Hơn một tháng trước (05.4.2006), nhà xuất bản Houghton Mifflin nổi tiếng đã phát hành cuốn 100 Science Words Every College Graduate Should Know/ 100 từ khoa học mỗi Cử nhân nên biết, do các biên tập viên của American Heritage® Dictionaries biên soạn.

Có nhiều từ vựng hoàn toàn mới; thậm chí, nói ra thì xấu hổ song thú thực tôi chẳng bao giờ nghĩ nó tồn tại nữa, như kwashiorkor/ chứng suy dinh dưỡng ở trẻ em; hoặc rất bất ngờ vì cách tạo từ: telomere (chưa biết nghĩa chính xác thế nào).

Tuy nhiên, tôi cũng lấy làm vui vì nhặt được một số từ gợi hứng, chẳng hạn: anaphylaxis/ phản vệ (psychic anaphylaxis: phản vệ tâm thần); vestigial/ còn lại tựa một dấu vết,…

Nhìn
danh sách, thấy 100 từ thuộc các lĩnh vực Sinh học, Vật lý, Y khoa, Địa chất, Khoa học máy tính, Thiên văn, Tâm lý, Hóa học,…; đặc biệt nhất là từ theory/ lý thuyết thì có lẽ phải để nó thoải mái đứng độc lập vậy.

Riêng về Tâm lý học, hình như gồm có tất cả 6 từ sau:

-Agoraphobia/ chứng ám sợ khoảng không;

-Cognitive dissonance/ tình trạng thiếu hòa hợp về mặt nhận thức;

-Munchausen syndrome/ hội chứng Munchausen (một kiểu rối loạn giống như giả vờ, thiếu tự nhiên/ factitious disorder ở dạng mạn tính);

-Pavlovian/ phản xạ có điều kiện;

-REM sleep/ giấc ngủ mắt chuyển động nhanh (Rapid Eye Movement);

-Sex.

Xin lưu ý rằng, đây chỉ là phán đoán chủ quan của cá nhân, vì đến thời điểm này tôi vẫn chưa một lần được chạm vào cuốn sách dày 116 trang này, mà chỉ mới đọc lời giới thiệu của nhà xuất bản.

Theo đó, 100 từ “được định nghĩa bằng thứ ngôn ngữ sáng rõ, không mang tính kỹ thuật, đi kèm với nhiều ví dụ minh họa về tầm quan trọng của mỗi từ, cả dưới góc độ chuyên ngành lẫn trong đời sống thường nhật.”

Trở lên trên là nói chuyện sách bên trời Tây.

Tại Việt Nam, bằng ngôn ngữ tiếng Việt- liên quan đến thuật ngữ, khái niệm, từ khóa về Tâm lý học-, vài năm trước cũng có đôi ba cuốn Từ điển do người trong nước dựa vào tài liệu nước ngoài để biên dịch hoặc biên soạn ra (nổi tiếng nhất có lẽ là sách do cố BS Nguyễn Khắc Viện chủ biên chuyên về tâm lý học lâm sàng Anh-Pháp-Việt, và Từ điển Tâm lý học đứng tên TS. Vũ Dũng- Viện Tâm lý học?)

Số lượng đã ít, chất lượng khó lượng giá và hiệu quả thiết thực đối với người sử dụng sách còn phải bàn…

Thế mới biết, sinh viên khoa Tâm lý thiếu trầm kha loại sách công cụ. Thực tế, không phải các thầy, cô giáo, các vị Giáo sư, Tiến sĩ, Thạc sĩ, Cử nhân nào cũng chịu khó tham khảo, nghiên cứu, chuyển ngữ từ nguồn sách, báo Tâm lý học nước ngoài cực kỳ phong phú.

…Hơn 40 năm trước (1964), trên bìa một cuốn sách giáo khoa Tâm lý học đại cương của sinh viên năm thứ nhất thuộc trường Đại học Sư phạm I Hà Nội có ghi đôi dòng cảm khái:

Tưởng rằng tâm lý là hay,
Nào ngờ nó chán thế này bạn ơi!
Dẫn lại câu thơ trên, vị giáo sư đã quá cố Phạm Hoàng Gia, một trong những tác giả của bộ giáo trình Tâm lý học đầu tiên của Việt Nam (1959, cùng với Đức Minh, Phạm Cốc và Đỗ Thị Xuân), bình luận trong một bài viết cách đây 15 năm (Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục, số 10/1991):

“…Đối với môn học nào thì khuyết điểm này còn có thể tạm chấp nhận được, nhưng đối với chính Tâm lý học thì thật khó chấp nhận: học bài “Tư duy” mà sinh viên không phải động não, học bài “Tình cảm” với thái độ lạnh lùng, không thiện cảm, học bài “Hứng thú” với tinh thần… chán ngấy, v.v… thì quả thật là nhức nhối, không thể chịu được!…”

Đến hôm nay, xem ra tình hình dạy và học Tâm lý ở Việt Nam vẫn tiếp tục “thử và sai”, chưa tạo được chuyển biến gì ghê gớm lắm.

Là đối tượng chịu thiệt hơn ai hết, sinh viên Tâm lý đành phải tự cứu bản thân, trước khi Trời cứu vậy. Ít nhất, bằng cách soạn một cuốn từ điển cho riêng mình.

Đây là gợi ý của một sinh viên ngành Điện ảnh Nhật Bản [Ankatani, Akihiro. (2004). 50 việc cần làm trong khi học đại học. (Trương Huyền dịch). TP.HCM: Nxb. Trẻ, tr.49- tr.51]:

…Từ điển cho chính mình”… có nghĩa là hình thành thế giới quan của riêng mình. Cố gắng hết sức để có được ý kiến, quan điểm riêng độc đáo của mình.

Bình thường, chúng ta đều sống trong thế giới từ điển của người khác. Trong từ điển thường có ghi rõ những nhận thức phổ biến của mọi người. Nhưng bạn phải dùng ngôn ngữ của chính mình để đặt những ý kiến, quan điểm của mình thành những định nghĩa. Đặt ra những định nghĩa có nghĩa là hình thành nên ý kiến, quan điểm của bạn. Đây là một quá trình nhận thức...
Gọn lại, cách Tây- hay; sách ta- cay; tự tay- xây! Đề nghị hấp dẫn và đáng làm: một cuốn từ điển mà bạn chính là tác giả. Bạn nghĩ thế nào?

Bài đăng Mới hơn Bài đăng Cũ hơn Trang chủ