
Đây có thể là lần đầu giới nghiên cứu Tâm lý học báo cáo về một trường hợp hy hữu tự chịu trách nhiệm về tai họa khủng khiếp diễn ra vào năm 2001 tại Hoa Kỳ.
Hai tác giả Mary Robertson & Andrea Cavanna giới thiệu về cậu bé 10 tuổi mắc hội chứng Tourette kèm các triệu chứng ám ảnh cưỡng bức; người tin tưởng rằng, cuộc khủng bố ngày 9.11 xảy đến là do cậu đã không hoàn tất một trong các nghi thức mình vẫn tiến hành hàng ngày.
Tuy được mô tả là "cực kỳ dễ thương và đáng yêu" cộng với kết quả học tập tốt ở trường, song cậu bé này từng được đưa đến gặp chuyên gia tham vấn tâm lý trước khi sự kiện 9.11 xảy ra.
Và với tính cách của một người mắc hội chứng Tourette, cậu bé thể hiện nhiều dạng thức của chứng máy giật không kiểm soát nổi, gồm cả tật nháy mắt liên tục và phát âm khó khăn, đồng thời có vấn đề về chú ý và khuynh hướng ám ảnh.
Theo tác giả Robertson, trong lần gặp tiếp theo 2 tuần sau sự kiện 9.11, cậu bé rơi vào trạng thái tồi tệ, "cực hình" bởi tật máy giật và bị tội lỗi hành hạ do cậu suy nghĩ rằng, sự kiện 9.11 diễn ra vì cậu đã không đi bộ dọc theo vạch màu trắng riêng biệt trên đường.
Đấy là một trong các nghi thức mà cậu thường tiến hành suốt năm; một số thuộc nghi thức khác gọi là "sờ chạm nguy hiểm" như nhu cầu cảm nhận độ sắc bén của các lưỡi dao, và đặt tay mình gần với làn hơi tỏa ra từ ấm nước đang đun để kiểm tra độ nóng của nó.
Điều quan trọng đáng chú ý, hai nhà nghiên cứu trên khẳng định, niềm tin của cậu bé về sự kiện 9.11 khác biệt hoàn toàn so với các trải nghiệm hoang tưởng ở người mắc loạn thần; thay vào đó, là nỗi sợ hãi có dạng thức cực đoan của người mắc rối loạn ám ảnh cưỡng bức vốn thể hiện khi họ không hoàn tất các nghi thức tự mình đặt để.
Thật may mắn, cậu bé được điều trị bằng thuốc và làm cho an tâm (tính cả sự giải thích rằng việc quên thực hiện nghi thức xảy ra sau 9.11, cũng như giúp cậu bé biết múi giờ khác nhau giữa Hoa Kỳ và nước Anh), dần dần khiến cậu bé nhận ra là mình không phải chịu trách nhiệm về cuộc khủng bố đó.
Hai tác giả nghiên cứu trên còn nói rằng, trường hợp cậu bé làm người ta chú ý tới cách thức truyền thông trong xã hội hiện đại-- "tức thì, thực tế và dễ hồi tưởng"-- có thể dẫn dụ về các cuộc tấn công khủng bố và tai họa ghê gớm khác đã, đang và sẽ gây hậu quả nghiêm trọng, làm tổn thương những người không trực tiếp sống gần với hiện trường xảy ra sự cố.
Rối loạn ăn uống có thể xảy đến do nhiều yếu tố; gần đây, một số nghiên cứu kết nối áp lực xã hội và rối loạn ăn uống, tìm hiểu cách thức làm thế nào sang chấn quá khứ lại tạo ra quan hệ không lành mạnh với thực phẩm những năm về sau.
Nhóm chuyên gia thuộc Đại học Syracuse tiến hành điều tra 209 sinh viên năm thứ nhất (18-19 tuổi) về sang chấn họ từng trải qua trong quá khứ.
Cuộc điều tra phản chiếu một bối cảnh rộng: ly dị, cái chết của người thân yêu, bị lạm dụng thể lý và lạm dụng tình dục; đồng thời, ngoài việc báo cáo sang chấn, các đối tượng tham gia còn cho biết mức độ tồi tệ của trải nghiệm ảnh hưởng đến họ ra sao.
Sinh viên đối đầu với sang chấn thời thơ ấu thường biểu hiện các dấu hiệu của rối loạn ăn uống, và các nhà nghiên cứu đã định dạng được mối liên kết giữa các kiểu dạng sang chấn với nhiều triệu chứng khác nhau của rối loạn ăn uống.
Đối tượng nào từng trải qua sang chấn bạo lực thì hay bỏ bữa, ăn nhanh, háu ăn, và sử dụng quá mức các loại thuốc ăn kiêng hoặc thuốc nhuận tràng, cùng lúc việc lạm dụng thuốc nhuận tràng, ăn vô độ và nôn mửa có liên quan với chuyện ly dị và cái chết của người thân yêu.
Các sinh viên được theo dõi từ lúc bắt đầu cho đến khi kết thúc học kỳ. Những ai từng trải nghiệm sang chấn trong quá khứ thì hay biểu hiện rối loạn ăn uống ngay lúc bắt đầu học kỳ, và họ cũng thường có những thói quen ăn uống thiếu lành mạnh lúc kết thúc học kỳ.
Các kiểu rối loạn ăn uống xem ra bùng phát do căng thẳng tinh thần, và chúng thường nổi rõ ở thời điểm học phổ thông hoặc lúc bước vào đại học. Giai đoạn quá độ chuyển từ phổ thông sang đại học càng dễ làm tăng thêm nguy cơ hình thành các thói quen ăn uống thiếu lành mạnh với các đối tượng vốn có tiền sử sang chấn.
Các khía cạnh khác của tình huống hiện tại cũng tác động mạnh mẽ đối với sức khỏe tâm thần của người ta, như minh họa trong một nghiên cứu của Hệ thống chăm sóc sức khỏe thành phố VA Iowa.
Một số nghiên cứu trước đây về ảnh hưởng xã hội với hành vi ăn uống cho thấy, rối loạn ăn uống xem chừng 'lây lan' những người xung quanh.
Tác động này có vẻ xảy đến với các cô gái, đáng chú ý, rất có khả năng là do áp lực từ bạn cùng hội cùng thuyền hoặc vì họ thường xuyên ăn kiêng rồi thảo luận cách thức của việc giảm cân.
Để tìm hiểu sâu hơn ý tưởng này, các nhà nghiên cứu phân tích dữ liệu mang tầm quốc gia với hơn 15.000 học sinh phổ thông trung học.
Khi so sánh các cặp đôi học sinh sống khác tỉnh, thì các cặp đôi sống cùng địa phương biểu hiện gấp 4 đến 10 lần việc ăn kiêng, chối bỏ quyết liệt lượng thức ăn nạp vào, sử dụng viên thuốc ăn kiêng, hoặc dính tới các hành vi thiếu lành mạnh khác thuộc rối loạn ăn uống.
Các hành vi tương tự cũng được thể hiện ở nông thôn, thành thị, vùng ngoại ô phụ cận tỉnh lỵ; chỉ mỗi biểu hiện của hành vi dùng thuốc xổ tẩy ruột là không thấy lan tràn trong các nhóm bạn bè tụ tập cùng nhau: từ góc độ lý thuyết, việc uống thuốc tẩy ruột được xem là ít được chấp nhận và mang tính giấu giếm nhiều hơn so với các hành vi ăn uống khác; cho nên, nó hiếm khi được truyền từ cá nhân này sang cá nhân khác.
Rối loạn ăn uống có thể để lại vô số tác hại nghiêm trọng trong đời sống của trẻ vị thành niên và người mới lớn, thậm chí gây nên tử vong ở một số trường hợp.
Hiểu biết về các yếu tố nguy cơ là điều cốt yếu để xác định đối tượng cần trợ giúp. Cần cung cấp kiến thức, chương trình cho học sinh- sinh viên nhận ra các dấu hiệu của rối loạn ăn uống; thảo luận lựa chọn phương thức điều trị thích hợp cũng khuyến khích họ tìm kiếm sự trợ giúp với những vấn đề họ trải nghiệm.
Trường phổ thông và đại học tạo ra nhiều thách thức cần nỗ lực vượt qua, nhất là những ai từng phải đương đầu với các biểu hiện sang chấn và bệnh tâm thần, song với sự trợ giúp và điều trị, họ có thể cải thiện đời sống và sức khỏe của chính mình.
Định kết thúc bài viết ở đây, sực nhớ đang có dịp ăn uống truyền thống giết sâu bọ...
Phân loại: Béo phì, Đồng tính luyến ái, Học vấn, Nghiên cứu, Quan hệ, Rối nhiễu, Stress, Sức khỏe tâm thần, Tâm bệnh học, Tâm lý học Dân tộc

Thực tế cần quán triệt là, nhà trị liệu (tham vấn) được thân chủ nhìn nhận dưới một ánh sáng khác biệt.
Nhà trị liệu cũng nên nhận ra rằng, các ấn tượng này thuộc vấn đề viễn tượng và ít nhiều khác hẳn thực tế-- so với những gì do chính nhà trị liệu hoặc thân chủ tưởng tượng ra.
Như sự tự hiểu mình của thi sĩ Robert Burns: Thượng Đế cho chúng ta thứ quà tặng nhỏ nhặt nhất để bản thân có khả năng nhìn thấy chúng ta như người khác nhìn thấy.
Về nguyên tắc, tất cả chúng ta đều có món quà đó (dường như ngoại trừ đối tượng mắc Tự kỷ, song đó là một câu chuyện khác).
Trong thực tiễn đời sống, món quà ấy thường chưa được sử dụng hết khả năng, đặc biệt ở bối cảnh phòng trị liệu.
Ta biết rõ, ta chỉ có duy nhất hai bộ áo quần đắp đổi: thân chủ lại nhìn thấy ta trông thật tươi tắn, bảnh bao.
Ta biết rõ là ta đang trọ trong một căn phòng chật hẹp vừa để ngủ, làm việc và tiếp khách. Thân chủ cứ hình dung ta sở hữu một căn hộ riêng rộng rãi.
Ta biết sáng nay vội vàng ta chưa kịp dọn giường và ngăn đựng thức ăn trống rỗng, còn có vài thanh lương khô và gói bánh Ritz. Thân chủ đoán ta là người luôn luôn chu đáo, gọn gàng, ngăn nắp.
Ta biết đêm qua ta tranh cãi gay gắt với một người. Thân chủ nghĩ chắc là ta không bao giờ bị xuống tinh thần.
Việc tiếp xúc hạn chế mà nhà trị liệu có với thân chủ cho phép nhà trị liệu phô ra một hình ảnh xem chừng khó mà nhận ra nổi, thậm chí, thành thật là không thể tin được-- đối với người thân trong gia đình và bạn bè ta.
Tính chuyên nghiệp của nghề trị liệu tâm lý đòi hỏi sự rõ ràng, minh bạch và trạng thái bình tĩnh đến độ dường như không thể đạt tới với ai đó mà cuộc đời đang chịu sự va đập, tan nát tứ bề xung quanh họ.
Thân chủ hiếm khi biết rằng nhà trị liệu có thể chỉ duy trì tâm thế ấy mỗi lần tiếp xúc cùng họ trong một tiếng đồng hồ.
Điều này không phải để nói rằng, nhà trị liệu nên lấy làm khoái trá với thân chủ trước những câu chuyện ngớ ngẩn, lạc lõng và bất tương xứng, thiếu năng lực, có vẻ yếu đuối về mặt xã hội của chính bản thân mình.
Mặt khác, nhà trị liệu cũng chẳng nhất thiết phải làm bộ làm tịch, thu hút sự chú ý của công luận, rồi nhìn bản thân mình cực kỳ xa lạ so với thân chủ.
Những dòng tâm sự bên dưới phản ánh sự khác biệt giữa bộ phận nhân viên văn phòng với thân chủ (toàn bài ở đây):
Tôi là một kẻ thường trú nơi này. Còn ông có quyền nắm giữ ở đây.
Tôi phải nhập viện. Ông vào chỗ mới, thay đổi vị trí.
Tôi có nhiều vấn đề về hành vi. Ông thô lỗ.
Tôi không phải là kẻ dễ nhượng bộ. Ông chẳng hề thích được bảo phải làm gì.
Khi tôi xin phép ông ra ngoài ăn chiều, đó là cuộc đi chơi. Khi ông đề nghị ai đó ra ngoài, đó là cái hẹn.
Tôi không biết có bao nhiêu người đã đọc hồ sơ bệnh án của tôi, thậm chí, tôi còn chẳng biết trong đó viết những gì. Đã một tháng, ông không nói với người bạn thân nhất của ông sau khi cô ấy đọc nhật ký của ông.
Nhân tiện, chúng ta thử tham khảo tài liệu khám phá các trải nghiệm của bệnh nhân thông qua thư tín cá nhân giữa họ với người thân và giám thị trông nom tại Nhà Thương điên Gloucester những năm 1827-1843 (Vương quốc Anh).
Đôi lúc, thật hữu ích để nhà trị liệu tự nhắc nhở bản thân về cách thức ta được nhận biết từ cái nhìn ở chiếc ghế bên kia.
(Trên sàn nhảy của Hiệp hội Ung thư Hoa Kỳ mang tên "Tụng Ca Đời Sống")
Ngẫm nghĩ về cái chết không có gì khủng khiếp hay không lành mạnh.[Rinpoche, Sogyal. (2006). Mỗi ngày trầm tư về sinh tử. Thế Hùng chuyển ngữ. Hà Nội: Nxb. Tôn giáo, tr.98]
Tại sao không suy ngẫm cái chết khi bạn thật sự hứng khởi, thư giãn và thoải mái, lúc nằm trên giường, hay đang nghỉ việc, hoặc đang nghe bản nhạc đặc biệt làm bạn vui thích?
Tại sao không suy ngẫm về cái chết khi bạn hạnh phúc, dồi dào sức khỏe, tự tin và thịnh vượng?
Bạn không nhận thấy rằng có những khoảnh khắc đặc biệt bạn tự nhiên muốn xem xét nội tâm sao?
Hãy dịu dàng làm việc với chúng, vì đây là những khoảnh khắc bạn có thể trải qua một kinh nghiệm rất có tác động, và toàn bộ thế giới quan của bạn có thể thay đổi nhanh chóng.
Đây là những khoảnh khắc mà niềm tin cũ tự tan thành mây khói, còn bạn có thể thấy chính mình đang được chuyển hóa.
Phân loại: Đời sống, Hôn nhân-gia đình, Quan hệ, Sức khỏe tâm thần, Tâm linh
Có lẽ, chẳng ai chưa từng một lần trải nghiệm cái khoảnh khắc định nói, sắp nghĩ ra lời thích hợp ấy...
Vào dịp cuối năm 1988, một nhân viên bán phụ tùng phần cứng máy tính 41 tuổi phàn nàn với bác sĩ tư về điều kỳ cục.Bài báo đăng trên Boston.com kể về hiện tượng quen thuộc khi ta rõ ràng hiểu biết điều gì đó mà chẳng thể mang nó lên trên bình diện tâm trí được, giải thích cho ta về cách thức bộ não và tâm trí làm việc.
Rằng, dù anh ta có thể nhận ra mọi người, rồi nhớ tất cả các loại thông tin về họ song anh ta vẫn không thể gọi tên họ nổi. Anh ta đang dần mất đi khả năng ghi nhớ danh tính bất cứ người nào, ngay cả tên các bồ tèo thân thiết và thành viên gần gũi trong gia đình. Phải gắng sức lắm anh ta mới ám chỉ được vợ mình là "vợ".
Vài tháng trước đó, người đàn ông được dữ liệu khoa học biết dưới cái tên 'LS', gặp sự cố nặng nề.
Văng khỏi ngựa, phần sọ trái của anh ta bị va đập mạnh. Thoạt tiên, có vẻ anh ta vẫn còn may mắn chán. Các biện pháp thăm khám thông thường đã chẳng phát hiện thấy bất cứ bất ổn đáng lo nào.
Song, giờ đây có vẻ anh ta mắc vào dạng đặc biệt của chứng mất trí nhớ (amnesia) đến độ cứ liên tục mấp máy môi tên tuổi mọi người. Thật là thống khổ.
Thực tế, đó quả là một trải nghiệm đầy nghịch lý: ta biết điều gì đó, song lại chẳng thể nhớ nổi.
Câu chuyện thú vị trên còn nói tới sự lưu giữ thông tin và khả năng truy cập thông tin là hai việc khác biệt hẳn nhau ở trong não; rằng, bộ não cần có những cách thức để tầm soát chính nó và truyền thông thật tốt sao cho nó thực hiện ổn thỏa các thao tác đến với tâm trí vô thức và hữu thức.
Vấn đề này gợi nhắc ngay tới metacognition (hiểu biết các tiến trình nhận thức của bản thân và sử dụng hiệu quả sự tự nhận thức này để chính mình điều chỉnh các tiến trình đấy) -- một trong các khái niệm cơ bản của tâm lý học hiện đại.
Những nghiên cứu được trình bày trong bài báo khởi từ phòng thí nghiệm cũng như minh họa các đối tượng bị tổn thương não phải chịu đớn đau hầu như thường trực trạng thái mấp máy môi.
Đọc bài báo trên khiến tôi liên tưởng: chỉ vừa mới chiều qua thôi, đúng là mình không thể nhớ ra tên cái test vừa làm vào hai ngày trước đó với một cậu bé học trường thực nghiệm.
Điều khiến tôi cảm thấy vui vui là trong khi vẫn tiếp tục kể cho một đồng nghiệp nghe thêm các chi tiết hấp dẫn khác liên quan đến câu chuyện, tôi nhận thấy mình tuyệt không cố nhớ tí gì và thong thả tin tưởng sẽ tới lúc tên của test sẽ bật lên môi.
Vâng, ông trời dường như đã động lòng trước sự nhẫn nhịn dài lâu của tôi nên rốt cục phải nhẹ nhàng bật mí cho tôi vào vài ba giây cuối khi sắp kết thúc toàn bộ câu chuyện: test Raven.
Xem chừng, trải nghiệm như thế ít nhiều cũ mèm và chẳng ý vị gì lắm với tha nhân, song với cá nhân ta nó thật sống động và đầy ý nghĩa.
Nếu bạn đọc có trải nghiệm đáng nhớ nào về hiện tượng khá thú vị rất khó quên này, xin hãy thoải mái chia sẻ.


Xe bus tuyến số 32 sau 22h, xuất phát từ bến xe Giáp Bát cứ lượn lờ vòng vèo hết phố này đến đường nọ, mãi rồi mới chịu chạy qua công viên trước Cột Cờ- Trần Phú.
Vì đường xa ướt mưa-- thề độc là chẳng hề dính líu tí tẹo tèo teo nào với ca từ rủ rê yêu đương trai gái-- làm cảm giác đứng đợi một, hai chuyến cuối nữa thôi trong ngày thêm phần xa cách và bình lặng.
Bởi mỗi cá nhân ta đang ở đây, nơi này, với mưa giăng thành màn che mờ ngọn đèn cao áp trên cao kia, và một cặp dựng xe chờ tạnh tranh thủ tay chân siết nhau sờ sờ bên cạnh.
Vì đường xa ướt mưa, hai người đàn bà te tái gánh đồ lề bán chè chén, thuốc kẹo ngao ngán rảo bước qua nhanh nhanh về mái nhà chốn phù du nao chẳng rõ.
Đường xa ướt mưa, lá cây được gột rửa âm thầm hoán chuyển tâm trạng từ đợi mong vu vơ thành xôn xao buộc ràng địa chỉ.
Và gió, rỗi việc nói với người lãn công về một tương lai còn nhiều khó khăn chồng chất song thật đáng gieo mầm sự sống bời bời.
Vì đường xa ướt mưa, cậu bé vừa chạm ngưỡng dậy thì tuy mắc Tự kỷ lâu lắc giờ đây cũng đã tìm ra cách thức để giao tiếp với đời trong căn bếp nhỏ.
(Màu sắc, mùi vị, tiến trình chuẩn bị vật phẩm, tuần tự các công đoạn nấu nướng cứ khơi gợi ham muốn giao tiếp, dù ú ớ bao lần khi cố gắng bật thành lời muốn nói.)
Vì đường xa ướt mưa, cô nữ sinh viên ấy kiên nhẫn lắng nghe, học hỏi thế giới nội tâm ngổn ngang trăm mối để thỏa nỗi niềm riêng tây thách thức bản thân đổi thay, trước cơ hội nhận ra lý do khiến mọi việc xảy đến:
1. Để giúp ta cảm thấy thoải mái, tự nhiên như ở nhà trong thế giới nàyVì đường xa ướt mưa, bệnh nhân Tâm thần phân liệt cứ ám ảnh phân vân con thuyền neo bến nước trong film Thủy Hử có giữ mãi được vẻ khô ráo dù ngập chìm cùng nghịch cảnh tai ương.
2. Để rốt cục giúp ta chấp nhận chính con người mình
3. Để chỉ cho ta thấy rằng ta có thể rời xa sự sợ hãi
4. Để mang ta đến nơi chốn mà ta có thể được thứ tha
5. Để giúp ta vén lộ dần tài năng bấy lâu ẩn kín
6. Để cho ta những gì cần thiết đặng tìm thấy tình yêu đích thực
7. Để nâng đỡ ta mạnh mẽ, vững vàng hơn
8. Để giúp ta khám phá chuyện đùa vui với đời
9. Để hiển thị cho ta hiểu phải sống ra sao thì phù hợp ý thức về sứ mệnh của bản thân
10. Để giúp ta trở thành một con người thiện lành thích đáng.
Ai đó bảo: tuổi trẻ đến muộn là tuổi trẻ chung đụng dài lâu; chưa bao giờ tôi lại dịu dàng tin thế, ít nhất vì đường xa ướt mưa...
Phân loại: Học vấn, Hôn nhân-gia đình, IQ, Khái niệm cái tôi, Kỹ năng sống, Phụ nữ, Rối nhiễu, Sức khỏe tâm thần, Tâm linh, Trẻ em

Khi nói tới nhân cách, đa phần các nhà tâm lý học thuận theo định nghĩa "các mẫu hình liên quan thật sâu xa, bền bỉ của những suy tư, cảm xúc và hành vi phân biệt người ta với nhau".
Suốt thời gian dài, các lý thuyết gia cho rằng nhân cách không hề thay đổi dưới bất cứ phương thức ý nghĩa nào, một khi cá nhân đạt tới độ tuổi trưởng thành.
Tuy thế, nghiên cứu gần đây khuyến nghị: nhân cách thay đổi chẳng những ở độ tuổi trưởng thành mà còn cả ở tuổi già nữa.
Hai nhà tâm lý học Brent Roberts & Daniel Mroczek tiến hành xem xét lại tài liệu phản ánh cách chúng ta thay đổi ra sao khi trưởng thành.
Người trung niên dường như đạt điểm số nhất quán cao hơn so với người trưởng thành trẻ ở sự hài lòng, thỏa thuận và sống có lương tâm, chu đáo; song họ lại thấp điểm với chuyện lý giải sự việc ít nhiều vượt trội, phản ứng cảm xúc vững vàng và cởi mở.
Xem ra, sự thay đổi tính hài lòng, thỏa thuận diễn ra ấn tượng nhất khi lớn tuổi hơn, và đáng chú ý sau 50.
Điều cốt yếu cần nhớ, những sự thay đổi nhìn chung xảy đến trong nhân cách với hầu hết người có tuổi là họ dần trở nên niềm nở thân thiện, tự tin, trách nhiệm và bình thản hơn.
Thức nhận rằng nhân cách đổi thay theo suốt tháng năm đời mình thực sự tạo nên nhiều hàm ý lớn lao với mỗi một chúng ta. Không những chỉ quan tâm thay đổi luôn có khả năng diễn ra mà còn cần hiểu biết cách thức diễn ra sự đổi thay nữa.
Với tư cách là một khoa học, tâm lý học phải cung cấp tốt hơn hiểu biết về các trải nghiệm phát triển thực sự tác động tích cực tới nhân cách.
Đã có một vài nghiên cứu cho thấy một mối quan hệ mang tính cam kết thì gắn bó chặt chẽ với các nét nhân cách tích cực như sự nồng nhiệt và vững vàng cảm xúc.
Dưới góc độ cá nhân, thông tin này xác quyết khả năng thay đổi và mỗi ngày chúng ta có thể đưa ra các quyết định giúp bản thân mình hướng tới một con người tốt đẹp hơn.
May mắn thay, tâm lý học cũng có nghiên cứu tỏ lộ nền tảng sinh học của lối suy nghĩ tích cực, cho thấy làm thế nào mà một nhân sinh quan tràn đầy hy vọng lại có thể tác động tích cực tới sức khỏe.
Con người chúng ta vốn là giống loài tích cực mà. Thực tế, các nhà tâm lý học đã thiết lập từ lâu rồi rằng con người ta có xu hướng tích cực một cách không thật hợp lý.
'Định kiến lạc quan'-- như tên gọi-- giải thích sự kiện là chúng ta mong mỏi sống thọ hơn và thành đạt hơn, cũng như khuynh hướng ước tính quá thấp những thứ như bệnh tật hiểm nghèo và ly dị.
Mang bản chất thích nghi, xu thế vừa nêu-- theo tuyên bố của nhiều nhà nghiên cứu-- là quan điểm tích cực thôi thúc chúng ta lập kế hoạch cho tương lai và thậm chí, gây hiệu quả về lâu về dài với sức khỏe thể lý của chúng ta.
Nghiên cứu đăng trên tạp chí Newsweek vừa dẫn đẩy ý tưởng đi xa hơn, rằng cái nhìn lạc quan là một nét nhân cách dựa trên nền tảng thần kinh sâu sắc: khi chụp quét, bộ não của người lạc quan thực sự lóe sáng hoàn toàn khác biệt so với số đối tượng bi quan hơn khi họ nghĩ về các sự kiện tương lai.
Và giờ là lúc thích hợp để trình bày về người lớn tuổi.
Bài báo mô tả các nghiên cứu khẳng định rằng so với nhóm bạn trẻ thì ở người lớn tuổi, sự chú ý trải rộng ra nhiều; chính khả năng này khiến cho người lớn tuổi biết hết sức chính xác hơn hẳn bạn trẻ về một tình huống và thông điệp gián tiếp.
Chẳng hạn, người lớn tuổi phải dành thời gian nhiều hơn để đọc các thông điệp bị làm ngắt quãng bởi những cụm từ ngữ không ngờ nổi, song chính họ lại dễ dàng thành công hơn trong việc buộc phải trả lời các câu hỏi nằm - ngoài - câu - chữ.
Với đời sống thực, điều đó đem lại nhiều thuận lợi cho người lớn tuổi-- nơi mà thông tin rõ ràng không phải luôn luôn được xem là quan trọng hoặc sẽ trở nên quan trọng.
Có lẽ, ý nghĩ thông thường rằng người lớn tuổi thì khôn ngoan hơn xuất phát từ chuyện đối tượng lớn tuổi nắm giữ nhiều thông tin từ một tình huống, và họ có khả năng nối kết nó-- một cách so sánh-- với lượng thông tin phổ quát lớn hơn đã tích lũy được.
Cơ thể bị nhiễm độc mấy hôm nay bởi nắng nóng, và vì lâu lắm mới mở máy quạt, cộng với chầu nhậu nhẹt, hát hò đàn đúm bạn bè tối qua đã khiến tôi khàn hẳn giọng, chẳng cất nổi nên lời.
Ngoài chuyện ngậm nước muối nhiều lần hơn trong ngày, có lẽ đây cũng là dịp thú vị để xem xét phải chăng bệnh thể lý (xuất phát từ nguyên nhân thực thể) gây nên bệnh tâm thần?
Ngành Tâm thần học và Y khoa có một mối liên kết tinh tế.
Bệnh tâm thần và bệnh thể lý có thể xảy đến cùng lúc thật tình cờ, hoặc bệnh thể lý có thể là nguyên nhân tạo ra các triệu chứng tâm thần, và ngược lại. Thuốc điều trị bệnh tâm thần cũng có nhiều tác dụng phụ.
Thường khi bệnh nhân nhập viện với các vấn đề tâm thần, thì giới chuyên môn sẽ đề nghị một cuộc thăm khám toàn diện, bao gồm cả tìm kiếm nguyên nhân thể lý của vấn đề.
Thực tế, còn không ít nhà tâm thần học tỏ vẻ chê bai điều này, song tình hình ngày càng dần ổn thỏa hơn; đặc biệt, bệnh nhân thường được đề nghị thử các xét nghiệm máu và chụp CT, nếu biểu hiện bệnh chẳng mang tính điển hình.
Trầm cảm làm nảy sinh một loạt tác nhân thể lý: ung thư, nhiễm khuẩn, các rối loạn thần kinh như mất trí nhớ ở người già (dementia), đái tháo đường, bệnh tuyến giáp, bệnh Addisons (liên quan đến tuyến thượng thận), và bệnh luput ban đỏ toàn thân.
Chỉ cần mắc một trong các bệnh này đã có thể là nguyên nhân khiến ta trầm cảm, vì chúng có thể làm mất chức năng trọng yếu.
Có một câu chuyện kể về việc chẩn đoán chậm trễ sự chuyển hóa ung thư vú do lúng túng từ trầm cảm.
Lo lắng cũng tạo nên lắm lý do thực thể: cường tuyến giáp, tăng thông khí phổi (chứng thở sâu nhanh), u tế bào ưa crôm, các rối loạn thần kinh và chứng thu mình do sử dụng thuốc.
Cuối cùng, loạn thần có thể được khởi phát bởi nguyên nhân thực thể và chúng bao gồm các trạng thái thần kinh (ví dụ, động kinh hoặc đột quỵ), các trạng thái chuyển hóa (ví dụ, loạn chuyển hóa pocphirin), các trạng thái nội tiết (ví dụ, tăng hoặc giảm năng tuyến giáp), thận hư, mất cân bằng chất điện phân (đặc biệt là canxi), hoặc các rối loạn tự miễn dịch.
...Wow, tôi nghĩ phải dừng liệt kê danh sách bệnh tật ở đây để ưu tiên chăm sóc chu đáo cho cái họng của mình đã.
Phân loại: Rối nhiễu, Sức khỏe tâm thần, Tâm bệnh học, Tâm lý học Lâm sàng
(Michael Roach and Christie McNally đã thề nguyền rằng cả hai không quan hệ tình dục và chẳng bao giờ xa cách nhau ngoài vòng 4,5m)
Một câu chuyện quá nhạy cảm, đầy thách thức và cực kỳ khác biệt, nên chắc chắn khó tránh điều thị phi.... Họ sống mối tình gắn bó này không quan hệ tình dục. Như họ mô tả, đó là sự thực hành Phật giáo ở mức độ cao nhằm đương đầu, đối trị với những biểu hiện bất toàn của chính họ và từ đó, học hỏi để phục vụ chúng sinh tốt hơn.
"Nó thúc ép bạn xử lý các cảm xúc của bản thân đến độ mà bạn không thể tuyên bố rằng "Tôi sẽ nghỉ tí chút"-- nhà sư Roach, 55 tuổi, cũng tu tập theo truyền thống Phật giáo Tây tạng giống như đức Dalai Lama vậy.
1983, sau khi phát nguyện xuất gia, Roach theo học các khóa huấn luyện tại một tu viện Phật giáo trong 20 năm, và là một trong rất hiếm hoi người phương Tây giành được danh xưng Geshe-- tương tự bằng cấp Tiến sĩ tôn giáo học. "Bạn trải qua các khuôn mặt khác nhau của tha nhân 24 giờ mỗi ngày. Bạn phải giải quyết vấn đề giận dữ và ghen tuông của bản thân."
Nữ tu McNally nói: "Từ góc nhìn của đạo Phật, chuyện đó giúp lắng lọc, thanh tẩy tâm trí của chính bạn". 35 tuổi, nữ tu McNally đạt tới danh xưng Lama, hoặc sư phụ, một sự vinh danh mà thứ bậc truyền thống Tây tạng không hề ban tặng đối với phụ nữ.
Vài thông tin bổ sung, nếu bạn muốn quan tâm đến họ kỹ càng và nghiêm túc hơn: đây, đây, đây, đây và đây.
Blog Cái tôi từng trích dẫn tác phẩm Năng Đoạn Kim Cương của Michael Roach.
Xét theo một nghĩa, mọi sự đều mộng ảo và hão huyền, nhưng dù vậy, bạn tiếp tục làm với thái độ hài hước.[Rinpoche, Sogyal. (2006). Mỗi ngày trầm tư về sinh tử. Thế Hùng chuyển ngữ, Hà Nội: Nxb. Tôn giáo, tr. 89].
Chẳng hạn, nếu bạn đang đi dạo thì không cần phải trang trọng hay e dè mà, hãy thảnh thơi đi hướng tới khoảng trống khoáng đạt chân lý.
Khi ngồi, bạn hãy là thành trì của chân lý.
Khi ăn, bạn hãy cho những thói tiêu cực và ảo tưởng của bạn vào cái bụng của chân không.
Và khi đi cầu, hãy coi như tất cả những u mê ám chướng đều được rửa sạch và bị cuốn đi.
Phân loại: Hạnh phúc, Kỹ năng sống, Sức khỏe tâm thần, Tâm linh, Tơ tưởng J.
1. Trước tiên cần đánh giá về mặt tâm lý: nhận thấy rằng ta không lười biếng; chợp mắt tí chút sẽ giúp mình năng sản và tỉnh táo hơn khi thức dậy.Đọc mấy cái vụ mẹo vặt ngủ nghỉ này, thấy mình ngáp ngắn ngáp dài đủ để nhanh nhanh chóng chóng kết thúc bài vở...
2. Nên gắng chợp mắt vào buổi sáng hoặc ngay sau bữa ăn trưa; các nhịp sinh học trong ngày làm ta dễ gật gà gật gưỡng (giấc ngủ chậm)- vào khoảng thời gian chiều muộn- sẽ khiến ta chệnh choạng.
3. Tránh dùng café và thức ăn chứa nhiều chất béo và đường đầy bụng, quấy quả việc thiếp đi.
4. Thay vào đấy, một hoặc hai tiếng đồng hồ trước lúc chợp mắt, thử ăn các đồ lắm đạm và can-xi có thể dụ dỗ ta đi nằm.
5. Tìm một nơi sạch sẽ, thoáng mát, vắng người qua lại, và tắt điện thoại di động.
6. Chỗ nghỉ ngơi cần đen rợp, hoặc dùng miếng băng che mắt. Bóng tối kích thích sinh trưởng hormone gây ngủ melatonin.
7. Nhớ cho là thân nhiệt chúng ta tụt xuống khi ngủ. Tăng nhiệt độ phòng ốc hoặc sử dụng chăn, mền.
8. Đặt chế độ nhắc nhở về khoảng thời gian như ý, một khi thấy mình thư giãn và sẵn sàng thoải mái chợp mắt ngay liền.
Phân loại: Giấc ngủ, Kỹ năng sống, Sức khỏe tâm thần, Tâm lý học Phát triển
Trái ngược với lắm thứ ta hằng tin tưởng, những khoảnh khắc tựa như thế này- những khoảnh khắc tuyệt vời nhất trong đời mình- không phải là khoảng thời gian thụ động, bén nhạy, buông chùng; dù rằng những trải nghiệm ấy có thể xứng được vui hưởng, bởi chúng ta từng phải lao động cực nhọc mới đạt đến chúng nổi.[Mihály Csíkszentmihályi. (1990). Flow: The Psychology of Optimal Experience, p.3].
Những khoảnh khắc tuyệt vời nhất thường hay xảy ra khi cơ thể hoặc tâm trí ta đã vươn căng tới hết giới hạn của nó, trong một nỗ lực tự nguyện nhằm thành tựu điều gì đó thực khó khăn và đáng giá.
Mời đọc thêm về dòng chảy của sự lưu loát (flow), nếu thấy hứng thú.
(nichd.nih.gov)
Theo bài báo trên tờ Sciencedaily, có mối liên quan giữa bệnh tâm thần của bố mẹ và hội chứng tự kỷ ở trẻ.
Nghiên cứu xem xét các báo cáo tại bệnh viện Thụy Điển trẻ em sinh từ 1977 tới 2003 được chẩn đoán là tự kỷ, và so sánh số đối tượng này với những trẻ không mắc.
Sau đó, nhóm nghiên cứu khảo sát tỷ lệ nhập viện vì các bệnh tâm thần của bố mẹ thuộc cả hai nhóm.
Sẽ không thừa, khi lưu ý rằng, một sự gắn bó không phải là liên quan mang tính nhân quả, và nghiên cứu nêu trên không khẳng định bố mẹ tâm thần nên con bị tự kỷ.
Hiểu thấu đáo chuyện tự kỷ có thể chiếm ưu thế cao hơn trong những gia đình mang tiền sử về bệnh tâm thần; bất luận mối liên quan tới môi trường (ví dụ, thông qua môi trường nuôi dạy trẻ trong gia đình) hoặc bởi di truyền, hay cả hai; suy cho cùng, tất cả đều góp phần giúp chúng ta biết cách nỗ lực ngăn ngừa cũng như chăm chữa cho trẻ tốt hơn.
Phân loại: Hôn nhân-gia đình, Nghiên cứu, Phương pháp luận, Sức khỏe tâm thần, Tâm bệnh học, Trẻ em, Truyền thông, Tự kỷ
(Học viện Nam Thanh niên California quá tải đến độ phải tận dụng cả phòng tập thể dục để làm chỗ ngủ)Hơn 93% nam, nữ tù nhân đáp ứng các tiêu chí của ít nhất một rối loạn tâm thần suốt đời, và gần 2/3 đối tượng được hỏi từng có từ 3 rối loạn tâm thần trở lên- theo báo cáo mới đây của Đại học Iowa (Hoa Kỳ).
Tôi chưa bao giờ hình dung các con số lại lớn đến thế, dù biết rằng có khá nhiều người sống trong các nhà tù, trại giam bị mắc các bệnh tâm thần hơn so với bệnh viện tâm thần.
Các rối loạn thường gặp là lạm dụng và phụ thuộc chất (90%), rồi đến các rối loạn khí sắc như trầm cảm, rối loạn loạn thần, rối loạn nhân cách chống đối xã hội; các rối loạn lo âu thì thấy có hoảng loạn và rối loạn tăng động giảm chú ý.
Thậm chí, thật khó nghĩ nổi là trong 93% số đối tượng trên, riêng ở Iowa đã chiếm tới 60%.
Đọc phần còn lại của bài báo tựa như việc ngồi xem một pha biểu diễn chậm chạp.
Bên cạnh đó, không những ấn tượng với số lượng người tại một thời điểm trong đời bị mắc bệnh tâm thần, mà thống kê tình hình ở tù còn khiến tôi choáng thêm nữa.[...] việc sắp xếp, định vị thể hiện rõ ràng qua các tỷ lệ so sánh cụ thể.
Cần lưu ý là Hoa Kỳ chỉ chiếm chưa tới 5% dân số toàn thế giới.
Cứ với mỗi cỡ mẫu dân số 100.000 thì có 751 người ở tù hoặc trại giam (nếu chỉ tiếng riêng đối tượng trưởng thành, thì 1/ 100 công dân Hoa Kỳ phải xộ khám).
Nhìn sang các nước công nghiệp phát triển chính: Nga- 627/ 100.000 người, Anh quốc- 151, Đức- 88 và Nhật Bản- 63.
Trung bình tất cả các nước chiếm chừng 125, xấp xỉ 1/6 so với tỷ lệ người xộ khám ở Hoa Kỳ.
Và điều thú vị trong danh sách gồm 218 quốc gia được lập hồ sơ là San Marino- dân số khoảng 30.000 người- đứng cuối cùng: đất nước này chỉ có một nhà tù duy nhất.
Ngoài ra, cũng xin nêu một vài con số khác:
- Tỷ lệ tội phạm giết người ở Hoa Kỳ gấp 4 lần các nước Tây Âu.
- Thực tế, tỷ lệ trộm cắp, cướp giật (tội phạm không bạo lực) tại Hoa Kỳ thấp hơn hẳn so với Úc, Canada và Anh.
Song, thời gian ngồi bóc lịch trong nhà đá ở Hoa Kỳ dành cho tội trộm cắp lại cao hơn (16 tháng) so với Canada (5 tháng) và Anh (7 tháng).
- Nỗ lực đấu tranh với loại tội phạm ma túy bất hợp pháp khiến số đối tượng có liên quan ở Hoa Kỳ bị bắt giam, ngồi tù từ 40.000 (1980) tăng lên 500.000.
- Ở đây cung cấp thông tin chưa cập nhật về tội phạm ở Việt Nam.

Để có được một bức ảnh ghi dấu quan hệ hạnh phúc dài lâu mãi mãi, không nhất thiết phải thúc giục nhau tuyên bố "Konica" mà cần thành tâm nói lời "Xin lỗi"!
Nghiên cứu khẳng định nói lời xin lỗi là chìa khóa để giữ gìn lâu dài mối quan hệ hôn nhân.
Thực tế, một số người dường như chẳng bao giờ ngừng nói lời xin lỗi (xin lỗi, bạn biết họ là những ai mà!).
Có khả năng thể hiện lòng ân hận, biết lỗi sẽ giúp chúng ta dễ dàng hơn trong việc hưởng thụ niềm vui cũng như gìn giữ mối quan hệ thêm dài lâu như ý.
Qua dữ liệu 7.590 công dân Hoa Kỳ ở độ tuổi trưởng thành, đã phát hiện ra rằng người có gia đình hạnh phúc hơn thường hay đủ khả năng và ước muốn xin lỗi đối tượng cao gấp 2 lần so với những ai đã ly dị hoặc sống đời độc thân.
Cuộc điều tra cho thấy, 25% người có gia đình hạnh phúc thường là đối tượng đầu tiên nói lời xin lỗi, ngay cả khi họ cảm thấy bản thân chỉ đáng trách phần nào.
Những người đã ly dị hoặc sống độc thân nghiêng theo hướng chấp nhận ở một mình thì lại cảm thấy khó khăn hơn khi nói lời xin lỗi và thể hiện các cử chỉ, hành động mang tính thỏa ước, nhường nhịn.
Không chừng, chính khả năng biết nói lời xin lỗi với người khác đã giúp cho đôi vợ chồng ở nước Anh duy trì hôn nhân tới 80 năm.
Bà Florence, 100 tuổi, chia sẻ rằng đừng e ngại khi nói lời "xin lỗi"; còn ông Percy, 105 tuổi, thì 'bật mí' bí quyết chỉ trong hai từ "vâng, em yêu!".
Nhân tiện, khuynh hướng là chúng ta trở nên hạnh phúc hơn khi có tuổi (VnExpress lược dịch).
Tuổi tác phản ánh hạnh phúc theo nhiều cách khác nhau. Sự chín chắn, trưởng thành cho phép chúng ta đánh giá đúng đắn hơn các mặt mạnh, yếu của bản thân, trong khi trải nghiệm lại hỗ trợ chúng ta đối phó hiệu quả hơn với sự căng thẳng tinh thần (stress).
Và nếu nghiên cứu vừa nêu xem chừng đối nghịch với quan điểm thông thường nhìn người già như những cá nhân ốm yếu, buồn bã đang phải đương đầu với bệnh tật, người thân tạ thế thì một nghiên cứu khác minh họa nhận thức ấy là khiên cưỡng.
Theo đó, người lớn tuổi trải nghiệm ngày càng nhiều tình trạng mong manh và mất mát; họ đối phó với những khó khăn này bằng cách tham gia vào các họat động xã hội.
Những người trong độ tuổi 70-80 ngày càng thích tham gia làm công quả tôn giáo, tình nguyện viên, và sử dụng thời gian mang tính xã hội hóa với hàng xóm láng giềng-- so với thời kỳ họ mới 40-50 tuổi. Tăng cường kết nối với cộng đồng xã hội khiến người lớn tuổi thêm phần hạnh phúc.
Điều quan trọng cũng cần nhớ, dù hạnh phúc tăng theo năm tháng sống trên trần gian thì người lớn tuổi không hề miễn nhiễm với các vấn đề sức khỏe tâm thần. Trầm cảm thường thấy ở người già; các đối tượng lớn tuổi cũng dễ qua đời bởi tự tử.
Rối nhiễu tâm thần không phải là một phần tất yếu của tuổi già. Người lớn tuổi hơn thường trở thành các thành viên năng động và tích cực, và khi thời gian trôi qua, họ có thể trải nghiệm thêm nhiều hạnh phúc.
Cùng với sự bao dung, người lớn tuổi dễ tha thứ lầm lạc của tha nhân và chẳng khó khăn lắm khi nói lời xin lỗi.
Phân loại: Giới tính, Hạnh phúc, Hôn nhân-gia đình, Kỹ năng sống, Quan hệ, Sức khỏe tâm thần, Tâm lý học Phát triển

Với tựa đề thật ấn tượng, bài báo đăng trên tờ Psychology News Today cho rằng, tranh thủ chợp mắt nghỉ ngơi tí chút vào buổi trưa sẽ nâng cao khả năng nhận thức và góp phần làm cho công ty thêm phần năng sản.
Ngoài ra, một giấc ngủ ngắn ban trưa còn đóng vai trò quan trọng trong chuyện cải thiện tâm trạng.
Bài báo ghi nhận một công ty mang tên MetroNaps chuyên hưởng lợi nhờ việc chợp mắt nghỉ trưa tại bất kỳ công sở nào.
Cá nhân tôi thường tranh thủ ngủ gà gật chừng hơn nửa tiếng đồng hồ.
MetroNaps đề xuất các dịch vụ nhằm "giảm nhẹ sự mệt mỏi" cho tất cả các công ty lớn, bé; bao gồm các đánh giá về giấc ngủ (trắc nghiệm và phỏng vấn để xem công nhân có thiếu ngủ không và chuyện đó tác động tới công việc của họ như thế nào), sau đó cung ứng những chiếc ghế ngủ hướng tới tương lai mang tên EnergyPod.
Tổng hành dinh của công ty còn có một nơi ẩn dật tĩnh tâm đặt tại tòa nhà Empire State Building (New York) dành cho các khách hàng muốn ngủ suốt cả ngày.
Cụ thể, xuất phát lúc hơn một giờ chiều trên chiếc xe bus số 22 (Viện 103- Gia Lâm), để rồi xuống bến Công viên ở phố Hoàng Diệu tranh thủ nghó nghiêng tí chút Cột Cờ và tượng đài Lenin nắm vạt áo (dân gian hay gọi là "tượng ông móc túi"); sau đó, gà gật tiếp trên xe bus số 50 (Sân Vận động Quốc gia Mỹ Đình- Long Biên) qua Đài Tưởng niệm Liệt sĩ, phố Quán Thánh, vòng theo đường Thanh Niên hai bên Hồ Tây và Hồ Trúc Bạch gió thổi lồng lộng mà ra đê Yên Phụ...Thật tình, cho dù sáng hay tối, hễ bất cứ lúc nào lên xe bus là tôi tranh thủ chợp mắt định thần; tự thấy, thói quen này giúp tôi luôn tỉnh táo và tập trung lắng nghe cao độ khi vào ca trị liệu, lại tránh được cảm giác căng thẳng vì kẹt xe-- điều xảy ra hàng ngày như cơm bữa tại Hà Nội.
Phân loại: Giấc ngủ, Kỹ năng sống, Não-Thần kinh, Stress, Sức khỏe tâm thần, Tâm lý học Quản lý

Đó là nhà Tâm lý học Xã hội thuộc trường Harvard Daniel Gilbert, tác giả cuốn sách được giải thưởng năm 2007 Stumbling on Happiness (Trượt ngã vào hạnh phúc).Hỏi: Làm thế nào mà điều đó lại liên quan với hiểu biết về hạnh phúc?
Đọc bài phỏng vấn trên, tôi cảm thấy không phải ai cũng để ý rằng, chuyên gia nghiên cứu về hạnh phúc là người từng phải chịu đựng lắm đau khổ trong đời.
Đáp: Vì nếu chúng ta không thể dự đoán mình phản ứng thế nào trong tương lai, chúng ta không thể đặt để mục tiêu thực tế cho chính bản thân hoặc biết cách để có được hạnh phúc.
Điều dễ nhận thấy qua nghiên cứu là người ta chẳng có khả năng dự đoán những gì sẽ khiến mình hạnh phúc- hoặc bất hạnh. Thật khó tìm thấy hạnh phúc, nếu bạn cũng không biết gì về tương lai tựa như bao người khác.
Sự thật là những chuyện tồi tệ không hề tác động ghê gớm như chúng ta tưởng đâu; cả những chuyện hay ho cũng vậy. Chúng ta cực kỳ dễ thích ứng với mọi thứ.
Cho nên, liều mạng xông tới nào có khốn khổ như ta vẫn nghĩ, còn trúng số độc đáo lại chưa chắc sung sướng như mình mong đợi.
Hỏi: Ý ông là người ta hạnh phúc, bất kể chuyện gì xảy đến với họ?
Đáp: Đời sống dẫu có thế nào đi nữa thì chúng ta cứ hướng theo lối vui tươi nhất định-- một đặc trưng thuộc giống loài.
Giả sử với thang đo 0- 100, thì thường thường người ta cho hạnh phúc của mình ở mức 75. Chúng ta gắng sức tiến tới mức 100; đôi khi, chúng ta đạt tới, song chẳng ở đó mãi.
Đoan chắc là chúng ta sợ hãi sự đời khiến chúng ta bị rớt xuống mức 20 hoặc 10-- người thân yêu qua đời, kết thúc một mối quan hệ gắn bó, sức khỏe trục trặc trầm trọng.
Và rồi khi những điều ấy xảy ra, hầu hết chúng ta sẽ lại trở về trạng thái xúc cảm nền tảng nhanh hơn rất nhiều so với dự đoán.
Con người chóng thích nghi một cách nhiệt liệt.
......
Hỏi: Là tác giả cuốn sách viết về hạnh phúc bán rất chạy, ông có lời khuyên nào giúp mọi người có được hạnh phúc không?
Đáp: Tôi không phải là Tiến sĩ Phil [vị tiến sĩ tâm lý đảm trách show diễn truyền hình nổi tiếng tại Hoa Kỳ, hay đưa ra các lời khuyên dí dỏm].
Dự đoán tốt nhất về hạnh phúc là các mối quan hệ và thời gian người ta dành cho gia đình, bạn bè.
Điều đó đáng giá hơn tiền bạc; ở một mức độ, nó còn quan trọng hơn cả sức khỏe. Đó là những gì mà dữ liệu nghiên cứu chỉ ra.
Điều thú vị, người ta sẵn sàng hy sinh các mối quan hệ xã hội để có được nhiều thứ chẳng làm cho họ hạnh phúc- tiền bạc chẳng hạn. Đấy là lý do tại sao tôi khuyến cáo mọi người nên "khôn ngoan mua sắm hạnh phúc".
Một điều nữa, mọi người vốn vui sướng khi trải nghiệm, hơn là nhờ có được thứ này thứ nọ.
Nên nếu bạn có từng này tiền đủ để làm chuyến đi nghỉ dưỡng, ghé nhà hàng hoặc vào rạp chiếu bóng, nó sẽ khiến bạn hạnh phúc hơn là có một hàng hóa, đồ vật bền lâu; lý do: trải nghiệm thì hướng tới việc chia sẻ cùng người khác, còn các đồ vật thì không thế.
Và nếu hiện tại bạn không cảm thấy hạnh phúc, thì đây là một tham khảo đúng lúc.
Phân loại: Hài hước, Hạnh phúc, Nghiên cứu, Quan hệ, Sức khỏe tâm thần, Tâm lý học Phát triển, Tâm lý học Xã hội

Tham vọng bình thường của kiếp người là kéo dài mãi mãi những tháng năm sống ung dung, sung sướng.
Chẳng mấy chúng sinh trên cõi ta bà này thực lòng muốn chết.
Dẫu lên gân tự nhủ bao lần, đa phần nhân quần tránh sao nổi trạng thái tê cứng với thoáng suy tư chợt phủ chụp tối sầm mọi thứ rằng: chỉ là vấn đề thời gian, cái khoảnh khắc đón đợi gọi tên tất yếu phải đến ấy.
Theo nghiên cứu của Roy Baumeister và Nathan DeWall, chúng ta có một hệ thống miễn dịch tâm lý nội tại vận hành không mệt mỏi bên dưới bề mặt nhận thức; chính hệ thống này hướng tâm trí chúng ta tới một kênh tích cực hơn vào bất kể lúc nào chúng ta nghĩ về cái chết.
Các đối tượng sinh viên tham gia thực nghiệm hoàn thành từ có nghĩa xuất phát ngữ căn gốc, ví dụ "jo_"; theo chiều tích cực ("joy": vui thú) hoặc trung tính ("jog": lắc lư).
Trước đó, các sinh viên được đề nghị trầm tư mặc tưởng về cái chết của chính mình thì càng nghiêng về lựa chọn các từ tích cực, hơn là số sinh viên được đề nghị ngẫm nghĩ tới cuộc thăm viếng phòng mạch của bác sĩ nha khoa đầy đau đớn.
Xem ra, việc suy tư về cái chết bằng cách nào đấy đã hướng tâm trí của các sinh viên tới những từ tích cực.
Nghiên cứu của hai chuyên gia thuộc Đại học Tiểu bang Florida (Hoa Kỳ) tương thích với phát hiện mà các nhà tâm lý học gọi là "lý thuyết kiểm soát nỗi kinh hoàng"- một cách thức giúp chúng ta chối bỏ thực tại buồn thảm.
Dường như điều này là một tiến trình của tiềm thức; lý thú hơn, cả việc trầm tư mặc tưởng về cái chết lẫn suy ngẫm tới vị nha sĩ đều ghi nhận điểm số tương tự nhau qua bảng hỏi tự khai về trạng thái cảm xúc bản thân-- được đưa cho các đối tượng giữa hai nhiệm vụ trầm tư mặc tưởng và thực hiện hoàn thành từ.
Kết quả cũng không có gì khác biệt với lần nghiên cứu thứ hai cũng liên quan đến việc sử dụng từ.
Xuất phát với một từ nhắm đến (ví dụ, "joke"), sinh viên phải nói một từ mang nhiều tính cảm xúc liên quan gợi lên trong họ (ví dụ, "sunbeam": tia nắng), hoặc một từ thay thế hàm chứa sắc thái ngữ nghĩa học (ví dụ, "speech": lời nói).
Thực nghiệm cho thấy, khi bắt đầu sử dụng các từ nhắm tới hạnh phúc, chứ không phải các từ chỉ sự buồn bã hay lo sợ, nhóm sinh viên trầm tư mặc tưởng về cái chết có vẻ thích chọn từ cảm xúc liên quan hơn là từ mang sắc thái ngữ nghĩa học.
Đáng lưu ý, qua quan sát không tìm thấy tác động tương tự xảy ra với các sinh viên suy ngẫm về vị nha sĩ-- họ hoặc chỉ thích nhặt những từ chứa xúc cảm hoặc chọn từ mang sắc thái ngữ nghĩa học mà thôi.
Thực nghiệm sau cùng nhằm minh họa sự đối lập với trực giác, và góp phần lý giải vì sao chúng ta thật kém cỏi trong chuyện dự đoán các sự kiện sẽ tác động như thế nào tới khía cạnh xúc cảm của chính mình.
Trái hẳn với kết quả thực tế quan sát thấy trong hai thực nghiệm đầu, các sinh viên được đề nghị tưởng tượng về những ảnh hưởng của việc trầm mặc đã thất bại khi dự đoán rằng họ sẽ hướng tới các từ tích cực, và họ đã ước tính quá mức tồi tệ trạng thái xúc cảm bị ảnh hưởng.
Giờ thì bạn đọc ít nhiều thấu hiểu lý do blog Cái tôi thi thoảng lại trích dẫn cuốn sách Mỗi ngày trầm tư về sinh tử rồi chứ.
Chết là một sự kiện đe dọa đậm chất tâm lý, song một khi người ta trầm tư mặc tưởng về nó, hệ thống tự động rõ ràng khởi sự tìm kiếm các suy nghĩ tích cực, hai nhà nghiên cứu tuyên bố. Hơn nữa, điều này xảy ra ngay lập tức vượt ngoài nhận thức của chúng ta.
Phân loại: Kỹ năng sống, Nghiên cứu, Sợ hãi, Sức khỏe tâm thần, Tâm linh, Tôn giáo

Các vấn đề tâm thần xảy đến khi còn bé xem chừng để lại hậu quả kéo dài, như khẳng định của một nghiên cứu mới đây.
Theo đó, những rối nhiễu tâm thần mắc phải hồi nhỏ có thể tạo nên nhiều tác động trầm trọng cho tương lai học hành và thành tựu trong công việc sau này.
Đội ngũ chuyên gia Anh quốc đã tra cứu dữ liệu thống kê của 8.000 cá nhân, sinh từ 3.1958.
Các đối tượng được theo dõi thuở mới chào đời và lượng giá sức khỏe tâm thần của họ tại các thời điểm lên 11, 16, 23 và 45 tuổi-- nhờ các thông tin do bố mẹ và thầy cô giáo cung cấp, cũng như phỏng vấn riêng.
Kết quả, định dạng một số đặc điểm liên quan tới trầm cảm và lo hãi ở tuổi trung niên, như chuyện cư ngụ tại khu nhà trọ, mắc một căn bệnh mãn tính, sống độc thân và bị căng thẳng tinh thần (stress) vì công việc.
Đáng lưu ý, với ngưỡng 45 tuổi, những ai ít điều kiện kiểm soát các quyết định trong công việc, hoặc cho thấy sự hỗ trợ xã hội thấp tại sở làm thì thường có nguy cơ cũng như phải đương đầu với trầm cảm, lo hãi gấp 2 đến 4 lần.
Đặc biệt, sự căng thẳng tinh thần cao độ tại nơi làm việc ở tuổi trưởng thành được phản ánh sâu sắc một khi tuổi thơ hiện diện các vướng mắc nội tâm-- triệu chứng lo hãi, trầm cảm và thu mình.
Bệnh tật tâm thần tác động tới thành tựu nghề nghiệp tương lai của trẻ dưới nhiều dạng thức khác nhau, nhất là kết quả học tập bị ảnh hưởng vì sức khỏe tâm thần kém cỏi.
Trẻ trải nghiệm rối nhiễu tâm thần-- các vướng mắc nội tâm nói riêng-- sẽ gặp khó khăn khi làm bài tập hoặc kém tập trung trong lớp, để rồi những phiền muộn này thu hẹp sự chọn lựa nghề nghiệp thích hợp khi ra trường.
Với những ai từng phải học hành chật vật thì sau này lựa chọn duy nhất là công việc lương thấp kèm nguy cơ chuyển chỗ làm cao.
Còn chưa nói, lo hãi và trầm cảm gây tổn hại cho sự tự trọng của trẻ, chi phối cách chúng nhìn nhận tiềm năng bản thân. Những đứa trẻ này khi trưởng thành hay tìm kiếm công việc ít mang tính chất thách thức lại giúp chúng dễ xoay xở nhất.
Rốt cục, việc vàng được trả lương thấp và chẳng đáng bõ công làm đời sống cá nhân càng khốn khổ; sự căng thẳng tinh thần này góp phần tăng cao hơn cơn trầm cảm và lo hãi.
Căng thẳng, rối nhiễu người ta từng trải nghiệm lúc nhỏ tuổi có thể tiếp tục tác động sâu xa tới suy nghĩ và hành động ngay cả lúc đã tốt nghiệp rồi, và hậu quả căng thẳng tinh thần vì công việc làm tồi tệ thêm các vấn đề lo hãi và trầm cảm.
Điều quan trọng là gia đình và nhà trường phải hỗ trợ trẻ đương đầu với bệnh tật tâm thần, cải thiện kết quả học tập và ngăn ngừa hậu quả tiêu cực do tích tụ bệnh tật tâm thần gây ra.
Cần biết cách tiến hành các bước giảm thiểu căng thẳng tinh thần tại sở làm. Thực tế chứng tỏ rằng nhờ điều chỉnh đồng thời chữa trị đúng đắn, nhiều người đã có thể hiện thực hóa tối đa tiềm năng và không ngừng thỏa mãn sâu xa nghề nghiệp của bản thân.
Phân loại: Rối nhiễu, Stress, Sức khỏe tâm thần, Tâm lý học Phát triển, Trẻ em

Ám ta là nó đấy; cái vị, đồ chất, loại thứ, nước nôi,... có lẽ chỉ vừa mới phảng phất thôi chứ chưa cần tập hợp đủ đầy thành phần lệ bộ đã xộc thẳng ngay, lục tung, kích hoạt mọi chốn khắp châu thân ngỡ chừng che chắn quá cỡ kín kẽ để dồn về hiển hiện một mối rờ rỡ.
Mới đây, một cậu bé mắc tự kỷ 15 tuổi thử tiếp xúc với tôi bằng cách áp sát và ngửi mùi áo quần của tôi (xem chừng, tôi đã được cậu bé chấp nhận làm bạn!).
Lý giải tại sao chúng ta trưởng thành cùng với sự gắn bó với các mùi (hay cơn cớ nào người ta dần ngửi quen mùi hôi thối dọc dòng sông Tô Lịch của Thủ đô Hà Nội), Rachel Herz- tác giả cuốn sách The Scent of Desire- cho rằng, khi chúng ta trải nghiệm sự thích ứng khứu giác nghĩa là thụ cảm thể (receptor) dừng việc đáp ứng với một hóa chất trong không khí sau khoảng 20 phút; rằng, chúng ta thích ứng trước mọi cảm giác riêng biệt đó, song khi việc làm quen khởi đầu rồi kết thúc, sự chú ý của ta tập trung vào nó khiến ta dễ bị kích thích, gắt gỏng.
Bằng chứng phức hợp trong bản chất cảm nhận về mùi là bộ não có hai mạng lưới khác nhau liên quan đến việc ngửi: hệ thống trực chỉ tới mũi (orthonasal) giải quyết việc 'đánh hơi' mùi vị, và hệ thống quay lại về mũi (retronasal) đảm trách cảm nhận mùi vị khi chúng ta thở ra.
Hai nghiên cứu khác vén dần sự tương tác phức hợp giữa các pheromones, xu hướng tình dục và sự quyến rũ- khẳng định cảm nhận mùi vị của chúng ta xem chừng đóng vai trò quan trọng cho việc kích thích, khêu gợi tình dục: mùi con người, mùi tình yêu.
Nhà tâm lý học Charles Wysocki phát hiện những người đồng tính luyến ái nam thích mùi cùng đối tượng và phụ nữ quyến rũ khác phái, trong khi đó, mùi của người đồng tính nam lại tỏ ra kém hấp dẫn với phụ nữ và cánh đực rựa-- hoạt động não của đàn ông chỉ phơi nhiễm với estrogen.
Cơ sở sinh học của khám phá trên được chứng thực bởi kết quả chụp cắt não bộ.
Các cơ sở kinh doanh đã biết sử dụng "marketing mùi" để nâng cao doanh số bán hàng, bởi mùi có ấn tượng sâu đậm đối với trí nhớ xúc cảm; các khách sạn cũng nhanh nhạy nắm bắt cơ hội chơi trò này.
Dẫn lời Linda Buck -- đọat giải Nobel Y học 2004 (cùng Richard Axel) "diễn ra một sự thay đổi nhẹ nhàng trong cơ chế hóa học của mùi cam và ta nhận được một cái gì như mùi đôi tất ướt."
Bài báo còn giới thiệu nghiên cứu việc ngửi bằng cách nào giúp cho những người béo phì ăn ít đi, dựa trên ý tưởng sự thừa mứa (satiety) khiến giảm cảm giác đủ đầy và hỗ trợ cho cảm nhận của chúng ta về mùi vị thoả mãn. Bộ não bị hỏng hóc sẽ để lại hậu quả xấu cho cảm nhận về mùi.
Nghiên cứu cho thấy mùi hoa quả bưởi (grapefruit) có thể khiến đàn ông đánh giá phụ nữ trẻ hơn 6 năm so với tuổi thực.
Kiểu dùng lá gội đầu dân dã mà khôn ngoan rất thật ấy giờ chợt hóa xa xưa, sao cứ gợi lên cho ai kia nỗi niềm miên man.
Nói thêm, theo cái nhìn của Tâm lý học Tiến hóa, thông minh thì cực kỳ gợi cảm; sự tử tế và lòng thấu cảm là một trong các phẩm chất chính yếu chúng ta tìm kiếm ở bạn tình tiềm năng cũng như tự mình thổ lộ nhằm đạt tới ham muốn tình dục của đối tượng.


