Dù trường hợp của cựu chiến binh ĐTL (chúng tôi sẽ mô tả cụ thể ca lâm sàng này sau) khác biệt về văn hóa, địa lý và chiến tuyến, nhưng có lẽ cũng sẽ rất thú vị nếu đề cập đôi nét vế sự tác động của PTSD đối với cựu chiến binh
ngoại quốc.
Trước hết, xin trình bày lịch sử của khái niệm PTSD.
Xa xưa, hồi Nội chiến 1865/ Civil War ở Hoa Kỳ, tài liệu đã ghi lại rõ ràng về một hội chứng tựa như PTSD dưới tên gọi: hội chứng Da Costa.
Từ thời Chiến tranh Thế giới lần thứ nhất, PTSD được gọi bằng thuật ngữ “shell-shock” để chỉ sự suy nhược thần kinh do chiến tranh gây ra (Từ điển bỏ túi Oxford, 1994); đến thời kỳ Chiến tranh Thế giới lần thứ hai thì mang tên “battle fatigue”, hoặc là “operational exauhstion” trong Chiến tranh Triều Tiên nhằm nêu rõ danh sách các triệu chứng kiệt quệ, suy sụp của những người bị phơi nhiễm với hỏa lực pháo binh, trận tấn công và đánh bom.
Ngày nay, “shell-shock” được xem là một trạng thái tâm thần mà ở đó cá nhân bị dồn vào thế hiểm nguy đến độ có thể bật khỏi đời sống xã hội, nguyên do ở chỗ không chống cự nổi với bất cứ chứng bệnh loạn thần/ psychoses hoặc tâm căn/ neuroses nào. [Encyclopedia of Psychology, mục từ: Post-Traumatic Stress Disorder; Từ điển.]
Và rồi, PTSD nhanh chóng được biết đến ngay sau giai đoạn chiến tranh của người Mỹ tại Việt Nam/ Vietnam War.
Tỷ lệ mắc PTSD phổ dụng ở Hoa Kỳ từ 1-3% dân số (Helzer, Robins, & McEvoy, 1987), chiếm trên 2 triệu người. Với đối tượng thường dân bị phơi nhiễm do một sang chấn thể lý, tỷ lệ PTSD là 3,5%, còn thuộc nhóm có những tổn thương thời tham chiến tại Việt Nam thì lên đến 20%.
Kết quả một nghiên cứu dịch tễ trong 4 năm của Trung tâm Kiểm soát dịch bệnh Hoa Kỳ trên xấp xỉ 15.000 cựu chiến binh tại Việt Nam cho thấy, 15% bị PTSD do sang chấn liên quan đến chiến sự từ khi họ giải ngũ. (Roberts, 1988).
Tỷ lệ đó cao hơn ở số cựu chiến binh người Mỹ gốc Phi với các triệu chứng thời hậu chiến Việt Nam (Neal & Turner, 1991), các nhà nghiên cứu lý giải nguyên do ở mặc cảm tội lỗi khi phải chiến đấu chống lại một dân tộc có lịch sử bị áp bức lâu dài (Oxley, 1987; Parson, 1984).
Nghiên cứu những người sống sót trong các trại tập trung của Đức quốc xã/ Nazi và binh lính trở về sau chiến tranh, cho thấy các triệu chứng của PTSD hãy còn lưu dấu 20, 30, thậm chí đến 40 năm sau (Krystal, 1968; Kluznit et al., 1986).
Gần đây hơn, các cựu chiến binh thời Chiến tranh Thế giới thứ hai và Triều Tiên vẫn còn xếp hàng vào phòng cấp cứu tại Bệnh viện Quản lý Cựu chiến binh thành phố New York với các triệu chứng của PTSD, sau 60 năm rời quân ngũ. [Amanda Garder. PTSD-60 years later.]
Đáng tiếc thay, theo Lehman và cộng sự (1987), nhiều người bị phơi nhiễm với các sự kiện sang chấn gây nên PTSD lại không hề tìm kiếm sự hỗ trợ của giới chuyên môn.
Tái hiện, ký ức về các trận đánh có thể dẫn đến chết sớm hơn ở người bị PTSD. Thống kê theo ngành nghề, tỷ lệ mắc PTSD của các cựu chiến binh trong chiến tranh Việt Nam dao động từ 5 đến 20%; họ có những biểu hiện suy nhược lan tỏa và dai dẳng trong tính cách. [Alarcón, sđd, p.127].
Những cựu chiến binh sau chiến tranh Việt Nam phải chịu nhiều thiệt thòi trong các lĩnh vực giáo dục, xã hội va việc làm. Tỷ lệ tự tử của nhóm này lên tới 25%, cao hơn nhiều so với cộng đồng dân cư. [Polloc et al., 1990; Peterson, Proust & Schawars, 1991].
Theo Báo cáo của BS Lâm Xuân Điền, Giám đốc Tâm thần Bệnh viện tại Hội thảo khoa học Việt-Mỹ (15-16.3.2004), thì cuộc điều tra trên 861người ở TP. Hồ Chí Minh cho thấy: 100% số người bị PTSD đều có triệu chứng kéo dài trong 3 tháng; có đến 60% triệu chứng tồn tại tồn tại trong vòng 40 năm. [60% bị rối loạn stress sau chấn thương kéo dài.]
Cũng theo nghiên cứu này, gần 60% số ca xuất hiện các triệu chứng PTSD trong vòng 1 tháng sau khi bị sang chấn; dạng khởi phát muộn (sau 6 tháng) chiếm 27%; trên 80% thường xuyên nhớ lại các sang chấn ngoài ý muốn, có giấc mơ xấu về sang chấn, căng thẳng mãnh liệt khi gặp các dấu hiệu gợi ý sang chấn; hơn 90% bị toát mồ hôi, tim đập nhanh, run rẩy khi gặp các dấu hiệu sang chấn.
Trung tâm Quốc gia Hoa Kỳ về bệnh PTSD đưa ra con số: khoảng 8% phụ nữ và 20% nam giới có dấu hiệu PTSD, và ước chừng 30% trong số này tiến triển thành thể mãn tính kéo dài suốt đời. [ What is posttraumatic stress disorder?]
Ước tính 7,8% dân Mỹ sẽ trải nghiệm PTSD ở một thời điểm nào đó trong đời. Khoảng 3,6% người lớn (18-54 tuổi) ở Hoa Kỳ, chiếm 5,2 triệu dân, mắc PTSD ở giai đoạn đã xác định; 88% nam giới và 79% phụ nữ mắc PTSD, đồng thời phù hợp với tiêu chuẩn chẩn đoán của một rối loạn tâm thần khác.
Thực tế cho thấy, một số người có khả năng điều chỉnh sự đáp ứng với stress cấp tính, do đó, họ lấy lại được sự cân bằng nội môi tâm sinh lý. Nếu tác nhân gây stress cấp đe dọa nghiêm trọng trách nhiệm xã hội và chức năng tác nghiệp, thì theo ICD-10 có thể nghĩ đến rối loạn phản ứng stress cấp (mã F43.0).
Chẩn đoán Rối loạn phản ứng stress cấp (ASD: Acute Stress Disorder) nếu các rối loạn tâm thần hoặc tình thế y khoa khác không cung cấp sự giải thích tốt hơn về triệu chứng của bệnh nhân; nếu triệu chứng tồn tại sau 1 tháng, chẩn đoán PTSD (Morrison, 1995). Khoảng 60% người vượt thoát khỏi phản ứng stress cấp trong vòng 1 tháng và họ không hề có biểu hiện mắc PTSD.
Phân loại: Nghiên cứu, PTSD, Tâm bệnh học, Tâm lý trị liệu
Bài đăng Mới hơn Bài đăng Cũ hơn Trang chủ