây một tháng, tại trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội có phối hợp tổ chức Hội thảo Việt- Pháp: "Văn hoá trong toàn cầu hoá" [tên đầy đủ ban đầu là "Văn hoá đối đầu với toàn cầu hoá: đánh mất tâm hồn hay phục hưng sức mạnh?-- Tâm lý trị liệu và thách thức văn hoá"] (24- 26.7.2007).

Tham gia một trong các tiểu ban thuộc chương trình ("Làm thế nào truyền thông phi bạo lực?"/ "Comment Transmettre La Non-Violence?"), tôi thực sự bị thu hút bởi phát biểu của một nữ giáo viên hưu trí người Tây Ban Nha; theo bà, ngay trong môi trường học đường, với đồng nghiệp bà vẫn cảm thấy rất rõ "bạo lực bủa vây xung quanh".

Hàng ngày, các phương tiện truyền thông trên thế giới và Việt Nam khai thác vô kể thông tin thảm sát, chết chóc, đau thương, hành hạ, đánh đập, tang tóc; điển hình gần đây nhất là xôn xao câu chuyện làm dâu xứ Hàn, vụ
con gái giết chatiếp tục làm rõ hơn chân dung kẻ xả súng hàng loạt ở Đại học Công nghệ Virginia (Hoa Kỳ) hồi tháng 4 năm nay.

Cần phải nói ngay rằng, không thể dễ dàng khẳng định chính việc muốn đổi đời nên bỏ quê, quyết lấy chồng xứ người đã khiến cô gái nhà nghèo xấu số phải chết đau đớn; hoặc vì bị cấm yêu dẫn đến thù hận, sát hại bố đẻ; hay do mắc hội chứng câm tuỳ lúc [(selective mutism), một dạng thức hiếm gặp và thái quá của lo hãi xã hội (social anxiety), mang đặc trưng cơ bản là người mắc không thể phát ngôn trong những tình huống nhất định, khi việc nói năng tỏ ra cần thiết] mà Cho có hành vi bạo lực.

Những lý do vừa nêu xem chừng chưa là nguyên nhân, hoặc trực tiếp dẫn đến nguyên nhân của các kết cục trên. Dường như chẳng tồn tại nổi giải thích nào thật hữu lý và thuyết phục, càng khó tìm ra giải thích nào thoả mãn tất cả những ai "cần được giải thích" về các
hành vi dị biệt trên.

Tuy vậy, mấy vụ việc này cho thấy sự thiếu hụt truyền thông đã góp phần làm chậm trễ đến độ không thể cứu vãn và gây tác hại nghiêm trọng, kéo theo hậu quả là cơ quan chức năng, người thân, giới chuyên môn và cộng đồng không thể tiếp cận công hiệu đối tượng cần sự hỗ trợ đặc biệt, đúng đắn.

Bao nhiêu phụ nữ Việt Nam bị chồng ngoại quốc hành hạ và giết hại; bao nhiêu nữ sinh gia đình cấm cản yêu đương từng lấy đi cuộc sống bậc sinh thành ra mình; bao nhiêu người mắc trầm cảm/ lo hãi xã hội gây ra tội ác?

Thời điểm của cảm thông và tôn trọng. Thiên hạ luôn mong muốn một sự giải thích rõ ràng và cụ thể, song thực tế, số liệu tiêu cực ấy bé về mặt thống kê; những biến cố tương tự rất khó giải thích, chí ít do tần suất xảy ra còn thấp- khả năng dự đoán, vì thế, thật mơ hồ, mong manh.

Và có lẽ, hơn bao giờ hết, trước vấn nạn phàn nàn và lắm câu hỏi để ngỏ thì đây là dịp thích hợp cho giả thuyết "Đời Vốn Công Bằng" phát huy tác dụng chăng?

Đấy là niềm tin thông thường rằng, nhiều người có thế giới quan riêng: những điều may mắn, vui tươi xảy ra với những người tốt, còn điều tồi tệ đổ về kẻ xấu xa.

Khi một ai đó bị hành hạ, đánh đập, giết chết,... thì niềm tin này thúc giục người ta lập tức nghĩ tới chuyện nạn nhân chắc phải làm điều gì đấy trêu tức hay xứng đáng hứng chịu hậu quả nặng nề- nếu không, gánh lấy một cách gián tiếp.

Một cách nhìn của niềm tin "Đời Vốn Công Bằng" cũng được áp dụng nhằm đương đầu với những điều tiêu cực xảy ra thật ngẫu nhiên trong cuộc sống. Cũng chính nó lý giải tại sao các tội ác ghê rợn tày đình, bậy bạ càn quấy, trời không dung đất không tha lại thừa sức thu hút sự chú ý của dư luận ghê gớm; lý do: niềm tin cấu trúc hoá như thế dần xung đột với thực tế đời sống và trở thành khiếp đảm.

Với những nạn nhân là đối tượng dễ bị tổn thương, hoàn toàn ngây thơ hoặc vô phương phòng vệ như trẻ em, người già, liễu yếu đào tơ và một số nhóm đặc biệt khác, thì sự căm phẫn, trừng trị của quần chúng càng ngùn ngụt tăng cao hơn nếu kẻ mang nhãn ngờ vực "khủng bố" bị tra tấn và hành quyết bằng phương thức man rợ nhất- thậm chí, ngay cả khi hắn vô tội.

Những ai từng xem bộ film Civic Duty (2006) chắc ít nhiều liên tưởng về thực trạng định kiến và phân biệt đối xử này.

Một phát ngôn ấn tượng Không Internet, Việt Nam sẽ thành ốc đảo về một sự kiện quan trọng; mời đọc bài trả lời phỏng vấn của nhân vật Chu Hảo, nhân sự kiện Việt Nam kỷ niệm 10 năm sử dụng Internet.

Và sau mấy ngày liền tạm dừng truy cập mạng lưới điểm toàn cầu, chẳng ngó ngàng mail, YM mà cũng cảm thấy bình an, tuyệt không hề nảy sinh cảm giác buồn chán hay ấm ức gì, tôi càng thực sự vui mừng chào đón
20 năm ngày ra đời Prozac!

Có thể bạn không nhớ lắm, Prozac là tên thương mại của thuốc
fluoxetine đặc biệt nổi tiếng và công hiệu khắp toàn cầu trong điều trị trầm cảm và bệnh tâm thần.

Mới đây, một nữ sinh viên năm thứ 2 đã chia sẻ cùng tôi sự phân vân giữa việc dùng thuốc chống trầm cảm- theo toa của bác sĩ, và trị liệu tâm lý.

Thêm một
nghiên cứu nhấn mạnh sự kết nối làm tăng cường hiệu quả điều trị cao hơn giữa việc dùng thuốc và trị liệu tâm lý.

Thực tế, tại Việt Nam, một phần do công nghệ quảng cáo thuốc hơi bị siêu (và lợi nhuận khổng lồ) cộng với mức độ nhận thức bệnh/ rối loạn tâm thần còn chưa ngang tầm, nên đa phần dân chúng ưa chuộng việc sử dụng thuốc mỗi khi có ai đó thân quen mắc phải trục trặc, hay có vấn đề về sức khỏe tâm thần.

Niềm tin có vẻ thái quá về công hiệu duy nhất của thuốc dường như đã và đang tiếp tục làm biến dạng phương thức ứng xử đúng đắn với bệnh tâm thần: thay vì đề nghị bác sĩ tâm thần trao đổi, tham vấn về một cách tiếp cận điều trị thì người ta chủ yếu mong mỏi được cho một đơn thuốc (càng đắt tiền, càng an tâm).

Thực trạng trên là thách thức đáng quan tâm, đòi hỏi nỗ lực phấn đấu miệt mài hơn đối với những ai đam mê theo đuổi chuyên ngành tâm lý trị liệu vẫn còn cực kỳ non nớt và thiếu sót ở Việt Nam.

Sợ hãi rất phức tạp. Nó là một phản ứng dữ dội. Nếu ngài từng biết nó sẽ thấy nó là một diễn biến đột ngột, không chỉ về sinh lý, về thể xác, mà còn là cú sốc đối với não.

Người ta khám phá ra trí não có một khả năng duy trì được sự lành mạnh dù gặp phải cú sốc. Tôi không biết rõ về chuyện đó, nhưng chính cú sốc đã mời gọi sự tự vệ của não. Nếu ngài tự mình đi sâu vào ngài sẽ thấy.

Vậy sợ hãi là một cú sốc- nhất thời hay tiếp diễn trong nhiều hình thức khác nhau, với nhiều biểu lộ khác nhau, trong nhiều cách thức khác nhau.

Chúng ta hãy đi đến tận gốc rễ của nó. Để hiểu được chính gốc rễ của nó, chúng ta phải hiểu thời gian. Thời gian như ngày hôm qua, thời gian như ngày hôm nay, thời gian như ngày mai.

Tôi nhớ việc gì đó tôi đã làm, tôi đã hổ thẹn vì chuyện đó, hay lo lắng, hay e dè, hay đầy sợ hãi; tôi nhớ tất cả các chuyện đó, và nó kéo dài đến tương lai.

Tôi đã giận dữ, ganh tị, đố kị- đó là quá khứ. Bây giờ tôi vẫn đố kị, có thay đổi chút ít; tôi khá rộng lượng về vật chất, nhưng vẫn tiếp tục đố kị. Toàn bộ tiến trình này chính là thời gian.

Các ngài thấy điều này phải không? Các ngài nói vâng à? Không, đừng nói vâng!

Chúng ta bắt đầu lại nhé. Chúng ta xem thời gian là gì? Là giờ phút của đồng hồ, của mặt trời lặn, mặt trời mọc, ngôi sao hôm, trăng tròn, trăng khuyết?

Với ngài thời gian là gì? Thời gian để học một kỹ năng? Thời gian để học ngoại ngữ? Thời gian để viết thư? Thời gian từ nhà đến đây? Tất cả việc này cần một khoảng thời gian. Tôi phải đi từ đây đến kia, đó là một khoảng cách cần thời gian. Nhưng thời gian cũng thuộc vào bên trong, thuộc tâm lý: tôi như thế này, tôi phải trở thành thế kia. Sự trở thành được gọi là tiến triển.

Tiến triển có nghĩa là từ hạt giống phát triển thành cây, hay tôi ngu ngốc nhưng tôi sẽ học, tôi không biết nhưng tôi sẽ biết. Các ngài có thấy điều này?

Hãy cho tôi thời gian, cho tôi vài ngày, một tháng hay một năm, tôi sẽ bỏ tính xấu đó. Vì thế chúng ta sống dựa vào thời gian- không chỉ thời gian cứ phải đi làm mỗi ngày từ sáng đến chiều, nhưng còn thời gian để trở thành cái gì đó.

Các ngài hiểu hết các điều này chứ? Hiểu thời gian, vận động của thời gian? Tôi đã sợ ngài và tôi và nhớ lại cái nỗi sợ này; nỗi sợ vẫn còn đây và ngày mai tôi vẫn còn sợ ngài. Tôi hy vọng sẽ không sợ nữa, nhưng nếu tôi không làm gì quyết liệt về chuyện này, tôi sẽ vẫn sợ ngài vào ngày mai. Vì thế chúng ta sống dựa trên thời gian.

Xin hãy thấy rõ điều này. Chúng ta sống dựa trên thời gian, nghĩa là tôi đang sống và tôi sẽ chết. Tôi sẽ trì hoãn cái chết càng lâu càng tốt; tôi đang sống và tôi sẽ làm mọi thứ để tránh né cái chết, dù biết chắc không thể tránh được nó.

Cho nên về mặt sinh lý cũng như về mặt tâm lý chúng ta sống dựa trên thời gian.

Có phải thời gian là một yếu tố của sợ hãi? Xin hãy xem xét.

Thời gian- ví như tôi đã nói dối, tôi không muốn ngài biết; nhưng ngài rất tinh tế, ngài nhìn tôi nói, 'Ông đã nói dối.' Tôi bào chữa liền vì sợ ngài biết tôi là kẻ nói dối, 'Không, không, tôi không nói dối.' Tôi sợ vì những chuyện tôi đã làm mà không muốn ngài biết.

Đó là gì? Chính là tư duy hay suy nghĩ, có phải không? Tôi đã làm điều gì đó mà tôi nhớ rõ, trí nhớ đó bảo, hãy cẩn thận đừng để ông ta khám phá ra mình nói dối, vì mình là người có tiếng là trung thực, vậy phải tự vệ thôi.

Vì thế suy nghĩ và thời gian đến cùng nhau. Chẳng có sự phân chia nào giữa suy nghĩ và thời gian.

Xin hãy thông suốt điểm này để đừng rối trí về sau. Nguyên nhân gốc rễ của sợ hãi chính là thời gian-suy nghĩ, đúng vậy không?

[
J. Krishnamurti. (2003). Lời cuối bình an. Mộc Nhiên dịch. TP.HCM: Nxb. Thanh niên, tr.85- tr.87]

Bài đăng cũ hơn Trang chủ