Hiển thị các bài đăng có nhãn PTSD. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn PTSD. Hiển thị tất cả bài đăng


Một câu chuyện thương tâm.

Thật khốn khổ khi phải nhập viện điều trị tập trung (ICU); vì thế, các bác sĩ từ tâm luôn cố sức giúp cho trẻ khỏi trải nghiệm ấn tượng nặng nề đó.

Kết quả nghiên cứu cho thấy, dù ý định là thiện lành, song thực sự việc dùng thuốc an thần có khả năng tạo ra nguy cơ lớn hơn của hội chứng rối loạn stress sau sang chấn (PTSD).


Tiến sĩ Colville đã tiến hành thăm khám 102 trẻ sau hai tháng nằm ở phòng ICU.

Đáng kinh ngạc, nhận thấy 32 cháu có các ký ức hoang tưởng kết hợp với một số ảo giác ghê rợn.

Số trẻ này ghi nhớ một cách lệch lạc lắm cơn sợ kinh hoàng
-- kiểu như mấy con bọ cạp bò lổn nhổn trên da--, còn hơn cả số mũi kim tiêm và các cô y tá, điều dưỡng nghiêm nghị.

Hậu quả, khiến chúng dễ tiến triển hội chứng PTSD; thậm chí ngay cả khi nhóm nghiên cứu khống chế những tổn thương trầm trọng.


64 cháu biểu lộ khả năng nhớ chính xác, đúng thực tế các chi tiết, song các ký ức này-- thường hay bị bóp méo-- lại không làm nảy sinh nguy cơ PTSD.

Dường như, vấn đề mà các bậc cha mẹ và bác sĩ nên tập trung chính là những ký ức hoang tưởng.

Tiến sĩ Colville xác định rõ rằng, mối tương quan ý nghĩa nhất về các ký ức hoang tưởng xảy đến trong khoảng thời gian trẻ sử dụng thuốc an thần và giảm đau; thấy tỷ lệ các hoang tưởng lập tức tăng vọt sau 2 ngày liền dùng biệt dược giảm đau.


Tâm trí người trưởng thành trải nghiệm đủ đầy tổn thương do sang chấn; nghiên cứu của tiến sĩ Colville chứng tỏ họ còn có thể gặp nhiều nguy cơ bị PTSD từ các loại thuốc tạo nên những hoang tưởng ám ảnh.

Người lớn cũng dễ bị ảo giác khi dùng thuốc an thần, song họ thừa khôn ngoan để chẳng thèm chú ý tới các ký ức khó tin đó.

Đặc biệt, với đối tượng trẻ em thì hoặc chỉ cho chúng dùng ít thuốc an thần thôi, hoặc cần sàng lọc các ký ức hoang tưởng nhằm giúp cho trẻ không phải chịu đựng âm thầm những hình ảnh khủng khiếp.


Bạo hành gia đình có thể khởi sự khi một bên cảm thấy nhu cầu kiểm soát và thống trị người kia.

Kẻ lạm dụng cảm thấy nhu cầu kiểm soát người bạn tình như thế vì sự tự trọng thấp, ghen tuông quá độ, gặp nhiều khó khăn trong việc điều tiết nỗi niềm giận dữ và những xúc cảm mãnh liệt khác, hoặc khi họ cảm thấy thua kém người kia về trình độ giáo dục và nền tảng kinh tế- xã hội.

Một số đàn ông mang niềm tin truyền thống rằng, họ được quyền kiểm soát phụ nữ, và rằng phụ nữ không bình đẳng với nam giới.


Tính vượt trội, chi phối này thể hiện dưới dạng thức lạm dụng cảm xúc, thể lý và tình dục. Các nghiên cứu khẳng định, hành vi bạo hành thường do bởi sự tương tác giữa nhiều yếu tố tình huống và cá nhân.

Điều đó hàm ý rằng, kẻ lạm dụng tập nhiễm hành vi bạo lực từ gia đình, người sống trong cộng đồng và các tác động văn hóa khác khi họ lớn lên. Biết đâu chừng, họ vốn trông thấy bạo lực thường xuyên, hoặc chính họ là nạn nhân.

Trẻ em làm nhân chứng hoặc là nạn nhân của bạo lực sẽ có thể đi đến niềm tin rằng, bạo lực là phương thức hữu lý để giải quyết xung đột giữa con người với nhau.

Các cậu bé trai học hỏi rằng, phụ nữ không có giá trị hoặc đáng tôn trọng gì, và chúng thấy bạo lực hướng trực tiếp vào phụ nữ thì càng dễ lạm dụng phụ nữ khi lớn lên. Các bé gái làm nhân chứng bạo lực gia đình ở trong chính nhà mình thì về sau dễ trở thành nạn nhân của chồng.

Rượu chè và các lạm dụng chất khác hay bị quy cho hành vi bạo lực. Một kẻ say xỉn, nghiện ngập, hoặc mắc thói vênh váo sẽ ít thích kiểm soát xung lực bạo hành của anh ta/ chị ta.

Tất cả nạn nhân của bạo hành gia đình đều có thể phải hứng chịu các tổn thương xúc cảm và thể xác.

Tuy nhiên, do sự khác biệt giới tính nên phụ nữ thường dễ bị tổn thương thể chất trầm trọng gấp 6 đến 7 lần so với đàn ông.

Một số thống kê ấn tượng về tần suất bị tổn thương thể chất của phụ nữ:

- Bạo hành gia đình là nguyên nhân hàng đầu gây nên các tổn thương ở phụ nữ. Mức độ tác động và phạm vi ảnh hưởng của bạo lực gia đình lớn hơn tất cả các nguyên nhân tạo ra các tổn thương khác đối với phụ nữ.

- Một nghiên cứu báo cáo: 28% phụ nữ bị ngược đãi đã từng tới phòng cấp cứu tại một thành phố lớn yêu cầu được nhập viện vì các tổn thương, và 13% đề nghị điều trị y khoa nghiêm trọng.

Nghiên cứu này phát hiện 40% của mẫu 218 phụ nữ đã tiếp nhận chăm sóc y tế do bị hành hạ gây tổn thương trong quá khứ.

Lạm dụng về mặt cảm xúc không để lại những dấu cắt, vết thâm tím như lạm dụng thể chất; song nó lại hằn sâu hơn nhiều do thật khó khăn để nhận ra và chữa trị.

Dẫu thế, lạm dụng cảm xúc dễ gây nên những vết nhơ nhuốc thành sẹo cho sự lành mạnh tâm lý của nạn nhân.

Đồng thời, lạm dụng cảm xúc còn hay dẫn tới lạm dụng chất, lòng tự trọng thấp, cảm giác bất lực, cô độc, tha hóa, sợ hãi và trầm cảm, cũng như rối loạn stress sau sang chấn (PTSD).

Do phụ nữ dễ trở thành nạn nhân, nên các tổn thương tâm lý của họ cũng đã được phát hiện nhiều hơn.

Nhà tâm lý học Lenore Walker qua nghiên cứu đối tượng phụ nữ là nạn nhân bạo hành, từng mô tả về "hội chứng phụ nữ bị ngược đãi", cho thấy: phụ nữ quen trải nghiệm các lạm dụng thể chất, tình dục hoặc cảm xúc trầm trọng thường có khuynh hướng bị tác động theo các cách thức thông thường, và bắt đầu thể hiện hành vi tương tự.

Dưới đây là các dấu hiệu phụ nữ bị ngược đãi:

- Giảm thiểu hết mức và chối bỏ sự lạm dụng.

- Ngăn chặn các sự vụ lạm dụng khỏi trí nhớ của mình.

- Sợ hãi, lo lắng hoặc hoảng loạn vì trạng thái căng thẳng (stress) liên tục.

- Tự bản thân tê cứng, chết cóng nhằm tránh đối đầu với tình huống.

- Xuất hiện các cơn hồi tưởng lặp đi lặp lại về những giai đoạn bị ngược đãi, hành hạ.

- Có những nỗi sợ hãi đặc trưng và không ngừng cảnh giác với những dấu hiệu sẽ bị làm hại lớn hơn.

Tin nóng, thảm khốc!

Hầu như tất cả các phương tiện truyền thông đại chúng hàng đầu tại Việt Nam đều đồng loạt đưa tin về sự cố kinh hoàng vừa mới xảy ra sáng hôm qua tại công trường xây dựng cầu Cần Thơ trên sông Hậu Giang.

Thiệt hại nhân lực và tài sản rõ ràng là hết sức nặng nề. Cá nhân tôi xin chân thành chia buồn cùng những số phận bất hạnh, người thân trong gia đình và toàn thể những ai quen biết hoặc chưa hề gặp gỡ họ.

Trước mắt, đã nghe và thấy lắm câu chuyện đau lòng với hậu quả chắc chắn để lại nhiều sang chấn tinh thần, góp phần hình thành hội chứng rối loạn stress sau sang chấn (PTSD).

Chị Nguyễn Thị Tâm, vợ công nhân Nguyễn Văn Sáu đứng ở đây từ sáng để chờ tin chồng. Tim như thắt lại khi nghe thấy những âm thanh vọng lên từ lòng đất, chị nức nở: "Cầu mong anh ấy còn sống. Nếu anh ấy sống được, vợ chồng có cơm ăn cơm, có cháo ăn cháo, chứ tôi nhất định không để anh làm công việc này nữa". Cách đây 2 tháng, chị Tâm đã ngăn chồng làm thợ xây cầu này khi biết có một công nhân đã chết vì bị sắt đè ngày khởi công.

Anh Phạm Quốc Toàn, một công nhân tham gia xây cầu cũng phờ phạc chờ tin đồng nghiệp cả ngày nay. Anh cho biết, đã chứng kiến từ đầu vụ tai nạn, thấy nhiều nạn nhân được đưa ra, không ít người bị sắt, thép đâm qua mặt, ngang thân, dọc lưng...

"Những người còn sống đều hoảng loạn, hỏi gì cũng không nói. Thấy đồng nghiệp bị nạn và người thân của họ, tôi xót lắm mà không biết làm sao", anh Toàn nghẹn ngào nói.

Theo ông Nguyễn Quốc Vũ, người trực tiếp chỉ đạo đội cấp cứu tại hiện trường vụ sập cầu Cần Thơ, hầu hết nạn nhân bị đa chấn thương, không xuất huyết ngoài do hội chứng vùi lấp. Nạn nhân đều là nam giới tuổi khoảng 40 trở lại.

Xin nhắc lại rằng, PTSD có thể xảy ra với ai đó trải nghiệm một sang chấn vượt quá sức kiểm soát, chịu đựng của họ; hội chứng này được chẩn đoán khi các ký ức về sự kiện ăn sâu vào cuộc sống thường ngày, người trong cuộc thấy có nhu cầu lẩn tránh bất kỳ thứ gì gợi nhắc họ về tình huống khủng khiếp ấy, và họ cảm nhận nỗi sợ hãi cao độ, ngỡ mình đang ở bên bờ vực thẳm.

Tuy nhiên, có một sự thật khác rất ít được quảng đại quần chúng biết đến hơn: mắc PTSD sau khi trải qua một sang chấn tâm lý chưa từng xảy ra; đặc biệt lưu ý, phản ứng xúc cảm của họ thì thực tế song những sự kiện là hoang tưởng, ảo giác!

Bốn trường hợp điển hình trong nghiên cứu vừa nêu đều thuộc diện vào khoa cấp cứu vì những tổn thương y khoa trầm trọng, tuy trạng thái này không phải là nguyên nhân trực tiếp gây nên sang chấn.

Tại phòng cấp cứu, các bệnh nhân trở nên mê sảng (delirium): một trạng thái mù mờ ý thức, tư duy giảm sút, thường xuất hiện các dấu hiệu hoang tưởng và ảo giác.

Trong những ca như thế, chính các hoang tưởng và ảo giác khiến bệnh nhân tin là mình đã chết thật gớm ghiếc, bị đe doạ, hay phải trải qua những sự kiện ghê rợn.

Về sau, khi đã hoàn hồn, bình phục, họ lại mắc tất cả các triệu chứng của PTSD; song cần nhấn mạnh lần nữa là chuyện liên quan này chỉ xảy ra trong suy nghĩ sai lệch của họ mà thôi.

Cả căn bệnh y học và các loại thuốc giảm đau chứa yếu tố kích hoạt tâm thần có thể khiến bệnh nhân suy nghĩ nhiễu loạn mà lên cơn mê sảng; đến lượt nó, trạng thái mê sảng tác động tới cách thức người ta ghi nhớ tái phát này.

Thực tế, nghiên cứu đã phát hiện rằng, một số bệnh nhân không có bất cứ hồi tưởng thực sự nào về sự chăm nom cấp cứu; họ chỉ nhớ khoảng thời gian theo hoang tưởng của chính mình. Nhóm này cực kỳ dễ bị sang chấn.

Cũng cần biết thêm, người ta đôi khi khốn khổ, khó khăn khi nói về những trải nghiệm tương tự, song chuyện như thế thì bình thường thôi. Ước tính chừng 12,5% đến 38% bệnh nhân vào phòng cấp cứu từng có những biểu hiện hoang tưởng và ảo giác.

Blog Cái tôi sẽ tiếp tục suy ngẫm và theo dõi tin tức cập nhật xung quanh sự cố đáng tiếc gây chết người tại công trình xây dựng cầu Cần Thơ, để cung cấp cho bạn đọc một cái nhìn nhân văn từ góc độ tâm lý học.

Từ những diễn biến đầu tiên được báo chí đăng tải, tôi luôn theo dõi sát sao tin tức cập nhật xoay quanh trường hợp hoảng loạn của bé gái 10 tuổi Huỳnh Thị Ngọc Trâm.

Cho đến thời điểm viết bài này, hầu hết các ban ngành chức năng đã lên tiếng rồi
nhập cuộc ít nhiều trước sự bức xúc của công luận xã hội.

Và thi thoảng, dội lên trong tôi cảm nghĩ:
dường như đang có một sự cạnh tranh gắt gao và tâm thế thể hiện mình "lấy điểm" khá rõ ràng của các vị lãnh đạo từ trung ương xuống địa phương thuộc cả hai ngành giáo dục, y tế cũng như hệ thống bảo vệ- chăm sóc- giáo dục trẻ em.

Còn nhìn dưới góc độ chuyên môn, những biểu hiện tâm sinh lý bất ổn đáng lo ngại của bé trước sự kiện gây sang chấn nặng nề như thế nhắc tôi nhớ
báo cáo về một trường hợp rối loạn stress sau sang chấn (PTSD) ở trẻ sơ sinh mới 5 tháng tuổi.

Theo tác giả- nhà tâm lý học
Aletha Solter, học trò cũ của Jean Piaget- thì sau 3 ngày nằm viện để chỉnh hình khuôn mặt, trở về nhà bé Michael đột ngột khóc vật vã, trải nghiệm kinh hoàng trong đêm, các kỹ năng vận động biểu hiện thụt lùi (không gập bụng xuống dạ dày như trước đây từng đã làm được nữa), cực kỳ sợ hãi người lạ,...

Thuật ngữ hành vi
"flooding" được tác giả đề cập để mô tả sự phơi nhiễm những gì khiến ai đó hoảng sợ cho đến khi nỗi kinh hoàng lắng xuống và không còn xuất hiện.

Ở đây, đứa trẻ được đặt nằm ngửa mà la hét đến độ kiệt sức với người cha ở gần bên vỗ về an ủi. Chừng 20 phút sau, Michael bình tĩnh trở lại và dần vui hơn khi nằm ngửa. Thi thoảng những cơn kinh hoàng lại tái diễn trong tư thế nằm ngửa, song bố Michael vẫn để mặc cháu thế dù vẫn vỗ về an ủi. Dần dần các vấn đề khác của Michael mất hẳn và một năm sau thì cháu khoẻ mạnh trở lại.

Không nghi ngờ gì chuyện trẻ con có thể trở nên kinh động, tâm thần bất ổn định song nhiều nhà lâm sàng băn khoăn việc thiết lập tự thân bệnh tâm thần theo cùng một cách đối với trẻ nhỏ.

Trong đa số trường hợp, rốt cục rất khó khăn cho việc hiển lộ. Cực hiếm chuyện loạn thần (
psychosis) xảy ra ở tuổi lên 10 đến 16 tuổi, và hầu như y văn chưa hề thấy đề cập vấn đề này với lứa tuổi nhỏ hơn thế.

Dù không ai biết thực sự tại sao, song tuổi đặc trưng cho sự tấn công ác liệt của loạn thần diễn biến trong khoảng 18- 30.

Hầu hết các chẩn đoán tâm thần được tiến hành trên nền tảng của cuộc phỏng vấn chi tiết, dưới sự hướng dẫn bằng các câu hỏi cẩn thận của nhà lâm sàng, và bệnh nhân mô tả trạng thái tâm thần của bản thân mình.

Tương tự các chẩn đoán khác,
PTSD có các tiêu chí dành cho người trưởng thành với nhiều vấn đề chỉ có thể được khám phá thông qua tiến trình phỏng vấn.

Do đó, chẩn đoán bất cứ rối loạn tâm thần nào trong cách thức tiền phát ngôn ở trẻ nhỏ đang còn phát triển các kỹ năng ngôn ngữ xem ra đòi hỏi phải mở rộng các tiêu chí. Việc mở rộng như thế, làm tăng thêm mức độ thiếu tin cậy hoặc buộc người ta phải ngờ vực về độ hiệu lực.

Một nghiên cứu gần đây của giới khoa học Đức quốc cho thấy, người mắc PTSD có thể kém nhạy cảm nỗi đau thể lý hơn so với những ai không phải đớn đau vì bệnh này.

Bệnh nhân
PTSD trải nghiệm sự sợ hãi bị tấn công, các mảng hồi tưởng, lo hãi và trầm cảm sau một sự kiện sang chấn ( đặc biệt là đối tượng cựu binh trở về từ chiến tranh Việt Nam.)

Chụp quét não phát hiện não của đối tượng mắc PTSD ít kích hoạt hơn so với những ai không bị PTSD:

Trong khi một số các nghiên cứu khác khẳng định bệnh nhân PTSD có sự khác nhau về các thành phần cấu trúc não so với người khoẻ mạnh, thì đội ngũ nghiên cứu không đưa ra lý do nào về sự khác biệt trong việc điều chỉnh nỗi đau giữa hai nhóm mà họ test.
Bằng chứng lâm sàng xác nhận: những bệnh nhân trầm cảm nghiêm trọng cũng thể hiện nhiều triệu chứng rơi vào nhãn PTSD.

Trong
nghiên cứu 100 bệnh nhân khốn khổ vì trầm cảm quá mức, các nhà nghiên cứu hỏi họ có trải nghiệm hay không một số triệu chứng khác nhau của PTSD; và một trong những phát hiện quan trọng là tỷ lệ tương đương của số đối tượng tuy không bị sang chấn đáng kể gì, theo định nghĩa hiện thời, lại có thể được xếp loại đau đớn do PTSD.

Như vậy, nghiên cứu trên ít nhiều gợi ý phải có sự phân biệt hữu hiệu giữa hai rối loạn này, cũng như phản ánh sự thật là chúng ta chưa thấu hiểu hết bản chất của PTSD.


Đến đây, một câu hỏi rất dễ nảy sinh: tại sao một trải nghiệm đe doạ cuộc sống có thể dẫn đến PTSD ở một số người này nhưng với người khác lại không hề?

Theo
Karestan Koenen và cs., một phần câu trả lời nằm ở kiểu thời thơ ấu họ có. Các nhà nghiên cứu này tin rằng, những đối tượng tham gia thực nghiệm có mức độ IQ thấp hơn thì rất có thể thiếu hụt nhiều nguồn lực nhận thức cần cho lúc trưởng thành để diễn dịch sự kiện sang chấn của họ vào một câu chuyện kể. Trong khi đó, những ai thời thơ ấu có hành vi chống đối xã hội lại biểu hiện mức độ tự điều chỉnh kém cỏi, và vì thế, thiếu hụt độ bao dung cảm xúc cần thiết cho việc xử lý sự kiện sang chấn.

Cuối cùng, nền tảng gia đình nghèo khó xem chừng báo hiệu một môi trường tuổi thơ kém bền vững, điều từng được biết từ nghiên cứu động vật về ảnh hưởng của sự điều chỉnh hormone và chất dẫn truyền thần kinh trong não, dễ làm tăng thêm sự mẫn cảm với PTSD.

Bệnh căn

Có nhiều yếu tố nguy cơ gây nên PTSD: hệt thống các đáp ứng thể lý, hành vi và nhận thức; nghĩa là, để tìm hiểu bệnh căn/etiology của PTSD cần đánh giá đủ đầy từng yếu tố một. (Jones & Barlow, 1990).

A.X.Bô-rôp (1976) cho rằng, thúc đẩy nhân cách phát triển nghi bệnh (hypochiondriachis: sự sợ hãi thường xuyên về một căn bệnh và hiểu sai lạc về các cảm giác thể lý như là dấu hiệu của bệnh) là mầm mống của động kinh tiền bệnh lý phối hợp với xu hướng tâm lý cứng nhắc, xét đoán có tính chất mệnh lệnh, tình cảm hẹp hòi và tư duy không linh hoạt. [A.V. Kvaxencô & Iu. G. Dubarep. (1980) Tâm lý học bệnh nhân. Maxcơva: Nxb. Mir/ (1986) (Trần Di Ái dịch). Hà Nội: Nxb. Y học, tr. 74].

Lo âu, một trong những triệu chứng tăng cảm ứng quấy nhiễu bệnh nhân PTSD, chính là sự đáp ứng sơ khởi của chủ thể với bất kỳ tác nhân nào đột ngột xuất hiện, để đương đầu trước tình huống mới lạ, chưa biết, chuyện bị thách thức trước một nhiệm vụ cực kỳ phức tạp… Bất kể tình huống kích thích là tiêu cực hoặc tích cực thì cả hai đều gây nên cảm ứng và thực hiện một tín hiệu chức năng cụ thể. (Hebb, 1958).

Thực tế, sự cảm ứng là cần thiết để duy trì một hành vi có hiệu lực. Do đó, một hành vi thiếu thích nghi sẽ xảy ra ở các cấp độ cảm ứng dù biến chuyển cực thấp hay quá cao. [Dohrenwend, op.cit, p.167].

Theo Anôkhin P.X. (1954): xuất hiện trong sự thống nhất không ngừng với các mặt khác của quá trình bệnh lý, các cơ chế bảo vệ sự thích nghi, bao hàm trong bản thân chúng nguyên lý huy động các tính bù trừ, nguyên lý báo hiệu khuyết tật. [Kvaxencô, sđd, tr.49].

Tất cả các mặt của nhân cách được lôi cuốn vào cơ thể bù trừ nhiều hơn thì các quá trình phục hồi chức năng càng có nhiều may mắn đạt được độ ổn định cao hơn. (Lêbeđinxki M.X., Miaxisep V.N, 1966).

Sự bù trừ khuyết tật và sự bất lực chức năng xảy ra không chỉ ở mặt sinh học mà cả ở mặt tâm lý nữa, liên quan đến sự phục hồi chức năng.

Vấn đề phục hồi chức năng được xem như là một hệ thống toàn vẹn, nhờ yếu tố trung tâm xem bệnh nhân là một cơ thể và một nhân cách. (Bêlôp V.P., Smacôp A.V., 1977).

Sự kiện sang chấn và những tác động bệnh lý của nó từ lâu đã được biết đến như là việc giảm nhẹ gánh nặng tâm lý trong giai đoạn sau sang chấn. Một quan sát lâm sàng ghi nhận từ năm 1918:

…nhiều triệu chứng đau khổ và khó chịu nhất ở những người đã trải qua chiến tranh hay các bệnh nhân mắc bệnh tâm căn không nhất thiết phải là hậu quả của sự căng thẳng hay sốc trong thời gian cuộc chiến, mà nó còn sinh ra do chính những nỗ lực nhằm loại bỏ khỏi tâm trí các triệu chứng đau khổ của chiến tranh hay các trạng thái xúc cảm đau đớn ngày càng phổ biến như là kết cục trải nghiệm thời chiến. (Sidney, sđd, tr. 147).

Xét từ phương diện thể lý, biểu hiện của PTSD tương tự nhau trong những biến đổi sinh hóa, xảy ra do kết quả của một cú sốc không thể tránh khỏi. (Van der Boyd, Crystal & Greenburg, 1994).

Việc bị phơi nhiễm với sự kiện sang chấn làm cho chất dẫn truyền thần kinh/neurotransmitter họat động quá độ, tạo nên hiện tượng nhạy cảm vô lối, chứng giật nảy mình một cách cường điệu và tính gây hấn.

PTSD được giải thích từ góc độ hành vi qua điều kiện hóa (Keane et al., 1985). Sự kiện sang chấn có khả năng trở thành một kiểu kích thích trung gian trong thời gian diễn ra sang chấn.

Hoặc có thể trình bày như Horowwithz (1986) dựa trên nền tàng lý luận của tâm động/ pschodynamíc: không có khả năng tích hợp sự kiện sang chấn vào cảm nhận về bản ngã/ sense of self,cơ chế đối phó của cá nhân/ coping mechanisms,…

Có người lại căn cứ vào các khái niệm nhận thức đối với việc xử lý thông tin. Những mô hình này viện dẫn khái niệm về tính có thể kiềm chế được/ controllability và khả năng dự đoán trước/ predictability.

Dĩ nhiên, sau sang chấn, các cá nhân bị phơi nhiễm sống với tâm thế không như xưa; chính trạng thái chẳng thể kiểm soát và tiên đoán này song hành cùng với nỗi sợ hãi thâm căn cố đế.

Như thế, các cách giải thích khác nhau đã chỉ ra sự họat động thái quá của chất dẫn truyền thần kinh, phản ứng có điều kiện đối với kích thích của sang chấn, bản chất của sang chấn, và đặc điểm hiệu ứng không thể kiểm soát và dự đoán được của PTSD.

Và dù có đối nghịch nhau, chúng vẫn liên ứng sinh thành các cách trị liệu hợp lý và hiệu quả.

Các phương thức trị liệu PTSD

Kinh nghiệm cho thấy, có thể điều trị PTSD bằng:

- Các liệu pháp tâm lý phổ biến:

+ Trị liệu nhận thức-hành vi/ cognitive-behavioral therapy;

+ Trị liệu nhóm/ group therapy;

+ Giải mẫn cảm hệ thống/systematic desensitization;

+ Trị liệu phơi nhiễm/ exposure therapy;

+ Trị liệu hỗ trợ/supportive therapy;

+ Trị liệu trò chuyện/ talk therapy;

- Hóa dược: Prozac, Effexor, Seroquel và Zoloft. [
Post-Traumatic Stress Disorder]

Về liệu pháp hóa dược/ pharmacotherapy

Mặc dù có thể còn gây tranh cãi về giá trị của một tương tác bền vững giữa nhà trị liệu và thân chủ trong việc đảm bảo sự ưng thuận điều trị, song với liệu pháp hóa dược thì chính yếu tố hóa dược chứ không phải vị bác sĩ thực hành, đã làm thay đổi tâm tính của bệnh nhân PTSD.

Theo những gì đề cập trong cuốn sách gây ấn tượng của Kramer (1993) thì Prozac (tên biệt dược của Fluoxetine), loại thuốc chống trầm cảm thế hệ mới (cũng có tác dụng đối với các bệnh tâm thần khác), được ca tụng hết lời như là thần dược/ micracle drug ở thập niên 90 của thế kỷ XX.

Trên website chính thức của Trung tâm Quốc gia Hoa Kỳ về PTSD thì ngoài liệu pháp phơi nhiễm, nhiều nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, các loại hóa dược có thể kết hợp làm giảm nhẹ, đỡ đau những triệu chứng liên quan đến trầm cảm, lo âu và rối loạn giấc ngủ. Hai loại thuốc thường được sử dụng rộng rãi trong điều trị PTSD là Prozac và Zoloft- thuộc nhóm ức chế tái hấp thụ serotonine chọn lọc. [
What is posttramatic stress disorder?].

Và Trung tâm này cũng cho rằng, hiện tại thì liệu pháp nhận thức-hành vi ở một mặt nào đó tỏ ra hiệu quả hơn so với liệu pháp hóa dược. Tuy thế, không nên vội vã kết luận rằng nói chung thì liệu pháp hóa dược kém hiệu quả hơn, bởi các thử nghiệm thuốc diễn ra từ một thời kỳ rất sớm. Có vẻ liệu pháp hóa dược hiệu quả cực kỳ đối với một số bệnh nhân và còn có tác dụng nhiều hơn nữa.

Xin tạm bỏ ngỏ vấn đề nan giải này để chuyển qua giới thiệu sơ lược bản chất, cách tiến hành và kỹ thuật của một số loại hình trị liệu tâm lý PTSD thường sử dụng.

Về cơ bản, các liệu pháp tâm lý PTSD đều nhằm các mục đích:

- Phát triển khả năng nhận định thực tế của sự đe dọa và cơ hội đối phó;

- Khuyến khích việc thách thức với những hồi ức sang chấn;

- Giúp đỡ người bệnh vượt qua trải nghiệm sang chấn bằng cách tạo được cảm giác vững vàng chiến thắng những hồi ức đau khổ;

- Tạo điều kiện thuận lợi cho người bệnh thay đổi cảm giác từ sự vô vọng đến chỗ tin tưởng được cứu thoát;

- Tăng cường khả năng điều chỉnh cảm xúc, do vậy làm giảm trạng thái dao động như tê liệt hay tăng hồi tưởng thái quá;

- Khuyến khích tái thiết lập các mối quan hệ. [Sidney, sđd, tr.152-tr.153].

Dưới đây là vài nét phác thảo về các phương pháp, kỹ thuật trị liệu PTSD dựa trên lý luận về nhận thức-hành vi.

Trước hết, là hai kỹ thuật điều trị PTSD gây ra nhiều tranh cãi là EMDR và TIR. [
Post-Traumatic Stress Disorder].

Kế thừa có chọn lọc, EMDR (Eye Movement Desensitization and Reprogamming: Giải mẫn cảm chuyển động mắt và tái lập chương trình) là kỹ thuật được BS Francine Shapiro phát triển hoàn chỉnh. Bệnh nhân sử dụng sự chuyển động của mắt để tiến gần đến sự kiện sang chấn và cho phép tích hợp tất cả các cảm xúc và cảm giác trong thời điểm trải nghiệm sự kiện sang chấn.

Còn TIR (Traumatic Incident Reduction: giảm thiểu vịêc liên quan đến sang chấn) nhằm mục đích hạn chế sự tác động của sự kiện gây sang chấn.

TIR là sự nâng cấp của kỹ thuật phơi nhiễm, giúp thân chủ gợi nhớ lại sự kiện sang chấn và phóng thích những cảm xúc bị kiềm hãm, cho phép nhận thức những ý nghĩ, quyết định méo mó, sai lệch diễn ra trong hoặc sau sự kiện sang chấn.

Thường thì nhà trị liệu được đào tạo cả hai kỹ thuật EMDR và TIR. Báo cáo lâm sàng cho hay, TIR an toàn hơn do bởi nó tập trung vào chỉ một sự kiện duy nhất, còn EMDR thì đôi khi đào sâu vào các sự kiện và cảm xúc phức tạp.

Liệu pháp hỗ trợ gồm các phương thức chính:

- An ủi;

- Giải thích;

- Chỉ dẫn;

- Gợi ý;

- Khuyến khích;

- Gây ảnh hưởng đến môi trường bệnh nhân;

- Tạo cảm giác thanh thản. [John Vitkus. (1996). Casebook in Abnormal Psychology. (3rd edn). USA: The McGraw-Hill Companies, Inc., pp.215-228].

Liệu pháp hỗ trợ có thể đem lại lợi ích cho cả người cho và người nhận. (Hobfoll et al., 1991). Ngoài yếu tố đối phó, người ta còn có thể giảm thiểu sang chấn nhờ sự giúp đỡ xã hội, với 2 kiểu chính: hỗ trợ cấu trúc xã hội và hỗ trợ chức năng xã hội. (Cohen &Wills, 1985).

Kỹ thuật giải mẫn cảm hệ thống được tiến hành qua các bước:

- Lập thang đánh giá chủ quan về lo âu/ Subjective Anxiety Scale-SAS: chủ thể tự đánh giá hoàn cảnh nào gây lo âu nhiều nhất (100 điểm) và ít nhất (0 điểm).

- Hướng dẫn chủ thể tập thư giãn: học cách phân biệt giữa cảm giác căng cơ với thư giãn và thả lỏng trương lực cơ để đạt được sự tập trung chú ý vào thư giãn về thân thể và tâm trí.

- Giải cảm ứng hệ thống: chủ thể trong trạng thái thư giãn sâu tưởng tượng một cách sinh động những kích thích gây lo âu yếu nhất trong thang đo.

Nếu những kích thích này có thể nhớ lại mà không gây khó chịu thì tiếp tục những kích thích mạnh hơn. Làm cho đến khi nào không còn một hoàn cảnh nòa gây lo âu thì kết thúc điều trị. [Võ Văn Bản biên soạn. (2002). Thực hành điều trị tâm lý. Hà Nội: Nxb. Y học, tr.151-tr.152]

Kỹ thuật phơi nhiễm thường được đề cập nhiều nhất trong trị liệu các rối loạn lo âu, trong đó có PTSD. [Walton T. Roth. (ed). (1997). Treating Anxiety Disorders. California: Jossey-Bas Publisher, pp.31-35].

Việc phơi nhiễm đối với sự kiện kinh hoàng trải dọc các cách tiếp cận trị liệu khác nhau được áp dụng cho rối loạn này.

Có 3 giai đoạn chính trong phương pháp trị liệu phơi nhiễm:

- Đánh giá/ Assement Phase;

- Triển khai sâu liệu pháp/ Intensive Phase of Expouse Therapy;

- Tự kiểm soát mình/ Self-Management.

Điều quan trọng nhất để lượng giá cuộc trị liệu thành công cơ bản là việc thân chủ chủ động thực hành chỉ một nguyên tắc duy nhất: tự mình phơi nhiễm với các sự kiện sang chấn và tình huống gây sợ hãi cho đến khi mối lo âu của họ biến mất. (ibid., p.45).

Nhân đây, xin lưu ý rằng, trị liệu hành vi nhận thức-hành vi đã bắt đầu nhận ra rằng các thân chủ/ khách hàng có nhu cầu đi xa hơn nội dung nhận thức.

Samoilov & Goldfried (2000) tuyên bố việc cần nhìn nhận cảm xúc như là đồng minh trong tiến trình thay đổi và rằng, cảm xúc quan trọng trong việc tái tổ chức những ý nghĩa cá nhân ngầm ẩn. Tương tự thế, Teasade & Barnard (1999) cũng thừa nhận cảm xúc được sản sinh bởi một hệ thống ý nghĩa không bộc lộ ra ở mức độ cao. [David J. Cain & Julius Seeman. (eds) (2001). Humanistic Psychotherapies: Handbook of Research and Practice. Washington, DC: APA, p.507].

Như Keane và cs. (1992) đã chỉ ra, các bệnh nhân PTSD dường như cực kỳ yếu ớt trong các giai đoạn đầu của tiến trình trị liệu và tự thân nhà trị liệu hóa khổ não khi nghe thấy những sự kiện khủng khiếp mà bệnh nhân định trải nghiệm.

Theo Bordin (1959), giải pháp để trị liệu tâm lý ảnh hưởng tích cực đến bệnh nhân chính là ở mối quan hệ của bản thân anh ta đối với nhà trị liệu. [Allen E. Bergin & Sol L. Garfield. (eds) (1971). Handbook of Psychotherapy and Behavior Change: An Emperical Analysis. USA: John Wiley & Sons, Inc, p.160].

Đồng thời, theo Mearn (1991) chưa kể đến một trong những nghịch lý to lớn khi tham vấn/ counselling cũng như trị liệu/ psychotherapy là đặc tính của một mối quan hệ hết sức cởi mở và dù thế, vẫn hàm chứa những cách thức hai người trải nghiệm về nhau còn chưa nói ra. [Dave Mearn. (2003). Developing Person-Centred Counselling. (2nd edn). London: Saga Publication, p.64].

Các bệnh nhân PTSD cần một môi trường không mang nguy cơ đe doạ và một thái độ quan tâm, chấp nhận, thấu hiểu từ phía người chăm sóc, trị liệu. [Dolorex F. Saxton & Phyllis W. Haring. (1984). Care of Patients with Emotional Problems. (4th edn). USA: the C.V. Mosby Company, p.91].

Cuộc sống của họ dễ bị phá vỡ bởi nhạy cảm đau đớn giữa các cá nhân; họ cũng rất dễ phản ứng thái quá với những sự kiện nhỏ bé, chẳng đáng kể gì.

Hơn nữa, cả lý thuyết và thực tiễn trị liệu tâm lý khẳng định [Cain, op.cit., p.168]:

a)Hiệu quả trị liệu được dự đoán dựa trên mối quan hệ của nhà trị liệu và thân chủ đối với việc nối kết giữa các nguồn lực bên trong và bên ngoài của thân chủ. (Hubble et al, 1999);

b)Kiểu hình và kỹ thuật trị liệu chỉ đóng góp phần nhỏ so với ảnh hưởng của mối quan hệ và những nguồn lực của thân chủ, nếu chúng không đi kèm với các điều kiện thông thường. (Hubble et at., 1999);

c)Các biến số của mối quan hệ hầu như liên quan chặt chẽ với hiệu quả trị liệu chính là các điều kiện thông thường: sự thấu cảm, chân thành và tôn trọng tích cực vô điều kiện (Bozarth, 1998; Patterson, 1984; Stubbs & Bozarth, 1994).

Do đó, một cách tiếp cận tích hợp nên sớm được triển khai mạnh mẽ: nhìn nhận các kỹ thuật và các mối quan hệ như một cái gì hòa quyện không thể tách rời, và sự biến chuyển của thân chủ sẽ gắn chặt trực tiếp với các chiều kích khác nhau đối với mối quan hệ này. [Jeffrey A. Kottler, Thomas L. Sexton, & Susan C. Whiston. (1994).
The Heart of Healing: Relationships in Therapy. California: Jossey-Bass Publisher, p.275].

Các nhà trị liệu vốn vẫn được đào tạo để quan hệ với thân chủ và đánh giá trải nghiệm của thân chủ thông qua các khái niệm và kỹ thuật. Một trong những lý do: nghĩ mình là chuyên gia.

Song kỳ thực, thì chính thân chủ, chứ không phải ai khác, mới luôn là chuyên gia giỏi nhất về đời sống của bản thân họ. [Cain, op.cit., p.147].

Dù trường hợp của cựu chiến binh ĐTL (chúng tôi sẽ mô tả cụ thể ca lâm sàng này sau) khác biệt về văn hóa, địa lý và chiến tuyến, nhưng có lẽ cũng sẽ rất thú vị nếu đề cập đôi nét vế sự tác động của PTSD đối với cựu chiến binh
ngoại quốc.

Trước hết, xin trình bày lịch sử của khái niệm PTSD.

Xa xưa, hồi Nội chiến 1865/ Civil War ở Hoa Kỳ, tài liệu đã ghi lại rõ ràng về một hội chứng tựa như PTSD dưới tên gọi: hội chứng Da Costa.

Từ thời Chiến tranh Thế giới lần thứ nhất, PTSD được gọi bằng thuật ngữ “shell-shock” để chỉ sự suy nhược thần kinh do chiến tranh gây ra (Từ điển bỏ túi Oxford, 1994); đến thời kỳ Chiến tranh Thế giới lần thứ hai thì mang tên “battle fatigue”, hoặc là “operational exauhstion” trong Chiến tranh Triều Tiên nhằm nêu rõ danh sách các triệu chứng kiệt quệ, suy sụp của những người bị phơi nhiễm với hỏa lực pháo binh, trận tấn công và đánh bom.

Ngày nay, “shell-shock” được xem là một trạng thái tâm thần mà ở đó cá nhân bị dồn vào thế hiểm nguy đến độ có thể bật khỏi đời sống xã hội, nguyên do ở chỗ không chống cự nổi với bất cứ chứng bệnh loạn thần/ psychoses hoặc tâm căn/ neuroses nào. [Encyclopedia of Psychology, mục từ: Post-Traumatic Stress Disorder;
Từ điển.]

Và rồi, PTSD nhanh chóng được biết đến ngay sau giai đoạn chiến tranh của người Mỹ tại Việt Nam/ Vietnam War.

Tỷ lệ mắc PTSD phổ dụng ở Hoa Kỳ từ 1-3% dân số (Helzer, Robins, & McEvoy, 1987), chiếm trên 2 triệu người. Với đối tượng thường dân bị phơi nhiễm do một sang chấn thể lý, tỷ lệ PTSD là 3,5%, còn thuộc nhóm có những tổn thương thời tham chiến tại Việt Nam thì lên đến 20%.

Kết quả một nghiên cứu dịch tễ trong 4 năm của Trung tâm Kiểm soát dịch bệnh Hoa Kỳ trên xấp xỉ 15.000 cựu chiến binh tại Việt Nam cho thấy, 15% bị PTSD do sang chấn liên quan đến chiến sự từ khi họ giải ngũ. (Roberts, 1988).

Tỷ lệ đó cao hơn ở số cựu chiến binh người Mỹ gốc Phi với các triệu chứng thời hậu chiến Việt Nam (Neal & Turner, 1991), các nhà nghiên cứu lý giải nguyên do ở mặc cảm tội lỗi khi phải chiến đấu chống lại một dân tộc có lịch sử bị áp bức lâu dài (Oxley, 1987; Parson, 1984).

Nghiên cứu những người sống sót trong các trại tập trung của Đức quốc xã/ Nazi và binh lính trở về sau chiến tranh, cho thấy các triệu chứng của PTSD hãy còn lưu dấu 20, 30, thậm chí đến 40 năm sau (Krystal, 1968; Kluznit et al., 1986).

Gần đây hơn, các cựu chiến binh thời Chiến tranh Thế giới thứ hai và Triều Tiên vẫn còn xếp hàng vào phòng cấp cứu tại Bệnh viện Quản lý Cựu chiến binh thành phố New York với các triệu chứng của PTSD, sau 60 năm rời quân ngũ. [Amanda Garder.
PTSD-60 years later.]

Đáng tiếc thay, theo Lehman và cộng sự (1987), nhiều người bị phơi nhiễm với các sự kiện sang chấn gây nên PTSD lại không hề tìm kiếm sự hỗ trợ của giới chuyên môn.

Tái hiện, ký ức về các trận đánh có thể dẫn đến chết sớm hơn ở người bị PTSD. Thống kê theo ngành nghề, tỷ lệ mắc PTSD của các cựu chiến binh trong chiến tranh Việt Nam dao động từ 5 đến 20%; họ có những biểu hiện suy nhược lan tỏa và dai dẳng trong tính cách. [Alarcón, sđd, p.127].

Những cựu chiến binh sau chiến tranh Việt Nam phải chịu nhiều thiệt thòi trong các lĩnh vực giáo dục, xã hội va việc làm. Tỷ lệ tự tử của nhóm này lên tới 25%, cao hơn nhiều so với cộng đồng dân cư. [Polloc et al., 1990; Peterson, Proust & Schawars, 1991].

Theo Báo cáo của BS Lâm Xuân Điền, Giám đốc Tâm thần Bệnh viện tại Hội thảo khoa học Việt-Mỹ (15-16.3.2004), thì cuộc điều tra trên 861người ở TP. Hồ Chí Minh cho thấy: 100% số người bị PTSD đều có triệu chứng kéo dài trong 3 tháng; có đến 60% triệu chứng tồn tại tồn tại trong vòng 40 năm. [
60% bị rối loạn stress sau chấn thương kéo dài.]

Cũng theo nghiên cứu này, gần 60% số ca xuất hiện các triệu chứng PTSD trong vòng 1 tháng sau khi bị sang chấn; dạng khởi phát muộn (sau 6 tháng) chiếm 27%; trên 80% thường xuyên nhớ lại các sang chấn ngoài ý muốn, có giấc mơ xấu về sang chấn, căng thẳng mãnh liệt khi gặp các dấu hiệu gợi ý sang chấn; hơn 90% bị toát mồ hôi, tim đập nhanh, run rẩy khi gặp các dấu hiệu sang chấn.

Trung tâm Quốc gia Hoa Kỳ về bệnh PTSD đưa ra con số: khoảng 8% phụ nữ và 20% nam giới có dấu hiệu PTSD, và ước chừng 30% trong số này tiến triển thành thể mãn tính kéo dài suốt đời. [
What is posttraumatic stress disorder?]

Ước tính 7,8% dân Mỹ sẽ trải nghiệm PTSD ở một thời điểm nào đó trong đời. Khoảng 3,6% người lớn (18-54 tuổi) ở Hoa Kỳ, chiếm 5,2 triệu dân, mắc PTSD ở giai đoạn đã xác định; 88% nam giới và 79% phụ nữ mắc PTSD, đồng thời phù hợp với tiêu chuẩn chẩn đoán của một rối loạn tâm thần khác.

Thực tế cho thấy, một số người có khả năng điều chỉnh sự đáp ứng với stress cấp tính, do đó, họ lấy lại được sự cân bằng nội môi tâm sinh lý. Nếu tác nhân gây stress cấp đe dọa nghiêm trọng trách nhiệm xã hội và chức năng tác nghiệp, thì theo ICD-10 có thể nghĩ đến rối loạn phản ứng stress cấp (mã F43.0).

Chẩn đoán Rối loạn phản ứng stress cấp (ASD: Acute Stress Disorder) nếu các rối loạn tâm thần hoặc tình thế y khoa khác không cung cấp sự giải thích tốt hơn về triệu chứng của bệnh nhân; nếu triệu chứng tồn tại sau 1 tháng, chẩn đoán PTSD (Morrison, 1995). Khoảng 60% người vượt thoát khỏi phản ứng stress cấp trong vòng 1 tháng và họ không hề có biểu hiện mắc PTSD.

1. Sang chấn

Theo Từ điển bỏ túi Oxford (1994), nếu có thể hiểu stress là áp lực, hay là sự căng thẳng về mặt tâm thần và thể lý thì sang chấn/ trauma lại được diễn giải là cú sốc cảm xúc sâu sắc hoặc tổn thương thể lý, có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp mang nghĩa vết thương/ wound.

Còn theo phiên bản 10 của Danh sách phân loại các chứng bệnh trên thế giới (ICD-10: International Classification of Diseases, 10th Edition) do Tổ chức Y tế thế giới WHO công bố vào năm 1992, thì sang chấn có tính chất đe dọa hoặc thảm họa đặc biệt, và có thể gây ra đau khổ lan tràn cho hầu hết bất cứ ai (tai họa thiên nhiên hoặc do người gây ra, trận đánh, tai nạn nặng nề, chứng kiến cái chết thảm khốc của người khác hoặc là nạn nhân của tra tấn, khủng bố, hãm hiếp hoặc tội ác khác. [WHO. (1992). ICD-10. Hà Nội: Bản dịch của Viện Sức khỏe tâm thần, tr. 125].

Trong phiên bản 4 của Sổ tay chẩn đoán và thống kê các rối loạn tâm thần (DSM-IV: Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders, 4th Ed.) của Hiệp hội Tâm thần Hoa Kỳ (APA: American Psychiatric Association) phát hành vào năm 1994 đã đưa thêm một khía cạnh xa hơn: vai trò đáp ứng chủ quan của người đã trải qua, làm chứng hay đương đầu với một hoặc các sự kiện liên quan đến “cái chết thực sự hay đe dọa, vết thương trầm trọng, hoặc một sự đe dọa đến sự toàn vẹn cơ thể của bản thân hay những người khác”.

Một nghiên cứu ở Hoa Kỳ cho hay :gần ¾ trong số 1000 người trưởng thành đã trải qua sự kiện sang chấn; 1/5 trước đó một năm còn sống độc thân. [Sidney Block & Bruce S. Singh. (eds) (2001). Foundations of Clinical Psychiatry. Melbourne University Press/Cơ sở của lâm sàng Tâm thần học. (2003). Trần Viết Nghị và các cs. biên dịch. Hà Nội: Nxb. Y học, tr. 144].

Những người bị sang chấn luôn luôn do dự đối với việc tiết lộ các trải nghiệm riêng tư. Phụ nữ có thể phủ nhận vấn đề bạo lực trong gia đình nhằm xây đắp ảo tưởng về sự hòa thuận, hoặc là tránh khỏi phải thừa nhận cảm giác về sự bất lực của bản thân (ibid.loc.cit).

Sang chấn có thể có một lọat hậu quả khác, ngoài hậu quả gây khởi phát các rối loạn tâm thần.

Sang chấn tác động lên sức khỏe thể chất và sự lão hóa, có thể do ảnh hưởng của chúng lên sự ổn định nội môi sinh lý cũng như sự thay đổi lối sống như lạm dụng chất hay tự buông thả.Và con người thường bị tác động bởi những hồi ức khiếp sợ nhiều hơn là bản thân sự kiện gây sang chấn ấy.

2. Rối loạn stress sau sang chấn

Khi một người bị phơi nhiễm với một sự kiện gây sang chấn phát triển thành các triệu chứng lo âu, trải nghiệm lại sự kiện gây sang chấn, và tránh kích thích liên quan đến sự kiện gây sang chấn trong vòng 4 tuần lễ thì tức là họ có thể bị khốn khổ bởi rối loạn lo âu này: Rối loạn stress sau sang chấn/ PTSD: Post- Traumatic Stress Disorder.

Có thể hiểu, PTSD là hiện tượng các nạn nhân của các thảm họa khủng khiếp/ catastrophes trải nghiệm lại các yếu tố gây stress thêm lần nữa, đồng thời kết hợp với các cảm giác trong các mảng hồi tưởng/ flashbacks và các cơn ác mộng/ nightmares sống động.

Tài liệu PTSD nhấn mạnh vai trò tới hạn của cảm ứng/ critical role of arousal và việc làm trọn vẹn sự chế biến cảm xúc trong vấn đề điều trị sang chấn theo liệu pháp Nhận thức-hành vi, một cách tiếp cận được đánh giá là thông dụng và hiệu quả với PTSD.

3. PTSD- cơ sở lý thuyết và những kết quả nghiên cứu

PTSD có thể được giới chuyên môn gọi là Rối loạn tâm căn sau sang chấn [Nguyễn Minh Tuấn. (2002) (tb. lần thứ hai). Các rối loạn tâm thần- chẩn đoán và điều trị. Hà Nội: Nxb. Y học, tr. 2-tr.7]; hoặc trên phương tiện thông tin đại chúng, có người dịch PTSD là “rối loạn tâm thần hậu thảm kịch”. [Duyên Trường phỏng vấn Th.S Lê Thị Thu Hằng: Cựu chiến binh Mỹ trong chiến tranh Việt Nam: những nạn nhân không rõ mặt. Báo Tuổi trẻ Chủ nhật, số 37/ 19.9.2004].

Bên cạnh đó, cũng từng có nghiên cứu (Shalev et al., 1994) cho thấy tự thân sự kiện sang chấn không thể là nguyên nhân duy nhất của PTSD, chỉ 25% số người trải nghiệm sang chấn dẫn đến tổn thương thực thể mà kết cục là mắc PTSD. [Gerald C. Davidson & John M. Neale. (1998) (7th edn). Abnormal Psychology. USA: John Wiley & Sons, Inc., p.147].

Xét riêng về góc độ giới, tại Hoa Kỳ, theo công bố của Kessler và cs. (1994) có 12% số phụ nữ mắc PTSD khi đáp ứng với cùng loại sang chấn, cao gấp 2 lần so với nam giới. Các nhà nghiên cứu xem PTSD như là nguy cơ tâm lý chủ yếu đối với phụ nữ. [Robert S. Feldman. (1997) (3rd edn). Essentials of Understanding Psychology. USA: The McGraw-Hill Companies, Inc., pp.432-433]

Tuy thế, khi từ bỏ sử dụng thuật ngữ “rối loạn tình thế thoáng qua” hàm ý mô tả sự đau khổ cấp tính sau tai họa [Sidney, sđd, tr.145] và với việc lần đầu tiên được đưa vào danh mục chẩn đoán trong DSM-III (APA, 1980), khái niệm PTSD đã đánh dấu quá trình thay đổi căn bản nhận thức rằng, sự kiện sang chấn có thể tác hại nghiêm trọng đến cuộc sống tâm lý của con người.

Một số triệu chứng thường gặp

Cụ thể, theo DSM-IV, tiêu chuẩn chẩn đoán PTSD (309.81) là:

A. Người bị phơi nhiễm với một sự kiến sang chấn khi có cả hai đặc điểm sau:

* Người đó đã trải nghiệm, chứng kiến hay phải đối mặt với một hoặc nhiều sự kiện có liên quan đến cái chết thực sự hay đe dọa hoặc vết thương trầm trọng, hoặc sự đe dọa đến sự toàn vẹn cơ thể của bản thân hay những người khác.

* Đáp ứng của người đó là khiếp sợ, tình trạng bất lực hay ghê rợn. Chú ý: ở trẻ em, điều này có thể được thể hiện dưới một hình thức khác thay thế là hành vi kích động hoặc phá rối.

B. Sự kiện gây sang chấn tái diễn dai dẳng theo một hay nhiều cách:

* Sự tái hiện sự kiện sang chấn và những hồi ức đau khổ về sự kiện ấy, bao gồm những hình ảnh, ý nghĩ hay tri giác. Chú ý: ở trẻ nhỏ, sang chấn có thể biểu hiện ở những chủ đề hay khía cạnh nào đó của một trò chơi lặp đi lặp lại.

* Tái hiện những giấc mơ đau khổ về sự kiện sang chấn. Chú ý: trẻ em có thể có những giấc mơ gây hoảng sợ mà không có nội dung rõ rệt.

* Họat động hay cảm giác như thể sự kiện gây sang chấn đang tái hiện (bao gồm cảm giác hồi tưởng lại sang chấn, ảo tưởng, ảo giác và các giai đoạn hồi tưởng riêng rẽ xảy ra lúc tỉnh hay khi bị nhiễm độc.) Chú ý: ở trẻ nhỏ, có thể xảy ra hiện tượng tái hiện sang chấn đặc hiệu.

* Sự đau khổ tâm sinh lý mãnh liệt khi phơi nhiễm với các yếu tố tiềm tàng nội tâm hay bên ngoài tượng trưng hay giống một khía cạnh nào đó của sang chấn.

C. Né tránh dai dẳng trước các kích thích gợi lại sang chấn và sự tê liệt đáp ứng (không xảy ra trước sang chấn) như được thấy ở 3 (hay nhiều hơn) trong số các đặc điểm sau:

* Những cố gắng tránh những ý nghĩ, cảm giác hay đàm thoại liên quan đến sang chấn.

* Những cố gắng tránh những họat động, địa điểm hay những người gợi lại sang chấn ấy.

* Không có khả năng gợi lại khía cạnh quan trọng của sang chấn.

* Giảm các mối quan tâm hay sự tham gia họat động có ý nghĩa.

* Cảm giác thờ ơ hay xa lánh người khác.

* Thu hẹp phạm vi cảm xúc (ví dụ như không thể có cảm giác yêu.)

* Bi quan với tương lai (ví dụ như không hy vọng vào nghề nghiệp, hôn nhân, con cái, hay một quãng đời bình dị).

D. Các triệu chứng dai dẳng có tính chất bi kịch (không xảy ra trước sang chấn) như được thấy ở 2 hay nhiều hơn trong số các đặc điểm sau:

* Khó đi vào hay bắt đầu giấc ngủ.

* Dễ bị kích thích hay những cơn giận dữ.

* Khó tập trung.

* Quá thận trọng.

* Đáp ứng giật mình quá mức.

E. Thời gian kéo dài của rối loạn này (các triệu chứng ở tiêu chuẩn B, C và D) trên 1 tháng.

F. Rối loạn này gây ra sự đau khổ rõ rệt về lâm sàng hay tật chứng về xã hội, nghề nghiệp hay các lĩnh vực họat động quan trọng khác. (ibid.loc.cit).
ICD-10 cũng như DSM-IV, chỉ ra các triệu chứng điển hình của PTSD, bao gồm sự tái diễn những giai đoạn sống lại sang chấn bằng cách nhớ lại bắt buộc (“mảng hồi tưởng”) hoặc các giấc mơ, xảy ra trên nền tảng dai dẳng của cảm xúc “tê cóng” và sự cùn mòn cảm xúc, tách khỏi những người khác, không đáp ứng với môi trường xung quanh, mất thích thú, né tránh các đáp ứng, né tránh các họat động và các hoàn cảnh gợi lại sang chấn… Thường thường có trạng thái tăng quá mức thần kinh tự trị với tăng cảm giác, tăng phản ứng giật mình và mất ngủ. [WHO, sđd, tr.125-tr.126].

Nói chung, các đặc điểm chẩn đoán được mô tả trong ICD-10 và DSM-IV khẳng định PTSD phải là sự đáp ứng cực đoan sau một sang chấn khốc liệt, ví dụ như tham chiến, thảm họa tự nhiên, khủng bố, hỏa hoạn, hành hung bạo lực cá nhân (bị tra tấn, nhục hình, hiếp dâm,..),v.v…

Tuy phổ biến là cái chết hay thương tật thảm khốc của người thân, song chính hãm hiếp mới dẫn đến tỷ lệ PTSD cao nhất. Nguời ta cũng đã phát hiện thấy những người bị PTSD lâu nhất là sau vụ nổ đập nước nhánh sông Buffalo vào năm 1972 ở Hoa Kỳ. [Sidney, sđd, tr.159].

Sử dụng MMPI, Fairbank, McCafferty & Keane (1985) đã tiến hành khảo sát về các đặc điểm nhân cách của hai nhóm (để đối chứng) gồm 200 đối tượng cựu chiến binh mắc PTSD. Kết quả, có sự phân biệt dứt khoát giữa hai nhóm, với biểu hiện lo âu, trầm cảm và cô lập xã hội.

Nỗi niềm của trẻ em phải chịu đựng PTSD thực sự khác xa so với người lớn. Nhiều trẻ mất các kỹ năng triển nở/accquired developmental skills đã tập nhiễm được, như thói quen phát ngôn và đi vệ sinh.

Những phụ nữ từng bị cưỡng hiếp thường có nhiều triệu chứng của PTSD ngay sau khi trải nghiệm sang chấn. Họ tỏ ra rất lo lắng, luôn than vãn về chứng đau dạ dày, nhức đầu, hay giật mình/ jumpiness, mất ngủ, và vô số dấu hiệu căng thẳng khác, một số biểu lộ cơn ám ảnh sợ. [Camille B. Wortoman, Elizabeth F. Loftus & Mary E. Marshall. (1992) (4th edn). Psychology. USA: The McGraw-Hill, Inc, pp.497-498].

Trong số người mắc PTSD, Southwick, Yehuda & Giller (1993) đã nhận thấy tỷ lệ cao các rối loạn nhân cách kiểu ranh giới/bordelines dạng phân liệt/ schizotypal, hoang tưởng bộ phận / paranoid, ám ảnh cưỡng bức/ obssesive-compulsive,và né tránh. [Renato D. Alarcón, Edward F. Foulks & Mark Vakkur. (1998). Personalitiy Disorders and Culture: Clinical & Conceptual Intereations. USA: John Wiley & Sons, Inc, pp.98-99].

Đại khái, các triệu chứng PTSD có thể được phân thành 3 nhóm cơ bản:

1. Trải nghiệm lại các sự kiện gây sang chấn

Người mắc PTSD thường có những mảng hồi tưởng và kinh qua các cơn ác mộng về sự kiện sang chấn; tính chất phân ly/ dissociative là một phần quan trọng của chúng nhằm giảm lo âu.

Đáng lưu ý, một số lý thuyết nhấn mạnh bản chất của PTSD là sự thiếu khả năng gắn kết sự kiện sang chấn với hệ xác tín đã thành hình về thực tại/ schema của người bệnh (Foa, Zinbarg, & Rothbaum, 1992; Horowitz, 1986).

2. Lẩn tránh các kích thích liên quan đến sự kiện sang chấn hoặc là trạng thái tê cóng đáp ứng

Các triệu chứng này dường như có vẻ mâu thuẫn với nhóm 1. Thực tế thì trên bệnh nhân PTSD diễn ra một sự dao động bất thường giữa việc trải nghiệm lại và cảm xúc “chết lặng” khi tiếp xúc với sự kiện sang chấn.

3. Các triệu chứng tăng cảm ứng

Gồm việc khó bắt đầu giấc ngủ hoặc thiếp đi, khó tập trung, đề phòng quá độ, và chứng tật giật thột cả mình một cách cường điệu/ exaggerated starlee response.

Theo Bremner & cs. (1996), Keane & cs. (1992): một số vấn đề khác về PTSD là lo âu, trầm cảm, giận dữ lạm dụng chất/ substance abuse, hôn nhân trục trặc và tật chứng trong tác nghiệp/ occupational impairement.

Ngoài ra, cũng có một vài báo cáo đề cập đến mặc cảm tội lỗi của kẻ sống sót. [Robert L. Spitzer, Miriam Gibbon, Andrew E. Skodol, Janet B. W. Wiliam, & Michael F. First. (1987). Case Book in DSM-III-R., pp.177-178].

Hobfoll & cs. (1991) cho biết: bên cạnh những ý định lập kế hoạch tự tử thường gặp ở người mắc PTSD, còn có một số trục trặc tâm-sinh lý cũng liên quan đến P’TSD như các chứng đau lưng, nhức đầu, và vài rối loạn dạ dày-đường ruột/ gastrointestinal disorders.

(Ngày mai: Mô tả lâm sàng một trường hợp rối loạn stress sau sang chấn)

Bài đăng cũ hơn Trang chủ