I. Kết quả

Trên cơ sở đối tượng và phương pháp nghiên cứu xác định, chúng tôi đã tiến hành công việc, xử lý số liệu theo tiêu chí trắc nghiệm và tuân thủ các nguyên tắc toán xác suất- thống kê.

Thực tế, kết quả test Rorschach mang tính tổng thể, thống nhất giữa các yếu tố.

Dưới đây, chúng tôi nêu ra một số điểm chính yếu, nổi bật và bàn luận về những vấn đề liên quan nảy sinh khi áp dụng test Rorschach trong bối cảnh lâm sàng Tâm thần phân liệt tại Khoa A6- Bệnh viện Quân y 103 (n= 32), có so sánh với kết quả nhóm Học viên, cán bộ làm việc tại Học viện Quân y (n= 35).

Trong nghiên cứu này chúng tôi chỉ tập trung xử lý một số kết quả chính yếu liên quan đến các vấn đề cơ bản của test Rorschach: số lượng câu trả lời; định khu; ưu thế; nội dung câu trả lời.

*I.1- Số lượng câu trả lời

Xin nhắc lại, như đã đề cập cụ thể, với mỗi hình có thể có một hoặc một số câu trả lời. Số lượng câu trả lời của 2 nhóm được trình bày trong bảng số lượng câu trả lời của 2 nhóm.

Theo đó, mặc dù,cả hai nhóm đều có cùng số tối đa (R = 7 câu trả lời/ 1 hình) và tối thiểu (không có câu trả lời), song chỉ số trung bình ở nhóm TTPL thấp hơn nhiều so với nhóm học viên (22, 32 so với 14,44). Sự khác biệt này đáng kể về mặt thống kê (p<0,001).>

Để có cơ sở đánh giá khách quan và đúng đắn hơn về sự khác biệt trong số lượng câu trả lời của 2 nhóm, chúng tôi xác định số lượng câu trả lời trung bình qua từng hình, kết quả tổng hợp được trình bày tại bảng. Theo đó, ở hình I tập trung cao nhất số lượng câu trả lời (với nhóm TTPL) và thấp nhất (với nhóm Học viên). Mặt khác, bảng 2 cũng cho thấy, nói chung ở nhóm TTPL có câu trả lời trung bình đều thấp ở tất cả các hình (trừ hình I) và đặc biệt thấp ở hình IX (chỉ có 0,62 câu trả lời).

*I.2- Định khu

Xin nhắc lại, tùy theo câu trả lời bao quát toàn bộ hình hay chỉ là một bộ phận của hình/ chi tiết nhỏ mà các câu trả lời được mã hóa (theo tiếng Anh). Kết quả định khu các câu trả lời được trình bày ở bảng.

Theo đó, những câu trả lời bao quát toàn hình ở nhóm Học viên Quân y khá cao (66,62%); trong khi đó ở nhóm TTPL, tỷ lệ này chỉ chiếm 46,79%. Sự khác biệt này là đáng kể về mặt thống kê. Sự khác biệt cũng đáng kể ở chỉ số chi tiết nhỏ (Dd): ở nhóm TTPL là 18,83%, còn ở nhóm Học viên là 8,18% (p<0,05).>

*I.3- Ưu thế trong câu trả lời

Một lần nữa, cần lưu ý rằng, tuỳ theo yếu tố nào đóng vai trò chủ đạo, mà các câu trả lời được mã hoá: F- hình dáng chiếm ưu thế (ví dụ, “con dơi”); M- vận động của người (“2 người nhảy múa”). Kết quả theo các chỉ số ưu thế được trình bày ở bảng.

Theo đó, kết quả cho thấy, hình dáng chiếm ưu thế trong 219 câu trả lời của nhóm TTPL có tỷ lệ 47,0%, thấp hơn đáng kể so với 62,19% của nhóm Học viên (p<0,001).>


I.4- Nội dung câu trả lời

Một nhóm chỉ số khác cũng được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và cũng được mã hoá theo tiếng Anh, đó là các chỉ số nội dung. Kết quả nội dung các câu trả lời được trình bày trong bảng.

Theo đó, ở nhóm TTPL, nội dung động vật chiếm hơn một nửa số trường hợp (51,74%), cao hơn nhiều so với nhóm Học viên (31,07%). Sự khác biệt này là đáng kể về mặt thống kê (p<0,001).khung xương chậu”, “đốt sống”, “tế bào thần kinh”,… Chỉ số này ở nhóm TTPL chỉ chiếm 2,6% số câu trả lời; trong khi đó, ở nhóm Học viên, chỉ số Anat lên đến 14,90%.

Như kết quả ở bảng cho thấy, nội dung động vật (bao gồm A và Ad) chiếm tỷ lệ khá cao trong số các câu trả lời của cả 2 nhóm; mặt khác, các câu trả lời cũng nói về nhiều loại động vật khác nhau.
Đáng lưu ý, đồ vật và thiên nhiên (phong cảnh) ít được nhìn thấy. Ngoài ra, trong khi chỉ số phong cảnh LS và trang trí hoa văn Or xuất hiện trong trả lời của nhóm Học viên mà thôi và có tỷ lệ thấp nhất, thì nội dung trả lời đồ vật Obj lại chỉ biểu hiện ở nhóm TTPL; mặt khác, cũng thấy nổi lên tỷ lệ nhìn theo góc độ giải phẫu của nhóm Học viên Quân y.

Trong các dạng, động vật được nhìn thấy nhiều nhất. Nhằm nhận diện loại động vật nào xuất hiện trong các câu trả lời, chúng tôi trình bày tần suất phân bố của các dạng động vật theo từng hình.

Kết quả cho thấy, động vật có cánh (dơi, bướm, cánh cam, đại bàng, cú vọ, phượng hoàng, chim chích bông, gõ kiến, bọ hung,…) chiếm tỷ lệ khá cao ở các hình I, II, IV và đặc biệt là ở hình V.

Trong khi đó, động vật 4 chân (gấu, hổ, hươu, lợn, trâu, ngựa, mèo, báo, sư tử, bò, chó, sóc, thỏ, chuột,…) chiếm ưu thế ở các hình II, VII và VIII. Sự khác biệt chủ yếu của 2 nhóm diễn ra ở các hình II, III, IV và X về nội dung động vật có cánh; ở hình III về nội dung động vật 4 chân, và ở hình IX về những dạng động vật khác (rắn, nhện,...)

Cá (cá ngựa, cá đuối, cá mập,...) tương đối ít được nhìn thấy và với đối tượng mắc TTPL chỉ xuất hiện ở hình III.

Trở lên trên, chúng tôi vừa trình bày toàn bộ kết quả dưới hình thức bảng biểu để xử lý theo các chỉ số cơ bản của test Rorschach. Khái quát sơ bộ, có thể tạm thời khẳng định rằng, kết quả nghiên cứu gây ấn tượng phần nào về cách đáp ứng không giống nhau giữa hai nhóm.

Dưới đây, xin bàn luận chung xoay quanh những vấn đề đã được xác định và rồi sẽ đi sâu phân tích một số trường hợp điển hình, nhằm tiếp tục công việc kiểm tra giả thuyết đặt ra từ đầu cuộc nghiên cứu là: có sự khác biệt đầy ý nghĩa trong kết quả trắc nghiệm Rorschach giữa nhóm TTPL và nhóm Học viên.

II. Bàn luận chung

*II.1- Về số lượng câu trả lời

Rất nhiều tác giả nghiên cứu Rorschach đã đưa ra số lượng câu trả lời trung bình của người bình thường.

Chẳng hạn, theo Beck (1954) là 15,8; theo Piotrowski (1957) là từ 15 đến 30, còn với nghiên cứu của Burlatruk (1979) là 16,8.

Trong nghiên cứu này của chúng tôi, chỉ số trung bình của cả 10 hình ở nhóm Học viên là 22,32.

Như vậy, có thể nhận xét rằng, không có sự khác biệt lớn giữa kết quả của nhóm Học viên- người bình thường- trong nghiên cứu này với kết quả của các tác giả khác.

Số lượng câu trả lời phản ánh tính mềm dẻo của quá trình tri giác, sự phong phú và linh hoạt trong tư duy; ngoài ra, nó còn phản ánh IQ.

Tuy nhiên, có những người bình thường nhưng số lượng câu trả lời thấp, đó là trường hợp họ có “tham vọng chất lượng”; lúc này, câu trả lời trở nên nghèo nàn vì bị ức chế bên trong, song chúng khác câu trả lời bệnh lý bởi hình ảnh đưa ra hầu hết đều có chất lượng cao.

Một đặc điểm của các hình Rorschach là chúng không phải là vật có thực nên ngay sau khi trả lời, nhóm Học viên dường như đã không hài lòng lắm vì họ nhận thấy có vài ba chi tiết chưa hợp lý. Điều này khiến họ lại cố gắng có câu trả lời khác; thực tế, đôi người đã xoay, đảo tư thế, thậm chí lật ngược ra mặt sau của hình để tìm kiếm.

Với nhóm TTPL, chỉ số câu trả lời trung bình trong nghiên cứu của chúng tôi là 14,44 (kết quả trên nhóm TTPL của Burlatruk là 10,7).

Có thể lý giải chỉ số câu trả lời thấp ở nhóm TTPL là do sự suy giảm tính tích cực cá nhân. Người mắc TTPL thường nhanh chóng bằng lòng với 1 hoặc 2 câu trả lời đối với mỗi hình. Gặp những hình khó, ví dụ như hình IX, họ thường nhanh chóng từ chối dưới dạng “Không nhìn ra hình gì cả.

Trước các phản ứng từ chối, không đưa ra được một câu trả lời nào, giới chuyên môn khuyến cáo nên khuyến khích đối tượng, kêu mời họ cố gắng hơn, song không được gợi ý hay chi phối việc của họ.

Theo Loosli-Usteri, một điều chắc chắn là phản ứng này hoạ hoằn lắm mới xảy ra nơi người bình thường và khoẻ mạnh trên bình diện tâm linh. Còn D. Anzieu thì nêu ra những hình thường hay bị từ chối nhất (theo thứ tự): IX, VII, VI, IV và II. Tác giả Zangger lại chỉ rõ ý nghĩa của các hình thường bị từ chối: VI- tính dục; VII và IX- hình ảnh người mẹ,…

Theo Rorschach, phản ứng từ chối là một trong những dấu hiệu đáng lo ngại, cho phép đặt giả thuyết về một tình trạng loạn thần/ psychosis hoặc động não/ organic.

Đem đối chiếu với năng suất toàn diện của đối tượng, sẽ có cái nhìn trung thực hơn. Nếu tổng số số câu trả lời từ chối vượt quá 20%, là dấu hiệu đời sống đương sự đang bị bế tắc và vây toả.

Trong nghiên cứu của chúng tôi, có trường hợp S11 (một người mắc TTPL) đã từ chối 4/10 hình. Đối tượng này có tiền sử chấn thương sọ não, cho biết vài hôm gần buổi làm trắc nghiệm “đã có những hành vi, cử chỉ không tốt đối với xã hội”, “cảm thấy mất lòng tin ở bố”,…

*II.1.2- Về định khu

Test Rorschach tập trung vào mức độ trí tuệ. Do đó, câu trả lời mang tính toàn thể W trở thành chỉ số đo trí tuệ của đối tượng làm trắc nghiệm; các hình III, IX và X rất khó đạt giá trị W cao nhất, trong khi đó hình VII là dễ có giá trị W nhất.

Từ góc độ cách tiếp cận và diễn tiến trắc nghiệm, thống kê của Rorschach trên nhóm người trưởng thành đã đưa ra công thức đáp ứng mong đợi về sự phân bố giữa nhìn tổng thể hình W, bộ phận D và chi tiết nhỏ Dd: “8 W, 23 D, 3 Dd” (Beck, 1950, tr. 83- tr.84).

Theo Burlatruk, có thể đánh giá tính tích cực, đặc điểm tư duy của chủ thể thông qua các chỉ số định khu. Câu trả lời có tính chất tổng thể W chiếm 66,62% ở nhóm Học viên và 46,97% ở nhóm TTPL; sự khác biệt là đáng kể (p<0,001).2 con bọ cạp”…

Qua trắc nghiệm, cũng dễ dàng nhận thấy tính linh hoạt trong tư duy ở nhóm Học viên: sau khi có một vài câu trả lời hướng vào tổng thể của hình, họ thường tiếp tục quan sát, đi sâu vào từng bộ phận, chi tiết và đưa ra câu trả lời.

Ngược hẳn, ở nhóm TTPL, một số chỉ dừng lại với định hướng vào tổng thể hình, một số khác thì tập trung ngay đến các chi tiết/ bộ phận.

Dưới ánh sáng của tổng thể cấu trúc nhân cách, số lượng tuyệt đối D và Dd có sự chỉ định mơ hồ. Xem xét cả số lượng liên quan W, D và Dd mới nói cho chúng ta biết cách tiếp cận của chủ thể khi lao vào các vấn đề của mình như thế nào.

*II.1.3- Về ưu thế câu trả lời

- Theo Klopfer (1970), chỉ số F (hình dáng) chiếm ưu thế không nên vượt quá 60%. Trong nghiên cứu của chúng tôi, chỉ số F ở nhóm Học viên là 62,9%; ở nhóm TTPL có thấp hơn: 47,0% (p<0,001). f =" 60-65%,">chỉ số ưu thế C (màu sắc) ở nhóm TTPL lên đến 14,93%. Đây là những trường hợp đối tượng chỉ gọi tên các màu có trong hình và cho rằng chịu, “không nhìn thấy cái gì”.

Ngay cả khi được hỏi lại liệu nó giống cái gì thì đối tượng cũng chỉ lướt vội qua và tiếp tục khẳng định là không nhìn thấy gì. Chỉ số màu sắc C ưu thế ở nhóm TTPL cao hơn hẳn so với nhóm Học viên: 14,93% so với 1,15%.

Theo Beck (1949), người mắc TTPL có sự đáp ứng lớn với chỉ số C phản ánh sự phụ thuộc của họ vào cảm xúc; họ là “nô lệ của cảm giác” (tr.28).

- Xét thêm chỉ số CF (màu sắc ưu thế hơn hình thể), lại càng đáng lưu tâm; bởi đây là sự đáp ứng của mỗi nhóm TTPL, không được nhóm Học viên chọn lựa.

Việc đáp ứng CF, theo Beck (1949) là đặc tính không những nghèo nàn động cơ thúc đẩy mà còn bộc lộ tính dễ thay đổi trong ứng xử; trên đối tượng TTPL, CF có giá trị một mặt, chỉ định mức độ thoái bộ của cảm xúc, mặt khác, lại cho thấy một trạng thái nằm bên trên tầm hoang dại nhất, và do đó, cấu trúc nhân cách còn khả năng hướng đến viễn cảnh trưởng thành (tr.28).

*II.1.4- Về nội dung câu trả lời

Trong trắc nghiệm Rorschach, nội dung chỉ đóng vai trò thứ yếu; bởi vì, theo giới chuyên môn, quan trọng không phải là điều thấy mà là cách nhìn của đương sự. Mặt khác, tuy không phải là hoàn toàn, để tìm hiểu về nhu cầu con người thì ta thường chú ý đến những gì liên quan đến nội dung.

Nội dung các câu trả lời chủ yếu đề cập đến quá trình phối hợp của đối tượng. Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến nội dung trả lời: thiên hướng, sự thích ứng, nỗi âu lo, ức chế, các mối quan tâm,.. Do đó, ở đây chúng tôi duy trì phương pháp phân tích cơ cấu trong lĩnh vực nội dung câu trả lời.

- Đúng như dự đoán và cũng phù hợp với nhận định của một số tác giả (Piotrowski, 1965), những người làm nghề Y có tỷ lệ câu trả lời Anat (giải phẫu) nhiều hơn.

Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ Anat của nhóm Học viên lên đến 14,96%; trong khi đó, ở nhóm TTPL, tỷ lệ này chỉ có 2,6%.

Một điểm đáng lưu ý nữa, là 117 câu trả lời của nhóm Học viên phân bố cho 28/35 người tham gia làm trắc nghiệm. Trong khi đó, nhóm TTPL chỉ có 5/32 người có câu trả lời Anat. Nếu tính theo số người thì tỷ lệ đối tượng có câu trả lời Anat ở nhóm Học viên là 80,0%, còn ở nhóm TTPL chỉ là 15,62%.

Cũng cần lưu ý rằng, nếu không phóng chiếu vì đặc trưng nghề nghiệp, thì việc chọn Anat bộc lộ một mối quan tâm quá mức về bộ phận trong cơ thể và với sức khoẻ bản thân. Chú tâm vào cấu trúc chi tiết biểu hiện chứng bệnh tưởng/ hypochondriasis trong phản ứng trầm cảm; những sự chọn lựa Anat đều tìm thấy trên lâm sàng ở tất cả nhóm bệnh; chọn lựa “máu” cũng có ý nghĩa tương tự (Beck, sđd, tr.43).

Trong nghiên cứu của chúng tôi, hỏi chuyện trước khi làm test, S10 (một đối tượng mắc TTPL) đã bảo ngay: “Cảm thấy bị người điều khiển, chân tay yếu đi” và ngồi thừ người rất lâu rồi mới bắt đầu vào hình I. Ngoài việc bỏ qua 5/10 hình, còn chọn Anat khá nhiều: “máu (rùng người)” (h.II); “bộ khung chậu, đốt sống lưng” (h.III), “như con báo đang trèo; tổng thể như toàn bộ khung chậu (cái trước chỉ là nửa trên khung chậu).”

- Về tỷ lệ H (toàn thể người) và Hd (bộ phận người) ở cả hai nhóm đều nằm trong khoảng 10-20% được chấp nhận; tỷ lệ bình thường là 15%, theo Rorschach.

Nếu tỷ lệ Hd > H, biểu hiện trạng thái nhiễu tâm, tinh thần bị ám ảnh (Nguyễn Văn Thành, 1973, tr.68). Mặt khác, tỷ lệ Hd cũng tăng cao hơn so với H trong các đối tượng có mức trí năng hạn chế, và đặc biệt hơn trong sự ức chế tâm lý (Beck, sđd, tr.42- tr.43).

Ngoài ra, việc nhóm Học viên chọn lựa nhiều Hd hơn so với H, có thể lý giải bởi đặc trưng nghề nghiệp ngành Y của họ.

Trong test Rorschach, nội dung trả lời mang yếu tố nghề nghiệp thường được nhận ra một cách trực tiếp.

Theo Beck, ngoài ngành Y, còn xuất hiện ở những nhà khoa học và ở một vài lĩnh vực nghệ thuật; nội dung trả lời H, một lần nữa, phản ánh sự dưỡng dục và văn hoá của đối tượng làm trắc nghiệm.

-Chỉ số Động vật A ở cả hai nhóm đáng kể về mặt thống kê (p<0,001).Chỉ số tính dục Sex tự nó nói lên vấn đề.

Liên tưởng đến chỉ số này, ở những người bình thường, được kích thích bởi các hình II, IV và VII; ít xuất hiện hơn ở hình III như là bộ phận sinh dục nữ , và hình VI như là bộ phận sinh dục nam.

Diễn tả chân tình và thoải mái những liên tưởng đến sex được tìm thấy trong 3 nhóm: TTPL, chứng loạn thần cấp tính và những người khoẻ mạnh đang trải qua thời kỳ trị liệu theo cách tiếp cận Phân tâm (Beck, sđd, tr.44).

Dù không xử lý tiêu chí này, song dữ liệu chúng tôi thu được cũng tỏ lộ ít nhiều thú vị.

Chẳng hạn, P18 (một người thuộc nhóm Học viên) trả lời hình I: “hai người đang úp mặt vào nhau, đang hôn nhau”; hình II: “hai cánh tay, hai hình người”, hình III: “hai người đang kéo một cái gì đấy; hai người đang hôn nhau”, hình VI: “hai người dị dạng giống hệt nhau đang ôm một cái cây; cái kiếm cắm vào một cái cây; thánh giá gì đó”, hình VII: “hai người đang đứng trên đá”…

Trả lời câu hỏi thích nhất hình nào, P18 cho biết: hình II vì “trông thật đoàn kết, như 2 người bạn” và hình 7 với lý do “ngồ ngộ, vui vui.” Đối tượng có người yêu đã 3 năm nay.

- Trong xử lý kết quả test Rorschach, còn có nhóm chỉ số Org (độc đáo) và Pop (phổ thông). Những câu trả lời độc đáo là những câu chỉ gặp ở 1 hoặc 2 lần trong khoảng 100 trường hợp làm trắc nghiệm. Do số lượng nghiên cứu chưa nhiều, nên chúng tôi cũng không tập trung xử lý những chỉ số này.

Tuy nhiên, trong quá trình phân tích kết quả, chúng tôi cũng “nhặt” ra được một số câu trả lời mà có thể xếp vào loại đặc biệt.

Ví dụ, “Quan tài treo trên hàng phi lao” (hình II), “Hoàng thượng tung cánh, bay như chim”( hình X), “Nhìn như, cảm nhận cơn gió hút theo một con vật, con bướm (xoáy gió)” (hình III), ” Con chim chích bông đang hạ cánh cho mình nhìn thấy; người lắp cánh để bay… Sóc đang chui vào tán cây và người đeo giày dài rồi lắp cánh để bay” (hình V), “Người đàn bà giữa đám đông đưa lên một ngọn lửa” (hình VIII), …

Tỷ lệ 1,73% có lẽ cũng chưa phải là cao đối với nhóm TTPL, những người vốn được xem là có các hành vi cũng như suy nghĩ kỳ cục, khác thường, biểu hiện tính hoang tưởng và ảo giác đặc trưng bệnh cảnh lâm sàng.

Vậy, những câu trả lời nào được xem là bình thường? Tuy không khó tìm sự đồng thuận, song xác định tiêu chí lại hoàn toàn chẳng dễ dàng gì.

Theo Rorschach, cứ 3 người có 1 người trả lời như vậy. Còn Mucchielli thì liệt kê những câu trả lời nào có vị trí, hình thể và nội dung như sau (Nguyễn Văn Thành, sđd, tr.72- tr.73):

Hình I: Con dơi, con bướm;

Hình II: Hai nhân vật, hai con gấu, hai con chó;

Hình III: Hai người, Con bướm (đỏ);

Hình IV: Một tấm da;

Hình V: Con dơi, con bướm;

Hình VI: Tấm da;

Hình VII: Đầu người (trên), Đầu voi;

Hình VIII: Nhiều con vật (hai bên);

Hình IX: Người cử động (da cam), đầu người, đầu trẻ em (hồng);

Hình X: Cua, nhện, mực (hai bên), Sâu (ở dưới), Cá ngựa (ở dưới), Đầu thỏ
(xanh, dưới, giữa).

II.2- Minh hoạ các trường hợp bệnh lý

Dưới đây, chúng tôi giới thiệu một vài ca có dấu hiệu bệnh lý của những người mắc TTPL, để minh hoạ thêm cho khả năng ứng dụng lâm sàng của test Rorschach.

II.2.1- TTPL thể di chứng: “Hình ảnh đại ca trong đầu

S3, 29 tuổi, Binh nhất (H1), mắc TTPL hơn 10 năm nay (từ 7.1994). Nhập viện với lý do: kích động. Luôn cảm thấy “hình ảnh đại ca trong đầu”. Được khoa A6- Viện 103 chẩn đoán: “TTPL thể di chứng.”

Trình độ học vấn: lớp 12. Địa chỉ liên lạc: “3NB 2704 Thanh Hoá- Vĩnh Phúc” (bệnh nhân trả lời miệng để ghi vào Biên bản) .

Ngồi vào phòng trắc nghiệm, S5 lập tức khoanh tay. Trong 14 phút, toàn bộ các câu trả lời của S5 lần lượt là:

Hình I: con dơi dơi; màu giấy nâu nâu.

Hình II: Hai con gấu chạm tay vào nhau như mưu của Gia Cát Lượng và mưu của
Chu Du thành chữ Giết (hỏi S5 lại có đồng ý với câu trả lời vừa rồi không?). “Chả thấy gì.”

Hình III: (“Gọi tôi lên để làm gì”). Sắt nhọn. Con bướm ở giữa màu vàng.

Hình IV: (“Đưa toàn đại ca lên đây em sợ lắm”) Màu sẫm sẫm. Người như Giời ngồi trên ghế đang học.

Hình V: Hình con dơi dơi. (“Nghe thầy giáo bảo ngày xưa không hề mắl lưới, mẩu chuyện nước ngoài.”) Hình con bọ.

Hình VI: Chai rượu bị vỡ. “Không thấy gì cả.

Hình VII: “Khó tả lắm. Đốt nhiều thuốc quá là không có lợi.

Hình VIII: “Thực sự xem hình này muốn đốt cháy hết. Nóng tiết lắm. Màu lửa, tôi sợ lửa- rất ghê đánh nhau, sợ đánh nhau, sợ hất nước sôi vào người. Người đỡ đầu, đỡ bệnh cho.

Hình IX: “Do thầy giáo cho kết tủa lên. Một cái gì nâng lên.”

Hình X: “Phổi con người, phải không?” (màu xanh, bên dưới).

* Hình thích nhất: hình II vì “Người này đã biết- đầu gấu sợ lắm. Chai rượu.” Ghét nhất: “Chả thấy khó chịu hình nào.”

Như vậy, nội dung trả lời của S5 có nội dung hoang tưởng, nói chuyện riêng tư của mình và bộc lộ rất rõ phản ứng chối từ.

II.2.2- Hoang tưởng phát minh, tự cao: “Những hình quá bình thường, không đáng lưu tâm- nạp vào bộ nhớ

S5, 25 tuổi, dân thường, đã điều trị tại Bệnh viện Tâm thần ở Hà Nội từ 11.2004. Chẩn đoán của Viện 103: “ảo thanh ra lệnh, hoang tưởng phát minh tự cao” (cướp điện thoại di động nhằm mục đích phá án). Trình độ học vấn: “Đại học Cảnh sát, thiếu uý” (S5 trả lời miệng để ghi vào Biên bản).

Trò chuyện trước khi làm test, S5 tự đánh giá về mình: “Nhiều bạn bè, sống bắt nhịp tốt. ” Toàn bộ các câu trả lời, diễn ra trong 15 phút 40 giây.

Hình I: Trông như bọ cánh cứng.

Hình II: Trông như là máy bay chiến đấu tàng hình của Mỹ.

Hình III: Lọ hoa- mua bên Bát Tràng có hình .

Hình IV: Như con chó cụt 2 tai, nó ngồi.

Hình V: Con bươm bướm.

Hình VI: Đây là chiếc lá.

Hình VII: Trông như là 2 con rồng cuốn vào nhau.

Hình VIII: Trông như bọ cánh cam.

Hình IX: Trông như 2 con đà điểu.

Hình X: Một con côn trùng gì cũng được,không cụ thể là con gì.

Không thích không ghét hình, vì những hình tưởng tượng, không có trong thực tế, quá bình thường không đáng lưu tâm- nạp vào bộ nhớ.

II.2.3- Hoang tưởng ghen tuông: “Dưới mấy xương sống có hình người có lỗ… Dưới xương chậu

S6, 27 tuổi, quê Nghệ An, thiếu úy, mắc TTPL hơn một năm. Tóm tắt hồ sơ bệnh án của Viện 103: Hoang tưởng ghen tuông, bị theo dõi, ảo thanh giả bình phẩm. Rối loạn hành vi, kích động đập phá, đánh vợ. Đau nửa đầu.

Trong 18 phút, S6 làm xong trắc nghiệm.

Hình I: Giơ lên cao như soi mói. “
Thấy loang loáng, một hình người cụ thể
không có đầu, ở phía phải có 1 chấm hoặc lỗ trắng hơi vàng
.”

Hình II: Giơ sát mặt. “Dưới mấy xương sống có hình người có lỗ.” Soi rất kỹ. “Dưới xương chậu”.

Hình III: Lại soi. “Thấy nơi cổ 1 vòng tròn, sau có nút cột lại. ở phía trên đầu có hình bầu dục dài, trống.

Hình IV: “Ở phía trên có cái đầu là lạ ở giữa, xung quanh chân có những nốt như vòng tròn cột lại. Ở chân phía phải có 1 hình người kéo ra và xung quanh đó chấm chân. Ở chân phải khác là tuy cũng có chân, nhưng không có đầu gối, ở đáy có những cái nhọn nhọn như cái gai.

Hình V: “ở vai bên phải có 1 vòng tròn thắt nút. (“Ghi thế cũng được, “ nói với nghiệm viên). Và phía trên đầu xuất hiện màu trắng. Bên trái to hơn, bên phải nhỏ hơn.

Hình VI: “ở đốt cao nhất có chấm trắng, toả xuống như 2 con rắn.

Hình VII: Xoay ngược. “Cái này phía phải có 1 lỗ xanh to, trái cũng tương tự- cả 2 bên chân bị bao phủ bởi màu trắng, xanh ít.

Hình VIII: “Giống con gái, bên phải; bên trái là con trai.”

Hình IX: Xoay ngược. “Bên phải có 2 chấm trắng, bên trái chấm trắng li ti nhiều.

Hình X: “Hình này có 3 vết đỏ ở giữa và hai bên dưới cùng có mấy chấm… 11 chấm tròn đỏ.

Không ghét, thích hình nào cả vì ” ít xem film, báo. Đầu đỡ, xương cốt muốn rời ra và đau, chân và vai, sau lưng đau nhất.

* Hạn chế của đề tài
Mặc dù đã có cố gắng song đề tài của chúng tôi vẫn còn những hạn chế nhất định.
-Việc lựa chọn nhóm nghiên cứu là TTPL, nhưng mới chỉ dừng lại ở đàn ông; do vậy, chưa có điều kiện để so sánh từ góc độ giới giữa nhóm nam và nhóm nữ.
-Còn một vài chỉ số khác của trắc nghiệm chưa được xử lý, như chỉ số về thời gian (thời gian phản ứng, thời gian trả lời cho từng hình, thời gian thực hiện toàn bộ trắc nghiệm,…) và vị trí các câu trả lời, v.v....
Tuy thế, nhìn chung nghiên cứu cũng đã đạt được một số kết quả cơ bản. Dựa trên toàn bộ cơ sở dữ liệu thu thập được, chúng tôi đi đến một vài kết luận sau cùng.

III. Kết luận

III.1- Có sự khác biệt nhất định về kết quả test Rorschach ở nhóm người mắc Tâm thần phân liệt (thể Paranoid) so với nhóm Học viên Quân y bình thường.

Theo đó, các biểu hiện của nhóm người mắc Tâm thần phân liệt qua test đặc trưng cho bệnh cảnh lâm sàng Tâm thần phân liệt:

- Số lượng câu trả lời trung bình thấp (14,44; p<0,01).


III.2- Những chỉ số cơ bản của trắc nghiệm Rorschach được tập trung thu thập và xử lý (số lượng câu trả lời; định khu; ưu thế và nội dung câu trả lời) đảm bảo tính thống nhất giữa các yếu tố trong tổng thể test.

Tuy vậy, còn có một vài chỉ số khác chưa được xử lý, điển hình như hai chỉ số: thời gian và vị trí các câu trả lời. Khi phân tích, cần chú ý đến khả năng ảnh hưởng của tay nghề và kinh nghiệm cá nhân tới kết quả test Rorschach.

III.3- Cần có những nghiên cứu sâu và rộng thêm để có thể so sánh kết quả test Rorschach ở các thể Tâm thần phân liệt khác nhau, ở các dạng rối loạn tâm thần khác nhau, và cả với những nhóm người khoẻ mạnh.

Đây chính là cơ sở tạo giá trị chẩn đoán cho test Rorschach, một trắc nghiệm gần như là thường quy đối với nhiều cơ sở lâm sàng tâm thần và tâm lý trên thế giới.

Bài đăng Mới hơn Bài đăng Cũ hơn Trang chủ