Một lý thuyết độc lập về tâm thần phân liệt (TTPL) và sự tiến hóa của ngôn ngữ cho rằng, TTPL là hậu quả của việc nhân loại tiến hóa về mặt ngôn ngữ.
Lý thuyết của GS Tâm thần học Đại học Oxford Tim Crow thử vượt qua vấn nạn tại sao TTPL tiếp tục tàn tích trong cộng đồng dân cư nếu nó chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi di truyền, đặc biệt khi nó có nhiều cơ hội giảm thiểu rõ ràng qua sinh đẻ.
Hay chắc chắn là nó "lan tràn" theo nhóm dân số?
GS. Crow khẳng định TTPL là sự hỏng hóc, suy yếu của bộ phận thuộc não trái bình thường chuyên về ngôn ngữ, do sự phá vỡ, đánh thủng các gien liên quan tạo nên tính trội của của bán cầu não trái.
Xác quyết nguy cơ tăng lên bởi sự kết nối bệnh lý của một số gien vốn rất quan trọng, GS. Crow tích lũy cả đống chứng cứ rằng, người mắc TTPL có sự giảm đi tính trội về ngôn ngữ ở bán cầu não trái, và thay thế bởi một số kiểu mẫu não bất đối xứng thể hiện trong cấu trúc cũng như nhiệm vụ chức năng của bộ não.
Ông cũng cực lực phê phán nhiều công trình nghiên cứu TTPL từ lĩnh vực di truyền phân tử đương đại, và khẳng định biến thể di truyền học biểu sinh (epigenetics) chính là chìa khóa mở ra khả năng nhận biết sự thay đổi của gien trong quá trình tiến hóa của nhân loại đã khiến chúng ta dễ dàng có ngôn ngữ hơn, để rồi hậu quả là, phát triển TTPL.
Ngoài Crow, một số lý thuyết khác cũng gắng giải quyết câu đố về TTPL.
Trước hết, cần nhắc lại sự kiện bệnh tâm thần-- cả ở khía cạnh lan tràn lẫn tình trạng bất lực-- thực sự là vấn nạn dưới góc nhìn tiến hóa; dĩ nhiên, nếu tin rằng khả năng dễ bị tổn hại đối với rối loạn tâm lý được kế thừa thật mạnh mẽ.
Bên cạnh đó, giới nghiên cứu còn cho rằng, có một thành phần bẩm sinh đầy ý nghĩa trong bệnh tâm thần, dù sự mở rộng ảnh hưởng này vẫn gây tranh cãi.
Như đề cập ban đầu, câu hỏi đặt ra là "tại sao chúng ta vẫn mắc bệnh tâm thần, nếu việc kế thừa nguy cơ ấy không dễ được sinh sản?"
Một số nhà nghiên cứu sử dụng điều này để nêu kiến nghị nguyên tắc của di truyền học trong bệnh tâm thần đã bị lạm dụng thái quá, và rằng đa phần nguy cơ tăng lên từ các yếu tố môi trường, nhất là do căng thẳng tinh thần (stress) và sang chấn.
Một số nhà nghiên cứu khác lại nhìn nhận các yếu tố kế thừa bẩm sinh làm tăng nguy cơ bệnh tâm thần như là lợi lạc khi chúng không tạo nên hỏng hóc nghiêm trọng lắm.
Chẳng hạn, nghiên cứu cho thấy người có nguy cơ cao mắc TTPL, hoặc nguy cơ sơ sơ hay mới xuất hiện những ý nghĩ ngắn ngủi từa tựa tính chất loạn thần thì dễ trở thành những nhà suy tư sáng tạo, độc đáo.
Người ta báo cáo một gien gọi là DARPP-32 làm tăng nguy cơ TTPL, cũng đồng thời là vật thể được sử dụng đắc lực trong một mạch não quan trọng thuộc thùy não trước.
Kết quả này lý giải tại sao một số gien làm tăng các khuynh hướng này vẫn tiếp tục tồn tại trong vốn gien chung; chỉ khi có quá nhiều các nét tương tự như thế được kế thừa thì người ta mới dễ đau đớn do bệnh tật tác động-- lúc đương đầu bởi nhiều căng thẳng tinh thần khủng khiếp trong đời.
Một lý thuyết khác là của TS. David Horrobin trong cuốn sách The Madness of Adam and Eva: How Schizophrenia Shaped Humanity.
[TS. Horrobin trở nên nổi tiếng sau một cáo phó liều lĩnh được đăng tải trên tờ BMJ, dẫn tới phản ứng dữ dội và tờ tạp chí phải có lời xin lỗi.]
Nhân tiện, xin dẫn bài báo vốn đăng trên tờ LA Times trình bày tổng quan các lý thuyết tiến hóa về trầm cảm, qua đó có thể giúp trả lời tại sao một số người bẩm sinh dễ có khuynh hướng bị trầm cảm.
... Vậy, nếu khuynh hướng giới thiệu trong bài được hiểu như một dạng thức cường điệu của điều gì đó có thể đem lại lợi ích trong liều lượng nhỏ nhặt, thì nó xem chừng là manh mối cho nhiều cách điều trị mới các bệnh tâm thần, đặc biệt với TTPL.
(Không thể đùa với tài mà)
Câu chuyện hành hạ con mình đăng tải hôm nay, cũng như vô vàn chi tiết phản ánh việc tự làm hại bản thân của người nghiện ma túy không quá xa lạ với cộng đồng.
Blog Cái tôi từng đề cập đến lối nghĩ giản dị hóa phần nào trong cách tiếp cận vấn đề.
Tới thời điểm này, người ta đã biết rõ rằng sử dụng cần sa/ tài mà (cannabis: dầu gai) thúc đẩy thêm nguy cơ-- tuy lần hồi bé nhỏ song luôn đầy ý nghĩa-- các biểu hiện loạn thần.
Chẳng nổi tiếng như hoạt chất tetrahydrocannabinol (THC), người anh em cannabidiol (CNB, tham khảo danh sách) xem chừng chưa phải chịu trách nhiệm cho cảm giác 'mê tơi' dù thực chất nó thường trực trong cây dầu gai.
Dùng kỹ thuật chụp ảnh cộng hưởng từ (MRI) phát hiện ra, kích họat cần sa chứa THC sẽ khiến suy giảm chức năng của thùy não trước (frontal lobe)-- chịu trách nhiệm xử lý những đáp ứng cảm xúc và hành vi bất hợp lý, nơi vẫn thường được cho là quyết định các suy nghĩ cao cấp, lập kế hoạch, hình thành mục tiêu.
Giới nghiên cứu đã tích lũy được bằng chứng CNB có tác dụng chống loạn thần, CNB hứa hẹn kiềm chế các ảnh hưởng tăng loạn thần của THC.
Tùy loại chế phẩm cần sa mà đặc tính CNB khác biệt, chẳng hạn CNB ít nhất khi chơi 'skunk' -- loại ma túy nặng đô này hầu như loại trừ CNB để ưu tiên nuôi dưỡng hàm lượng cao THC.
Một nghiên cứu tài tình mới đây chú tâm kiểm tra mẫu tóc của các nhóm chơi cần sa để đánh giá mức độ dung nạp CNB.
Theo đó, các nhóm nào có mức độ CNB thấp nhất thì thường hay trải nghiệm các trạng thái tương tự loạn thần.
Ngược lại, dùng đồ chơi chứa chủ yếu CNB thì hiếm hoi lắm mới trải nghiệm giống như loạn thần-- cùng mức độ với nhóm so sánh chẳng phát hiện thấy các hoạt chất cần sa ở những người giả định không hút.
Lưu ý tí chút: đối tượng thuộc nhóm trên đều toàn là người mới tham gia từ một nghiên cứu với dân chơi ketamin (chất làm tăng nguy cơ loạn thần), vì thế nghiên cứu sẽ còn phải tiến hành với những ai chỉ dùng duy nhất cần sa để chắc chắn rằng, tác dụng không phải do tương tác riêng biệt giữa hai loại ma túy vừa kể.
Rốt cục, khi tự thân CNB dường như không có tác dụng gây mê sảng thì hy vọng trong tương lai kẻ sản xuất sẽ gắng sức để tối đa hóa hàm lượng CNB, nhằm góp phần giảm thiểu nguy cơ tàn phá sức khỏe tâm thần của các tay chơi ma túy.
(Triển lãm Cuộc Đời Trước Lúc Rời Tan "vén lộ thời gian sống quý giá và ngắn ngủi, khiến chúng ta giật thột với những gì cứ tưởng là hiển nhiên")
Dù không hề chú trọng xem xét nguyên nhân khởi phát rối loạn tâm thần từ chuyện đau thương tang tóc, song phóng sự xót xa buồn này cũng đã góp phần minh họa sống động cho ý kiến chuyên môn: những ai bị tan cửa nát nhà rất dễ mắc các bệnh loạn thần, kiểu như Tâm thần phân liệt.
Một lần nữa, cần nhớ là TTPL biểu hiện các trạng thái hoang tưởng, ảo giác và hành vi kỳ dị.
Và tôi nghĩ, những dòng bên dưới đây cũng thật đáng đọc- trên tinh thần cảm thông sâu sắc thân phận của tha nhân, và của chính bản thân ta (Rinpoche, sđd, tr.45):Bất cứ ai nhìn đời mình một cách thành thật sẽ thấy rằng ta thường xuyên sống trong tình trạng chờ đợi và mơ hồ. Tâm trí ta không ngớt chuyển đổi qua lại giữa sự hỗn loạn và sáng tỏ.
Nếu lúc nào ta cũng có thể bị rối loạn thì điều đó ít ra sẽ dẫn đến một loại sáng tỏ nào đó. Cái thực sự quấy rối cuộc sống chính là thỉnh thoảng, bất chấp mọi hỗn loạn, chúng ta cũng có thể sáng suốt thật sự!
Tình trạng mơ hồ thường trực này có thể làm cho mọi chuyện trở thành ảm đạm và hầu hư vô vọng; nhưng nếu nhìn nó kỹ hơn, bạn sẽ thấy rằng chính bản chất của nó tạo ra "những lỗ hổng", những khoảng trống mà trong đó các cơ hội để biến đổi liên tục nở rộ-- nghĩa là, nếu chúng được nhận ra và nắm bắt.
Phân loại: Loạn thần, Nhiếp ảnh, Sức khỏe tâm thần, Tâm lý trị liệu, Tâm thần phân liệt, Tham vấn Tâm lý

(Ảnh: Hội nghị tại Đại học Clark năm 1909. Hàng đầu tiên: thứ ba từ trái sang: William James, thứ tư từ bên phải qua: Sigmund Freud, và bên tay phải cạnh ông là Carl G. Jung.)
"Duy nhất bình thường là những người mà ta không hề biết gì rõ cả."
Phát ngôn gây ấn tượng mạnh mẽ của nhà tâm lý học Alfred Adler gợi nhớ một bài báo thú vị: từ góc độ suy xét nhất định thì người mắc tâm thần phân liệt (TTPL) "logic" hơn nhiều so với người bình thường.
Theo đó, người mắc TTPL và thành phần đối chứng tiến hành thể hiện hai kiểu suy luận khác nhau; một dạng mà kết luận tương ứng với lẽ thường ở đời, còn kết luận rút ra từ dạng kia lại trái ngược với những gì quần chúng vẫn nghĩ.
Những người tham gia thực nghiệm được đề nghị lựa chọn giả thuyết nào ám chỉ kết luận hay không. Rốt cục: những người mắc TTPL đã thể hiện tốt trong cả hai trường hợp.
Chuyện nọ xọ chuyện kia. Khi đọc bài báo nêu trên, tâm trí tôi thoáng liên tưởng tới chứng minh của nhà toán học Kurt Godel về sự hiện hữu của Thượng Đế. Và sự kiện ông đành nhịn đói cho đến chết khi không có ai đủ can đảm nếm thức ăn tẩm thuốc độc của ông.
Nhân tiện, vài lời giới thiệu thêm về A. Adler.
Nhà Phân tâm học người Áo này từng tạo nên ảnh hưởng to lớn đối với nhóm đồ đệ thuở ban đầu của Freud.
Chính Adler sáng chế thuật ngữ "phức cảm tự ti" (inferiority complex) nhằm mô tả ý tưởng là tất cả mọi người đều sinh ra với phức cảm cơ bản đó; chúng ta cần học hỏi nó để điều chỉnh đường hướng phát triển đời người.
Adler cho rằng, tiến trình phát triển này khuôn đúc nhân cách và phản ánh trong các nét tính cách của mỗi cá nhân.
Nếu bạn hâm mộ, sẵn sàng hứng thú tích lũy thông tin về trường phái Phân tâm học thì trên tờ The New York Times có hai bài báo mà nhan đề đã thừa hấp dẫn.
Chẳng hạn, bài này lý giải vì sao các lý thuyết của Freud ngày càng bị lờ tịt tại các khoa Tâm lý học, dù thực tế chúng vẫn tồn tại và tiếp tục được xiển dương trong các ngành Khoa học Nhân văn; còn ở đây điểm cuốn sách mới của George Makari đi sâu tìm hiểu lịch sử tư tưởng của Freud và các cá nhân xung quanh Freud không ngừng góp phần truyền bá hệ thống lý thuyết của vị sáng lập Phân tâm học.
Cuối tuần vui vẻ!

Tâm thần phân liệt (TTPL) là dạng loạn thần phổ biến nhất, đồng thời mức độ tàn phá của nó cũng khủng khiếp nhất; tiếc thay, việc phơi bày bệnh cảnh TTPL vẫn còn chậm chạp.
Hầu như suốt thế kỷ XX, TTPL được nhìn nhận như dạng rối loạn đột ngột tấn công mà chẳng hề cảnh báo trước, làm cho những vị thành niên bình thường tự dưng chuyển biến trọn vẹn sang bạo lực với trạng thái tâm thần không thể chữa chạy nổi.
Gần đây hơn, nhiều chương trình đã chứng thực rằng, người mắc TTPL có thể được xem là an toàn trong quá trình tái hòa nhập cộng đồng.
Nghiên cứu cũng chỉ ra khả năng đoán định các cơn loạn thần đảm bảo đủ thời gian chuẩn bị và thậm chí, dự phòng nữa.
Viện Sức khỏe Tâm thần Quốc gia Hoa Kỳ (NIMH) công bố một số tiến bộ đầy ý nghĩa hướng tới công tác dự đoán và điều trị.
Thông qua việc quan sát trẻ em có nguy cơ cao mắc TTPL do tiền sử gia đình, các nhà Tâm thần học lưu ý: thường tồn tại giai đoạn tiền triệu (prodromal phase) khoảng chừng 1 năm hoặc hơn trước khi chẩn đoán xác định, mà lúc đó đối tượng biểu hiện hàng loạt vấn đề ảnh hưởng rất nguy hại đến đời sống mặc dù chưa loạn thần hoàn toàn.
Tỷ dụ, những người mang suy nghĩ là ai đó đang theo dõi mình sẽ không bị rơi vào trạng thái hoảng loạn, nếu họ được thoải mái trình bày bằng chứng liên quan đến nghi ngờ dễ gây tranh cãi này. Dĩ nhiên, cần xem như một dấu hiệu cảnh báo với những nghi hoặc tương tự vừa nêu.
Hoang tưởng (paranoia) chỉ là một trong nhiều dấu hiệu cảnh báo mà các nhà nghiên cứu của NIMH dùng để lượng giá TTPL như tiêu chí dự đoán dương tính đảm bảo độ tin cậy nhất (PPP).
Các đồ hình lượng giá mới về TTPL tập trung vào 3 nguy cơ chính yếu: các hoang tưởng hoặc niềm tin kỳ cục; yếu tố di truyền đi kèm với chuyện gần đây có biểu hiện suy giảm chức năng; và sự trục trặc kỹ năng xã hội.
Việc từng sử dụng ma túy cũng được xem là một biến số độc lập mang tính nguy cơ đáng kể. Các kết quả theo lối lượng giá thật ấn tượng này được trình bày tại đây.
Một trong các trắc nghiệm thường hay sử dụng rộng rãi, test Phỏng vấn sâu về các hội chứng tiền triệu (SIPS) có khả năng đạt yêu cầu PPP chỉ vào khoảng 35%, song với lượng giá mới tinh còn chưa được gọi tên bên trên thì tiêu chí PPP đạt tới 74%- 81%.
Chẳng hạn, giới chuyên môn thiết kế test nhằm đánh giá xu hướng rút tỉa các thông điệp từ những tiếng ồn vô nghĩa (ảo giác) như một dấu hiệu tiền triệu của TTPL.
Với hai thành tựu vừa giới thiệu, tuyên bố của NIMH cho thấy giới khoa học đang nỗ lực cải thiện các phương pháp chăm sóc người mắc TTPL, vì vậy gia đình của các đối tượng này hy vọng sẽ có nhiều lựa chọn tốt từ đó.
Phân loại: Ảo giác, Loạn thần, Tâm bệnh học, Tâm lý học Lâm sàng, Tâm thần phân liệt, Test, Trẻ em
Dù đã đầu tư tiền bạc, dành nhiều năng lực và cực kỳ chú mục vào công cuộc nghiên cứu gene liên quan đến Tâm thần phân liệt (TTPL), song hai công trình vừa công bố mới đây chứng tỏ cần khám phá thêm nữa.
Đầu tiên là phát hiện: một vật ký sinh dễ dẫn tới TTPL.
'Toxoplasma gondii', ký sinh trùng thường đeo bám trên loài mèo và các loại động vật ở nông trại.
Trong hầu hết trường hợp thì toxoplasma là vô hại, trừ phụ nữ mang thai: khuyến cáo các bà bầu tránh ôm ấp, nựng nịu nàng miu bụng mang dạ chửa hoặc sờ chạm nơi nàng đang nằm ổ; vì hành vi này bất lợi cho sức khỏe thai nhi, do sản phụ bị lây nhiễm từ ký sinh trùng toxoplasma.
Các chuyên gia nhận thấy: 7% người mắc TTPL có ký sinh trùng này, so với chỉ 5% số người không bị chẩn đoán là TTPL; số người dính toxoplasma còn làm tăng nguy cơ mắc TTPL lên 24%.
Nghiên cứu thứ hai-- chưa được biết rộng rãi lắm-- khẳng định: không có mối liên hệ ý nghĩa nào giữa 14 gene dự tính lâu nay với TTPL.
Điều đó có nghĩa gì? Hãy để chính các tác giả phát biểu:Chẳng lấy chi đảm bảo là các SNPs thường gặp trong 14 gene giữ vai trò trọng yếu để lý giải cho nguy cơ di truyền của TTPL, dù khó có thể bỏ qua những tác động nhỏ nhặt của chúng.
Kết luận vừa nêu tính tới sự kiện nhiều gene đã tìm ra trước đây và được giới chuyên môn tin là có ảnh hưởng quan trọng làm phát sinh TTPL; mặt khác, đây là nghiên cứu trên mẫu đủ lớn (không giống nhiều nghiên cứu gene vẫn tiến hành) nên dữ liệu thu được khá vững chắc.
Dẫu thế, kết luận trên chẳng hề hàm ý rằng, gene không phải là yếu tố gây nên TTPL; đúng hơn, cần lưu ý gene dường như chỉ giữ một phần không đáng kể trong bức tranh phức tạp nguyên nhân- kết quả của rối loạn tâm thần này.
Thuộc bộ phận thứ ba (kiểu như một vật ký sinh) xem chừng cũng có tác động ghê gớm góp phần thúc đẩy sự tiến triển TTPL.
Ngày mai, blog Cái tôi sẽ tiếp tục giới thiệu một vài kết quả nghiên cứu khác thú vị và dễ hiểu hơn về TTPL.
Phân loại: Não-Thần kinh, Tâm bệnh học, Tâm lý học Lâm sàng, Tâm thần phân liệt
(ảnh: WFMH)
Theo thông tin từ một website, ước tính khoảng 450 triệu người trên khắp hành tinh đang phải chịu đau đớn bởi một rối loạn hành vi hoặc tâm thần; trong đó, chỉ một phần nhỏ được tiếp cận điều trị cơ bản nhất.
Rằng, cứ 10 người thì có 4 người trở nên tàn tật do nguyên nhân bệnh tâm thần. 14% gánh nặng bệnh tật toàn cầu thuộc các rối loạn tâm thần. Chi phí chữa trị cho bệnh tâm thần chiếm 1% ngân sách quốc gia. Ở các nước thu nhập thấp, 2 triệu dân mới có 1 bác sĩ tâm thần; so sánh đó, ở các nước thu nhập cao là 1/10.000 dân.
Tại các nước đang phát triển, hầu hết thành viên mắc các rối loạn tâm thần nghiêm trọng chẳng khác gì đối tượng bị bỏ rơi, họ đành tự giải quyết với những gánh nặng riêng tư như trầm cảm, mất trí nhớ tuổi già, tâm thần phân liệt, và lạm dụng chất. Vì bệnh tật, nhiều người thành vật hy sinh, là đích nhắm nhục mạ và phân biệt đối xử tàn tệ.
Truyền thống Ngày Sức khỏe Tâm thần Thế giới (World Mental Health Day) bắt đầu vào 10.10.1992; chủ đề năm ngoái 2006 nhấn mạnh đến việc nâng cao nhận thức nhằm giảm thiểu nguy cơ tự tử-- như là hậu quả thảm hại của chẩn đoán và điều trị các bệnh tâm thần nghiêm trọng.
Năm nay, người ta đặt vấn đề sức khỏe tâm thần trong bối cảnh thế giới đang biến chuyển: sự tác động của văn hóa và tính đa dạng.
Thêm một lần nữa, hễ có dịp là blog Cái tôi lại tranh thủ điểm tin liên quan đến tâm thần phân liệt.
Tình hình xem ra khả quan cho người mắc tâm thần phân liệt?
Dù có rất nhiều tiến bộ trong việc định dạng và điều trị tâm thần phân liệt vài thập niên gần đây, câu trả lời dường như là Không.
Hai nghiên cứu gần đây cho thấy, người mắc tâm thần phân liệt không có vẻ được tốt như chúng ta mong đợi, mặc cho bao điều kiện chăm sóc thuận lợi đối tượng mắc rối loạn này.
Tâm thần phân liệt (TTPL, Schizophrenia) là một rối loạn tâm thần suy nhược nghiêm trọng, tấn công đa phần vào thanh niên mới ở giữa độ tuổi 20 hoa niên.
Đặc trưng bởi trải nghiệm hoang tưởng hay ảo giác (hoặc cả hai), TTPL rốt cục tạo nên một thời kỳ cực kỳ khốn khổ khi phải đương đầu với các hoạt động hàng ngày.
Người mắc TTPL thường nhọc nhằn trần ai cùng các tiến trình suy nghĩ bình thường, như chuyện tuân theo danh sách "việc cần làm" hay phải tập trung vào một nhiệm vụ tại bất kỳ giai đoạn đầy ý nghĩa nào đó. Các nhà tâm lý học nhìn vấn đề này như là trải nghiệm "thiếu hụt nhận thức."
Nghiên cứu thứ nhất do Goldberg và cộng sự tiến hành, dựa trên giả thuyết rằng các loại thuốc chống loạn thần đời thứ hai sẽ có cải thiện đáng kể nhận thức (ví dụ, suy nghĩ có sắp xếp, tổ chức) của bệnh nhân TTPL.
Goldberg và cs. đi đến ý tưởng trên sau một loạt thử nghiệm lâm sàng đã công bố khẳng định điều này xảy ra, song không một thử nghiệm lâm sàng nào thiết kế để test riêng mỗi vấn đề như thế mà thôi.
Thật không may cho người mắc TTPL, các nhà nghiên cứu đã khám phá thấy là các loại thuốc chống loạn thần đời gần nhất, mới nhất thực sự hỗ trợ rất ít cho việc suy nghĩ của họ. Nói cách khác, các hiệu ứng tích cực được các nghiên cứu trước đây chỉ ra chính vì phương thức thiết kế giả tạo, chứ không phải tự thân hiệu ứng của thuốc.
Giới khoa học có nhiều cách để đo lường sự cải thiện, tốt hơn của một người so với kẻ khác trong xã hội.
Kinh tế gia thực hiện qua thu nhập, phí tổn tiêu thụ và điều kiện sống; nhà giáo dục thì nhìn vào cách nhiều người tại một đoạn đời sau khi tốt nghiệp phổ thông hoặc đại học; còn các nhà tâm lý học sẽ phải xem xét các yếu tố cảm xúc và mức độ hạnh phúc. Bác sĩ phẫu thuật hay chú ý tới tỷ lệ tử vong để quyết định, dẫu cho đồng nghiệp của họ có tỷ lệ tử vong chấp nhận được với một quy trình quen biết hay không.
Nghiên cứu thứ hai kiểm tra tỷ lệ tử vong của người mắc TTPL từ 37 nghiên cứu đã công bố, thuộc 25 quốc gia trong khoảng thời gian 26 năm trở lại (tính tới 01.01.2006).
Dù dịch vụ sức khỏe tâm thần vài thập niên gần đây có nhiều đổi mới, song các nhà nghiên cứu vẫn chưa rõ nguy cơ tử vong với TTPL thay đổi hay không.
Thay vì nhìn thấy tỷ lệ tử vong của người mắc TTPL thuyên giảm theo thời gian-- như tỷ lệ tử vong trong cộng đồng chung--, các nhà nghiên cứu thực ra lại phát hiện tỷ lệ tử vong tăng lên. Nói cách khác, người mắc TTPL hiện đang chết nhiều hơn so với quá khứ.
Các nhà nghiên cứu quy lỗi này phần lớn do người mắc TTPL không được hưởng lợi bao nhiêu từ các tiến bộ, đổi mới nói chung trong việc chăm sóc sức khỏe-- người mắc TTPL hoặc là chẳng cố tìm kiếm để được chăm sóc sức khỏe, hoặc là họ không nhận được cùng một mức độ chăm sóc sức khỏe phù hợp như với đa số dân chúng.
Điều đó một phần liên quan tới chính bản thân bệnh tật, như các nhà nghiên cứu lưu ý:
Đối với TTPL, tình trạng dồn dập cấp tính của căn bệnh có thể đưa đến cả một loạt yếu tố thuộc lối sống không lành mạnh, làm tăng thêm nguy cơ mắc các bệnh thực thể và hậu quả, tăng nguy cơ tử vong.
Người mắc TTPL thường bị cho là có khuynh hướng ít khi kiếm tìm chăm sóc sức khỏe, hiếm được chăm sóc y tế, tham gia vào các hành vi nguy cơ cao, và thiếu tuân thủ liệu trình điều trị.
Các nhà nghiên cứu cũng khẳng định, có thể là một số yếu tố gene hoặc môi trường đặt người mắc TTPL vào nguy cơ cao hơn, đặc biệt là từ viễn tượng sức khỏe nói chung.
Các loại thuốc chống loạn thần không điển hình thường tỏ ra tồi tệ, vì (a) chúng dường như đem đến nguy cơ tăng cân và các hội chứng chuyển hóa (metabolic syndrome) nhiều hơn, và do đó (b) khả năng kém bền vững tỷ lệ tử vong của người mắc TTPL.
Mọi thứ không phải như thế là xong xuôi, đủ đầy; câu chuyện về người mắc TTPL thật dài dòng, phức tạp và khổ đau khôn cùng.
Chỉ nghĩ đến người mắc TTPL ở Việt Nam đã cảm nhận ít nhiều rằng, diễn tiến vẫn chưa thực sự thấy sáng sủa, tốt đẹp hơn lên.
Phân loại: Đời sống, Sức khỏe tâm thần, Tâm bệnh học, Tâm lý trị liệu, Tâm thần phân liệt, Thời sự, Thuốc men


"Cái răng, cái tóc là gốc con người"; khiếp, ai chia tay ai về nhà ngồi nhớ nhung xao xuyến "hàm răng mình cười" ở đâu không tỏ không tường, chứ ta đây thì khó quên mỗi bận đau nhức buốt đến tận óc...
Biết răng là khôn, răng là dại; tưởng chỉ có nỗi khổ kêu thấu trời thấu đất, nào ngờ câu chuyện về răng thật da diết, dây dưa khởi sự từ thuở bé tí cơ: căng thẳng (stress) tuổi nhỏ có thể gây trở ngại cho việc phát triển răng, đến mức là trải nghiệm sang chấn sẽ để lại một đường dễ nhận ra trên men răng như dấu chỉ của sang chấn quá khứ.
Nghiên cứu sử dụng các đường nổi trên men răng này để so sánh số lượng trải nghiệm sang chấn thời trẻ thơ ở người được chẩn đoán tâm thần phân liệt và nhóm đối chứng khoẻ mạnh.
Tâm thần phân liệt vốn bị gán cho nguyên nhân phần lớn bởi các yếu tố di truyền, song thập niên gần đây, nhiều công trình đã chứng tỏ sang chấn thời thơ ấu góp phần, tạo cơ hội phát triển rối loạn này.
[Báo chí đưa tin, 90% người Việt Nam bị sâu răng vĩnh viễn; rồi theo thống kê mới nhất, số người mắc bệnh về răng miệng ngày càng tăng.]
Răng cỏ, như biểu tượng tiêu cực ghê rợn gắn với cái hộp sọ, đầu lâu người chết; vì thế chăng mà lắm kẻ nằm mộng thấy răng hay tỏ ra bứt rứt, gặp xui xẻo, buồn bực?
"Răng"; tiếng địa phương miền Trung, xứ Huế thường mang nghĩa "làm sao, như thế nào". Tình hình là "mô tê" chi chưa rõ, chứ thực tế đã có người hoài cố hương, ngóng trông về quê cha bằng dẫn giải học Anh ngữ qua những từ "Huế chay " như "rứa" đó:
Ngôn ngữ học là chuyên ngành khó; muốn thẩm định, cần trình độ học thuật trong giới. Đọc thấy ngồ ngộ, là lạ, thú vị và đáng trân trọng một tấm lòng; thậm chí, xem chừng đó là cái nhìn sáng suốt; "răng" không?!... Những điều vừa thấy giải thích tại sao răng, rạng, ngời, sáng có nghĩa là sao trong Việt ngữ (răng rứa = sao rứa), bởi vì sao cũng có nghĩa là sáng, là ngời. Sao là vật sáng trên trời đêm. Sao tiếng cổ Việt gọi là sáng, ta thấy sao đi đôi với sáng như sao sáng, sáng sao (Một ông sao sáng hai ông sáng sao…). Theo duy âm, sao là nàng sáng, theo duy dương sao là ông sáng. Anh ngữ star, sao có s(t)ar = sáng. Và ta cũng giải thích được tại sao về phương diện biến âm ta thấy, theo biến âm s = h như sói = hói, Việt ngữ sao = /hao/ = Anh ngữ how. Sao là sáng là ngời và how liên hệ với Phạn ngữ ka là kẻ là người, là ngời nên how là sao, vì thế how biến âm với sao.
Trước đây có người nghe tôi nói how liên hệ với Việt ngữ sao cho rằng tôi nói chuyện không tưởng, nhưng ở đây rõ như ban ngày, nếu so sánh hai phương trình:
. sao = sáng = Phạn ngữ ka, ánh sáng (càn), ngời.
. how = hwá, who = ka =người, ngời, sáng.
thì hiển nhiên how = sao.
How là sao là sáng là rạng là răng.
Cuối cùng how liên hệ với who, kẻ, người, ai thì răng phải liên hệ với người. Như đã thấy răng liên hệ với Mã Lai ngữ orang là người. Ta cũng thấy răng liên hệ với lang, lạng, lạn, láng có nghĩa là sáng như sáng lạng, sáng láng, lang là trắng (như chứng lang da), là ánh sáng, là mặt trời, lang là chàng là đực là dương là mặt trời. Các Lang là những Chàng Ánh Sáng, Mặt Trời. Các Vua Hùng là những Vua Mặt Trời (di duệ của Đế Minh, cháu ba đời của Thần Mặt Trời Viêm Đế). Người của Đại tộc lang Hùng gọi là lang và có chỗ ở gọi là làng (người Mường gọi nhà làng là nhà lang). Lang với nghĩa là Người ruột thịt với Mã ngữ orang (r=l, phát âm kiểu Trung Hoa). Như thế răng liên hệ với lang có nghĩa là người, với Mã ngữ orang, người. Ngoài ra răng cũng có thể với Quan thoại ren là người...
Và nếu hứng chí, bạn có thể ngậm vui miệng cây kẹo mút mang hình ông tổ Phân tâm học Sigmund Freud nè...
Phân loại: Đầu tuần một từ, Đời sống, Học vấn, Nghiên cứu, Ngôn ngữ, Stress, Tâm thần phân liệt
Lướt báo hôm nay, giật nảy cả mình khi chạm cái tít Nghề trông điên, với lời mào đầu (chapeau) thật lạnh lùng:
Nhọc nhằn bậc nhất trong các nghề mưu sinh chính là những người được thiên hạ gọi chỏng lọn: Trông nom điên. Họ kiếm miếng cơm, manh áo trên những nụ cười quái gở, trên những tình huống không giống ai...Lê la, lung tung, bài báo xem chừng nhắm mục đích gây cười bằng những chi tiết câu khách, giọng văn bỡn cợt. Đó mới chỉ là kỳ 1 ("Ai là ai?"), báo Nông thôn Ngày nay còn rao: "Đón đọc kỳ 2: Phát bệnh vì người điên."
Nghe ra từ "điên" (madness) đã quá quen thuộc; nói chính xác hơn, nó bị đại chúng lạm dụng vô tư bởi một khái niệm mong manh, dễ vỡ.
Tiến trình nhân loại chứng tỏ không ít thiên tài, nhà phát minh, người mở đường, văn nghệ sĩ bị gán nhãn "điên" vào thời điểm này hoặc khác. Khi đó, "điên" đi kèm với một sự bùng nổ năng lượng gây sợ hãi, một thứ động lực siêu phàm, ngoài khả năng phàm tục của con người; và có thể, có cả sự trầm uất xâm nhập vào.
Lịch sử Việt Nam từng xuất hiện các vị vua, đại thần "điên" như các nhà sử học ghi nhận cụ thể:
...cuộc sống bị đè nặng dưới quyền lực của cõi linh thiêng, đã trở thành bất an đến cả tầng lớp trên của xã hội. Ông Hoàng Xuân Hãn trong khi lý giải sự kiện Lê Văn Thịnh hoá hổ chụp Nhân Tông đã nhận xét rằng ông này cũng như các vua Lý đời sau đều có thần kinh dễ xúc cảm. Suy diễn thêm thì thấy Lý Huệ Tông trở thành điên khùng (khi nổi cơn điên- năm 1217- đã tưởng tượng mình là một thiên tướng "tay cầm giáo và mộc, cắm cờ nhỏ vào búi tóc, đùa múa từ sáng tới chiều...") không phải không có nguyên nhân sâu xa trong truyền thống dòng dõi và thời đại.[Tạ Chí Đại Trường. (2006). Thần, Người và Đất Việt. Hà Nội: Nxb. Văn hoá- thông tin, tr. 108, tr.114].
Thực tế, một tên sát nhân sẽ được gọi là "tên điên" ngay cả khi hắn chẳng hề mắc triệu chứng tâm thần nào. Hầu hết đối tượng phạm tội giết người không phải bị bệnh tâm thần mà chúng là "lũ điên khùng".
Một trong những vấn đề của bệnh tâm thần là người mắc thiếu vắng một cái nhìn sáng suốt, hiểu thấu được nội tại của sự việc (insight); vì thế, nếu lỡ đánh mất năng lực này rồi thì anh ta cũng sẽ khăng khăng phủ định, cố cãi cho bằng được.
Mặt khác, khoa học phân loại bệnh tâm thần như hệ thống DSM chẳng hạn, còn nhiều bất cập, lệch lạc, phân biệt đối xử...
Y văn cho biết, ngay từ thế kỷ XVIII đã có cách tiếp cận bệnh tâm thần theo 2 hướng: nghiên cứu cách đối phó với bệnh tật- đặc biệt ở nông thôn, phản chiếu quan điểm của bác sĩ.
Trong những trường hợp không còn nghi ngờ gì đó là bệnh điên, thì bác sĩ như đại diện cho sự chăm sóc sức khoẻ cộng đồng, cần chắc chắn rằng bệnh nhân phải bị cách ly khỏi xã hội. Với những trường hợp mà nguyên nhân và hoàn cảnh đòi hỏi tuyệt đối đánh giá của bác sĩ, thì có một bảng phân loại tiêu chí đánh giá dựa vào để chẩn đoán; ngoài ra, bác sĩ cũng cần tham cứu thông tin về bối cảnh xã hội của gia đình, hàng xóm, mục sư và nhân viên công vụ... Từ quan điểm y khoa, hoàn cảnh kinh tế- xã hội, phần lớn là không chịu trách nhiệm cho việc thiếu khả năng đưa ra cách điều trị cho bệnh nhân.
Cũng cần lưu ý rằng, cái gọi là sự điên thường cũng liên quan mật thiết đến các trải nghiệm tôn giáo và huyền học.
Còn về máu điên, thì lịch sử khoa huyết thanh học (serology) đã lần ra cuộc nghiên cứu đầu tiên tiến hành vào 1854 bởi vị bác sĩ tâm thần cô độc người Scotland, cho đến tuyên bố của đội ngũ các nhà di truyền học- vào tháng Giêng năm 2005- về sự phát triển của một trắc nghiệm máu thuộc hệ gen có thể phân biệt được chẩn đoán tâm thần phân liệt và rối loạn lưỡng cực.
Xét dưới góc độ giới, không thể không nhắc tới thuật ngữ "nymphomania" (chứng loạn dâm của phụ nữ): khái niệm về cái gọi là "sự điên khùng tử cung" ("madness from the womb"), và niềm tin- tồn tại suốt nửa sau thế kỷ XVII- hành vi được quy cốt ở động lực tính dục bất thường của phụ nữ, lại được duy trì đến tận hôm nay trong sự phân loại lâm sàng (ví dụ, ICD-10).
Gần gũi với không ít chị em trong cuộc sống đời thường, là những "cơn điên" khốn khổ khốn nạn xảy ra dính đến kinh nguyệt, mang tên gọi PMDD và PMS.
"Điên" quả là không đơn giản để được chấp nhận với nhiều định kiến, hiểu biết lạc hậu trời ơi đất hỡi.
Chí ít, khi tôi tình cờ nghe ai đó (thường là nam giới) buột mồm "(Em) điên à?" đa phần tôi đều nghĩ đến sự giận dỗi, bực tức và yêu quý mà đúng ra họ muốn dành riêng cho đối tượng thân thương qua câu nói cực kỳ dở hơi ấy.
Phân loại: Đầu tuần một từ, Đọc sách, Đời sống, Nghiên cứu, Sức khỏe tâm thần, Tâm bệnh học, Tâm thần phân liệt, Thời sự

Tuy Blog Cái Tôi đã có rất nhiều lần đề cập đến Tâm thần phân liệt (TTPL), song đây là entry đầu tiên nhắc về hội chứng tâm thần phức tạp nhất này kết hợp với việc giới thiệu thế giới Hồi giáo.
Cụ thể hơn, trong văn bản y khoa chủ yếu của đạo Hồi vào thế 15 mang tên Cerrahiyyetu'l-Haniyye (Hoàng Đế Giải Phẫu) không tìm thấy bất kỳ dòng nhắc nhở nào về tình trạng bệnh Schizophrenia.
Có ý kiến nêu rằng, xem chừng tồn tại khả năng này bởi vì y khoa chỉ làm việc với các đối tượng tình nguyện điều trị, mà điều đấy lại không bao gồm những người bị loạn thần một cách rờ rỡ.
Qua văn bản độc đáo nêu trên, người ta còn biết nhiều thông tin lịch sử về cách loạn thần được hiểu trong hàng thế kỷ đã qua- cả về mặt xã hội cũng như quan niệm của bác sĩ hồi đấy.
Islam giữ vai trò quan trọng ngày càng tăng trong lịch sử y khoa và các văn bản Islam về y khoa là nguồn giàu có giúp các nhà lịch sử quan tâm tìm hiểu sự phát triển của việc chăm sóc y tế.
Phân loại: Học vấn, Nghiên cứu, Tâm bệnh học, Tâm thần phân liệt

Trường hợp nổi tiếng là tình trạng bệnh tâm thần của họa sĩ Vincent van Gogh đã được chẩn đoán theo 30 cách khác nhau bởi 150 bác sĩ- chứ không phải chỉ riêng những người trực tiếp điều trị cho ông.
Giữa các nhà tâm thần học và tâm lý học lâm sàng cũng từng tranh luận thể hiện suy nghĩ cấp tiến về sự phân loại bệnh tâm thần.
Nhà tâm lý lâm sàng, GS Tâm lý học lâm sàng thực nghiệm Richard P. Bentall thuộc đại học Manchester trong tác phẩm Madness Explained: Psychosis and Human Nature trình bày dự định mô tả bệnh tâm thần tách khỏi cách phân loại cứng nhắc, đồng thời cung cấp hình thức thay thế.
Theo GS. Bentall, việc thực hành tâm thần truyền thống định vị bệnh tâm thần trong một tập hợp các phân loại khác nhau. Hai ví dụ nổi tiếng về cách phân loại này là rối loạn lưỡng cực (vốn được gọi là rối loạn hưng- trầm cảm) và tâm thần phân liệt.
Cách phân loại này đi cùng với các cách phân loại cơ bản khác, đều được giới hành nghề chuyên nghiệp sử dụng như một sự mô tả cô đọng về bệnh tâm thần và trở thành hướng dẫn điều trị.
GS. Bentall khẳng định, các chẩn đoán tâm thần không những không đáng tin cậy (reliability: bất kể bác sĩ nào cũng đưa ra cùng chẩn đoán với đối tượng có mắc triệu chứng như nhau) mà còn không có độ hiệu lực (validity: sự đo lường mô tả đúng những gì công cụ định đo)-- hai tiêu chí cơ bản các nhà khoa học thường dùng để đo lường, đánh giá tính hữu dụng của một hệ thống chẩn đoán.
1. Nghiên cứu độ tin cậy của các hệ thống phân loại khác nhau cho thấy chúng phân tán và biến đổi.
Một nghiên cứu điển hình do Robert Spitzer-người ủng hộ mạnh mẽ hệ thống phân loại DSM- tiến hành, chỉ tìm thấy sự đồng thuận vừa phải giữa những chuyên gia tâm thần lão luyện về cùng nhóm bệnh nhân- và những kết quả này thu được dưới các điều kiện lý tưởng, một kết quả chắc chắn sẽ không được các nhà lâm sàng bận rộn trình độ trung bình thể hiện.
Nhiều nghiên cứu, theo GS Bentall, còn không thoả mãn các tiêu chí thống kê tối thiểu cho độ tin cậy.
2. Trong 201 chẩn đoán phân biệt của DSM-IV, nổi bật nhất về sự khác biệt trong hệ thống phân loại bệnh tâm thần xảy ra giữa tâm thần phân liệt và rối loạn lưỡng cực.
Vấn đề đối với sự khác biệt này là rất căn bản. Bất luận nghiên cứu còn nhiều điểm đáng bàn, luôn có một đường ranh phân chia rõ ràng giữa hai chẩn đoán trên.
Kendell & Gourlay (1970) thử kiểm tra gần 300 bệnh nhân được chẩn đoán mắc tâm thần phân liệt hoặc hưng- trầm cảm (bây giờ gọi là rối loạn lưỡng cực).
Nếu sự thắng thế của hệ thống phân loại là đúng đắn thì người ta buộc phải thấy hai nhóm triệu chứng khác biệt rõ ràng. Song nghiên cứu thực sự lại chỉ ra một dãy biến thiên các triệu chứng (dựa vào gene), với hầu hết các bệnh nhân tập trung vào khoảng giữa. Họ có một số triệu chứng tâm thần phân liệt điển hình và một số triệu chứng hưng- trầm cảm điển hình.
Nghiên cứu kế tiếp đã cung cấp bằng chứng tương tự về độ hiệu lực kém cỏi của hệ thống phân loại hiện thời.
Giới chuyên môn cũng đã tổ chức hội nghị thảo luận nên hiểu như thế nào về sự kiện lần đầu tiên người ta trải nghiệm bệnh tâm thần (đối lập, hay nối kết với, các đo lường mang tính khoa học) có thể tạo nên một sự hiểu biết ngày càng chính xác hơn, và cả hy vọng cho cả việc điều trị những đối tượng có nhu cầu-- cách tiếp cận theo hiện tượng học.
Cho đến thời điểm này, dù đã có không ít nghiên cứu ấn tượng thì mọi vấn đề liên quan đến hệ thống phân loại bệnh tâm thần còn chưa thực sự ngã ngũ. Giới thực hành tâm thần và tâm lý lâm sàng trên khắp thế giới vẫn dùng ICD-10 và DSM-IV-TR.
Tôi muốn kết thúc bằng câu chuyện về một vẻ đẹp điên dại; giai nhân quá yêu kiều trong bối cảnh nội trú tâm thần. Các loại thuốc điều trị cơn loạn thần (Olanzapine) đã giúp cô phục hồi tâm trí và phá huỷ luôn sắc đẹp trời cho mà có vẻ cô dường như không hề quan tâm đến nữa.
Phân loại: Học vấn, Nghiên cứu, Tâm bệnh học, Tâm lý học Lâm sàng, Tâm thần phân liệt, Thời sự, Trầm cảm
(A Beautiful Mind- film đã từng được trình chiếu và dễ tìm thấy đĩa VCD tại Việt Nam- dựa trên câu chuyện có thật, giải thích rất hay bệnh lý Tâm thần phân liệt.)
@ Một nghiên cứu năm ngoái của Đại học Maastricht (Hà Lan) chứng thực mối tương quan giữa đời sống chốn thị thành với việc phát triển các triệu chứng loạn thần, làm tăng cao hơn nguy cơ mắc bệnh Tâm thần phân liệt (TTPL).
Các nghiên cứu trước đó của cùng nhóm tác giả trên khẳng định rằng, tỷ lệ TTPL cao hơn trong dân cư đô thị có thể giải thích bởi mức căng thẳng (stress) nhiều, kết hợp tính dễ nhạy cảm với stres ở người trẻ tuổi phát triển bệnh TTPL; ngoài ra, nhóm nghiên cứu còn cho thấy tại những khu dân cư đô thị tỷ lệ lây nhiễm cao hơn.
Một số nghiên cứu khác cũng tìm ra mối tương quan dương giữa đời sống nông thôn với tỷ lệ thấp hơn người mắc TTPL.
Như vậy, các yếu tố môi trường và sinh học có thể liên quan đến sự phát triển bệnh TTPL. Gợi ý hữu ích cho công tác điều trị là các biện pháp hướng đến giải quyết sự căng thẳng do các yếu tố môi trường.
@ Thời gian qua, trên website Schizophrenia.com đã đăng tải báo cáo đặc biệt dài 20 trang về người hút thuốc lá và bệnh TTPL.
Theo đó, nghiên cứu xác quyết rằng ngày càng tăng dần tỷ lệ người hút thuốc lá mắc các rối loạn não bộ, bởi vì chất nicotine đem lại cho họ đôi chút ích lợi trong việc giảm thiểu một triệu chứng hay gặp là suy giảm năng lực nhận thức.
Báo cáo này cung cấp thông tin về các tác động cả tiêu cực lẫn tích cực của nicotine đối với bệnh TTPL; tổng quan các nghiên cứu đương đại lý giải tại sao đối tượng mắc TTPL và các rối loạn lưỡng cực dễ có xu hướng hút thuốc lá; giới thiệu cách thay thế chất nicotine và nguồn từ bỏ việc hút thuốc lá.
@ Một bài báo gần đây kể câu chuyện người mắc TTPL ngày nay được quyền chọn lựa và vướng phải vài hạn chế ra sao.
Thực tế, nhờ sử dụng các loại thuốc chống loạn thần (như Ryprexa và Risperdal) và tiến trình trị liệu tâm lý hợp lý, những người mắc TTPL có nhiều cơ hội sống đời độc lập và năng sản.
Trông ra thiên hạ, ngẫm về nước ta. Buồn thay là tại Việt Nam- bất chấp những tiến bộ khoa học và công nghệ- hiện còn có không ít người mắc TTPL vẫn chưa được hưởng thụ chế độ điều trị hiệu quả và tích cực nhất-- chí ít bởi giá cả thuốc men và sự thiếu quan tâm thích đáng của người thân.
Thực trạng đau lòng dường như còn lâu lắm mới cải thiện nổi: người mắc TTPL thường bị hắt hủi, xa lánh, thất nghiệp, xem như đồ bỏ đi, dễ trở thành kẻ lang thang đầu đường xó chợ, vô gia cư, hay luôn cần người nhà chăm nom, hoặc bắt buộc vào sống trong các trung tâm, cộng đồng để được bảo vệ, hỗ trợ và rồi có thể giã từ thế giới một cách êm thấm.
Phân loại: Stress, Sức khỏe tâm thần, Tâm bệnh học, Tâm thần phân liệt, Thời sự
Tôi sắp có kỳ nghỉ kết hợp ăn Tết Nguyên đán với gia đình lần đầu tiên kéo dài suốt một tháng trời ở quê nhà Đà Nẵng, nên sẽ chểnh mảng trong việc post bài.
Bằng chứng cụ thể, là giờ tôi chỉ muốn nhắc tới bộ film tôi đã từng xem đĩa VCD bằng chiếc máy vi tính second-hand cách đây hơn 1 năm rồi: Làm thế nào để bỏ kép trong 10 ngày.
Không có gì quá xuất sắc, chẳng để lại xúc cảm đặc biệt nào; điều duy nhất ấn tượng chăng thì không dính dáng chi đến bộ film ấy khi vừa xem cùng váy ngắn tối nay ở Fansland cả.
Như câu khẩu hiệu tuyên truyền thường xuất hiện vào mỗi dịp vui vẻ đón chào Tết cổ truyền của dân tộc: "Vui Xuân mới, không quên nhiệm vụ mới".
Vâng, như bạn có thể đoán phần nào, bên trên là một trong các bức ảnh về bệnh viện và người mắc tâm thần tại Pháp hồi những năm 1950 (nguồn).
Mối quan tâm thường trực của tôi là những vấn đề liên quan đến người mắc Tâm thần phân liệt (TTPL).
Có lẽ, bạn từng biết rằng, từ chỉ bệnh TTPL cả trong tiếng Việt và tiếng Anh (Schizophrenia) đều ám chỉ đối tượng có nhân cách bị phân hóa, chia tách (split).
Song sự kiện thực tế là bệnh TTPL không thể xảy ra với người có hai nhân cách; vậy nên, người ta phải tự hỏi: sao điều đó lại xảy ra như thế?
Lời cuối, tôi hy vọng bạn cũng sẽ ngạc nhiên ít nhiều khi tìm hiểu làm thế nào trẻ em mặc cả?
Phân loại: Film, Nghiên cứu, Quan hệ, Tâm bệnh học, Tâm thần phân liệt, Trẻ em
Hơn ba ngày trước, một bài báo trên tờ The Boston Globe giới thiệu khám phá của các nhà khoa học tại Bệnh viện Mclean (thuộc đại học Harvard) có thể giúp chúng ta hiểu biết hơn bản sắc của các gene liên quan đến bệnh Tâm thần phân liệt (TTPL).
Cũng theo bài báo, nghiên cứu gene về bệnh TTPL đến giờ vẫn còn tỏ ra khá chậm lụt và hụt hẫng:
Phát hiện di truyền học (genetics) về một căn bệnh phức tạp như Tâm thần phân liệt thì chẳng khác nào gắn khớp các mảnh phù hợp trong một trò chơi lắp hình cực kỳ khó, TS. Linda Brzustowics-- GS di truyền học và nhà tâm thần học thuộc đại học Rutgers, đồng nghiệp với Giám đốc Phòng Thí nghiệm Nghiên cứu Tâm lý Deborah Levy-- nói.Nói chung, một số dấu hiệu đã được giới nghiên cứu định dạng là có liên quan tới các gene gây bệnh TTPL bao gồm:
Nghiên cứu hệ gene gần đây cho thấy rằng, khoảng chừng 15 gene có thể có liên quan đến bệnh TTPL-- bà Linda phát biểu--, song "hãy còn rất nhiều bóng mờ", và nhiều phát hiện chủ yếu đem lại hy vọng mà không thể xem là câu trả lời.
@ Các dấu hiệu động dung khuôn mặt: Vòm miệng của một số đối tượng mắc TTPL hoặc người trong gia đình họ thường rất đặc thù: vòm miệng cao, và/ hoặc nhân trung (a middle ridge) bị lệch tâm.
@ Khả năng liếc mắt (eye tracking): Hầu hết người khoẻ mạnh có thể dõi theo ngay chuyển động của một mục tiêu khá gần với mắt mình; song với nhiều người mắc TTPL (và bà con thân thuộc của họ) lại dường như gặp khó khăn với chuyện này, họ liên tục nhìn trễ và khó bắt kịp mục tiêu.
@ Rối loạn tư duy: Một số người mắc TTPL và bà con thân thích khoẻ mạnh khác trong gia đình họ thường định kỳ phát ngôn lúng túng, khó khăn hoặc sử dụng cách nối kết các từ rất bất thường.
Khoa học thì khách quan và thường hướng đến việc phục vụ đời sống, song thực lòng khi đọc những thông tin mô tả các yếu tố sinh học của bệnh tâm thần (mental illness) cảm xúc trong tôi thật xáo trộn khó tả, buồn vui lẫn lộn.
Chẳng hạn, như tuyên bố trên một website rằng "Các bệnh tâm thần chủ yếu là các rối loạn não có nguyên nhân hoàn toàn sinh học"; có thể hiểu phần nào là ý định của họ nhằm giảm thiểu sự hạ nhục những gì dính đến đến bệnh tâm thần, rằng bệnh tâm thần không "hoàn toàn thuộc về tâm trí" mà chúng thực sự như là bất kỳ bệnh lý thực thể nào khác.
Tuy vậy, một nghiên cứu lại cho thấy những tuyên bố tương tự trên có thể gây hại hơn là đem lại điều tốt lành, làm tăng thêm sự hạ nhục, và khiến cho các bệnh nhân cảm thấy bi quan về khả năng hồi phục.
Cùng với nghiên cứu vừa dẫn, nhiều phát hiện khác cũng khẳng định "những giải thích sinh học về các vấn đề sức khoẻ tâm thần có thể làm cho tri nhận của cộng đồng và của cả bệnh nhân nghĩ tới khả năng gây hại (tự thân và cho những người khác), kết quả là thêm nhiều dự đoán tiêu cực với chuyện chẩn đoán, trong khi những sự mô tả mang tính tâm lý có thể đem đến hiệu quả ngược lại."
Nhân tiện, nếu bạn có nhu cầu, thì đây là những chỉ dẫn cụ thể và cần thiết để chăm sóc bệnh nhân TTPL ngoại trú.
Phân loại: Kỹ năng sống, Nghiên cứu, Tâm bệnh học, Tâm thần phân liệt, Thời sự
Sáng nay, tôi nhận được tin nhắn của một sinh viên năm thứ 3:
"Anh T. à, em muốn hỏi anh là bọn em NCKH (nghiên cứu khoa học?) với đề tài liên quan đến việc sử dụng test Eysenck ở lái xe thì ngoài mục đích nghiên cứu để biết ra thì còn lí do nào thuyết phục hơn không ạ?"
May máy điện thoại di động đã hết tài khoản cả tháng nay, không thì thú thực tôi chưa biết mình có thể bộc lộ sự buồn giận đến mức nào.
Vừa thương em ấy, bởi tính thật thà tâm sự chỗ thân quen, bí là hỏi tự nhiên thôi vì biết chắc chắn tôi sẽ phản hồi chu đáo; vừa thêm một lần nữa tự cười giễu, do kịp nhận ra mới đây tôi còn thiếu trách nhiệm với chính bản thân chẳng kém em ấy.
Chao ôi, bạn mong chờ gì ở cấp độ đại học tại Việt Nam? Ai, điều chi làm cho cái gọi là "NCKH" trở thành mỹ từ sáo rỗng, tự tin trời ơi đất hỡi như rứa? Liệu trường hợp này chỉ là cá biệt, hay sâu xa nó phơi bày thực trạng nhiễu nhương đang hiển hiện vô tư trong xã hội: lộng giả thành chân?
Mặt khác, theo thông lệ phi lý, hễ nhắc đến "trách nhiệm" là người đời ngóng ngay sang ai đó-- đủ đầy tuổi tên-- phải có bổn phận hoàn thành, làm cho trọn vẹn (lạy giời, nghĩa gốc của từ Hán- Việt "trách" là 'đòi lấy tiền của' đấy ạ!).
Và từ kiểu ngụy biện tinh vi ấy, sau khi "phóng chiếu" thoải mái xong, người ta tiếp tục vứt toẹt, quên bẵng lòng tự trọng và thói quen phản tỉnh; rằng, trách nhiệm (responsibility) cần được quan niệm rõ ràng trên cái nền 'đáp ứng' ('respond').
Ở góc độ trị liệu, trải nghiệm của riêng cá nhân tôi về phẩm chất này thật muộn phiền.
Hai tuần một lần, tự nguyện bỏ tiền túi đón xe đò đi về đoạn đường Hà Nội- Ninh Bình gần 150 km, tôi những mong sẽ giúp đỡ phần nào việc tái hoà nhập cộng đồng của một nữ thân chủ mắc tâm thần phân liệt đang sống với bố mẹ nghèo khó.
Gắng gồng sức và kiên nhẫn có thừa, kết quả sau 3 buổi làm việc cũng thu được ít nhiều tín hiệu khả quan, giúp tôi tích luỹ thêm tí chút kinh nghiệm. Tuy nhiên, cùng lúc ấy, tôi kịp nhận ra mình không thể và không nên cáng đáng phần trách nhiệm của bố mẹ thân chủ.
Một người trẻ sẽ phát triển ra sao, nếu suốt ngày cô ấy chỉ biết ăn, xem TV, đi loanh quanh và ngủ? Mức độ loạn thần của thân chủ chưa đến nỗi mất hết khả năng kiểm soát hành vi, thường xuyên ngập sâu trong hoang tưởng, chẳng còn nhận biết thế giới xung quanh,...
Chẳng nên đổ lỗi toàn bộ do hoàn cảnh hoặc tại nhận thức hạn chế. Nếu bố mẹ cô ấy luôn sẵn sàng làm mọi thứ để đem lại một đời sống mới khả dĩ tốt đẹp cho đứa con gái yêu quý, họ buộc phải có lối đáp ứng thích hợp và quyết tâm nhận lấy trách nhiệm nặng nề, thể hiện đúng đắn sự cam kết hợp tác tích cực, hiệu quả với nhà trị liệu.
Thật vô ích khi cứ lặp đi lặp lại những hành vi quen thuộc, tương tự mà lại phấp phỏng hy vọng về một kết quả khác đi. Thẳng thắn mà nói, đó là sự sỉ vả thậm tệ về khía cạnh tâm lý học.
Tôi nghĩ, tâm thế ảo tưởng, lạc quan tếu này xem chừng đâu có xa lạ lắm với không ít người bình thường chúng ta?
(Dù hầu hết dễ dàng bảo ban, dạy dỗ nhau rằng, thao thức và bầm dập ghê gớm, cày chết cha chết ông, sứt đầu mẻ trán, lên bờ xuống ruộng te tua còn chưa ăn ai, chứ dám đâu thoải mái triền miên "nằm mộng suốt đêm trong thiên đường.")
Sự thật đau lòng là đôi khi chúng ta ngu dốt đến độ hồn nhiên tự gây tổn thương cho chính bản thân mình. Quá thông minh, giỏi lập luận, thừa lý lẽ, chúng ta vội vã biện hộ và nhanh chóng đưa ra giải pháp khả thi.
Chỉ tiếc, dường như chúng ta thiếu vắng tự vấn cơ bản: điều này (hành động, phát ngôn, công việc, quyết định,...) có biểu lộ toàn vẹn con người mình; nó sẽ khiến ta nghĩ ra sao về bản thân đây?
Và nếu dành thời gian quán sát xứng đáng, rốt cục sớm muộn rồi chúng ta cũng buộc phải chấp nhận rằng, mình đã kém nhạy cảm để thấu hiểu dấu chỉ, tiếp thu bài học cần nắm vững, quá sợ hãi sự thay đổi, và hèn nhát đến độ không dám dũng cảm nhận lấy trách nhiệm rà soát tổng thể hoặc thử nghiệm một cái nhìn cùng lối đi mới-- không những trên lộ trình đến công sở hàng ngày, sống thật ý nghĩa từng buổi ngồi giảng đường, phương cách phấn đấu với đời mà cả hướng đích tâm linh nữa.
Phân loại: Kỹ năng sống, Sức khỏe tâm thần, Tâm thần phân liệt, Tham vấn Tâm lý, Tơ tưởng J.
@ ngày...: * vào bà gặp cái bình đẹp (mới mua) bày trên bàn thờ, nó là của chú, mình nghĩ đến việc nếu nó bị vỡ thì chú sẽ quát hay là đánh và mình có 1 tí tị tì ti sợ mình sẽ làm vỡTrên đây là những dòng nhật ký được trích lại nguyên văn (cả lỗi chính tả) của một nữ học sinh phổ thông trung học đã mắc tâm thần phân liệt gần 3 năm nay.
* em trường rủ đi xem đường mới làm (đạp xe) mình cũng muốn đi nhưng nghĩ đến việc xe cộ đi đường nhỡ làm sao thì chết nên thôi để nó đi kệ nó, mình ở nhà không trách nhiệm
@ ngày...: mình kêu không đỡ, bố cứ bảo dần dần làm mình hơi khó chịu (không đỡ thì chống chế bảo dần dần).
@ ngày...: * ngày hôm nay 2 lần mình lên cơn bực tức chán đời vì mãi không đỡ nhưng giờ thì đã trở lại bình thường
* mình phát hiện ra khi chưa gặp 1 ai đó mình có nhiều chuyện muốn nói nhưng khi gặp thì lại ít
@ ngày...: Hôm nay đi ăn cỗ, cỗ thật là ngon.
Cô gái thổ lộ mình "sợ linh tinh", chẳng hạn:
- Sợ mình làm cái gì sai, chào chú cũng sợ sai; đêm đang ở nhà bà, nghe tiếng xe máy chú về tim đã đập rộn lên. (Nói về chú: "luôn đúng, nghiêm khắc, hay lườm, hay mắng, cẩn thận, tốt bụng; có uy").
- Sợ viết sai, diễn đạt không đúng ý mình.
- Dường như mọi thứ thay đổi theo môi trường (ý nghĩ, tình cảm).
- Sợ không đối xử tốt như họ đối với mình.
- Khi giữa đám đông, sợ mọi người nghĩ là mình đần.
- Bố mẹ chuẩn bị một cái lễ (đoán bác sĩ báng bổ)...
Thực tế, tôi không gợn chút ý nghĩ gì như thế; hơn nữa, bản thân đã đọc Thần, Người và Đất Việt:
...Điều đó không lạ vì ANC (phần viết thế kỉ XV) cho biết rằng "(Ở Giao Chỉ) người có mối lo, tai biến thì nhảy đồng, chạy thầy cúng." Sách cũng ghi lại các sự kiện "lạ lùng hơn hết" ở các vùng bên ngoài trung châu như chuyện ma lai rút ruột ở châu Gia Hưng, chuyện ma trành hoá hổ ở châu Ái, phép thư ở huyện Tú Mang. Vụ Lê Văn Thịnh hoá hổ chụp Lí Nhân Tông ở Hồ Tây (1096) có lẽ loan truyền từ sự kiện ông có người gia nô gốc Đại Lí (Vân Nam) giỏi pháp thuật và điều đó chứng tỏ các tập đoàn dễ tiếp cận nhau trong các tin tưởng đồng dạng. Trong các buổi lễ, cũng theo ANC, có thầy pháp giết gà, hướng về phía rừng mà tế, đánh thanh tre, dây nỏ ra tiếng từng chặp để đuổi thần hổ; có thầy pháp bôi mực đỏ trên mặt bệnh nhân, đọc chú, "...đợi quỷ thần ăn xong cả nhà xúm lại ăn, cho đấy là hết lòng kính trọng" (13)... (tr.111)Bố của thân chủ bảo con gái mình về tình cảm thì tỉnh tuyệt đối như người bình thường; "bệnh gì kỳ lạ."
Và đây là cảm nhận của nữ thân chủ về diện mạo bề ngoài của mình:
1. Về hình thức, tôi nghĩ mình xinh.Ngoài lề. Cứ xem đơn thuốc do bác sĩ tâm thần Việt Nam kê, tất cảm thông với ưu tư của các nhà nghiên cứu nước ngoài đã và đang muốn tìm hiểu làm thế nào mà toàn thể ngành Y lại có ý nghĩ sai lạc rằng, các thuốc chống loạn thần càng đắt tiền như Zyprexa, Seroquel và Risperdal (mỗi năm Hoa Kỳ chi phí cho thuốc chống loạn thần 10 tỷ dollars) thì càng hiệu quả hơn.
2. Tôi đáng yêu khi cười.
3. Hình thức của tôi đẹp và hấp dẫn.
4. Da của tôi xấu xí.
5. Tôi xấu hổ về chân.
6. Tôi hãnh diện về dáng người, khuôn mặt.
7. Tôi không được hấp dẫn khi xấu tính.
8. Nếu có thể thay đổi mạo diện, tôi sẽ thay đổi làn da.
9. Ước gì tôi có được da trắng.
10. Cái hay nhất của tôi là hình thức.
11. Cái dở nhất của tôi là bàn chân.
12. Giọng nói của tôi tàm tạm.
13. Bạn tôi muốn tôi khỏi bệnh.
Và nếu bạn vẫn còn hứng thú vì những điều lạ mà quen, thì xin mời đọc câu chuyện này để phần nào cảm thấy quen mà lạ.
Phân loại: Đọc sách, Loạn thần, Nghiên cứu, Tâm thần phân liệt, Thời sự, Thuốc men, Tơ tưởng J.
Bệnh nhân mắc động kinh thái dương (temporal lobe epilepsy) khi gặp cơn (seizure) thi thoảng trải qua những ảo giác (hallucination) bất thường.
Một nhóm các nhà khoa học Pháp vừa tiến hành xem xét lại những hiện tượng kỳ lạ này, mà vào thế kỷ XIX, nhà thần kinh học huyền thoại người Anh John Huglings Jackson từng định danh là "trạng thái mơ màng" (dreamy states).
180 bệnh nhân động kinh được đề nghị kích thích não và ghi lại, nhằm gắng thiết lập nguồn gốc các cơn. Kết quả, có 17 bệnh nhân báo cáo tổng cộng 55 trải nghiệm trạng thái mơ màng; một số là do cơn, một số vì não bị kích thích.
Trải nghiệm thường gặp ở những người có trạng thái mơ màng là déjà vecu (giống như déjà vu song liên quan đến tất cả mọi giác quan). Như một bệnh nhân giải thích:
Nó giống như thể trong cơn, tôi đang hồi tưởng lại điều gì đấy... nhưng tôi có thể thấy bạn một cách rõ ràng. Như thể những gì đang xảy ra bây giờ đã từng xảy ra đối với tôi, như thể một ký ức cũ càng tôi đang sống ngoài tuổi trung niên.Tuy vậy, ở những thời điểm khác, cảm giác càng giống với một ảo thị:
Tôi thấy chính mình đang đánh trống, mọi người trong gia đình thì lắng nghe, một bệnh nhân khác nói.Nhiều ảo giác tương tự luôn dính dáng tới một số các hồi ức riêng tư trong một quá khứ xa xăm hoặc mới xảy ra gần đây, mà không bao giờ là các sự kiện công cộng hoặc lịch sử.
Điều này gắn kết với phát hiện rằng, các trạng thái mơ màng được đánh thức khi đang trong cơn, hoặc do kích thích thuỳ giữa thái dương (mesial temporal lobe)-- nơi đặt để các ký ức tự truyện.
Thật thế, một nghiên cứu từng giới thiệu về hiện tượng ảo giác bóng người.
Theo đó, một bệnh nhân 22 tuổi mắc động kinh, với các vấn đề tâm thần chưa rõ nguyên nhân, đã mô tả cảm giác kỳ quặc là một bóng người cứ bắt chước hành động của cô ấy; trong khi thực sự không có ai ở đấy cả.
Cô này có trải nghiệm trên, trước lúc phẫu thuật, do các nhà nghiên cứu Thụy Sĩ kích thích điện thuỳ thái dương- đỉnh (temporoperietal) bên trái-- vùng não được cho là có liên quan tới sự tích hợp đa cảm giác và giúp phân biệt bản thân với người khác.
Khi bệnh nhân ngả lưng và cuộc thử nghiệm được tiến hành, cô này cảm thấy có một bóng hình nằm cạnh mình. "Anh ta nằm cạnh tôi, hầu như là sát kín cơ thể tôi, song tôi không cảm thấy điều đó."
Khi bệnh nhân ngồi thẳng và ôm lấy đầu gối, cô mô tả cảm giác không thoải mái rằng, cái bóng người giờ cũng ngồi cùng và siết chặt tay cô.
Lúc làm bài tập ngôn ngữ, được đề nghị đọc các từ trong một tấm card, nữ bệnh nhân bảo: "Anh ta muốn nắm lấy tấm card; anh ta không muốn tôi đọc."
Qua hiện tượng không nhận ra hình người là ảo giác về chính cơ thể của nữ bệnh nhân, các nhà nghiên cứu cho rằng, kết luận của họ có thể giúp hiểu được cơ chế ẩn dưới trải nghiệm hoang tưởng paranoid và bị người lạ điều khiển.
Đáng chú ý, sự hoạt động quá mức của thùy thái dương- đỉnh của bệnh nhân mắc tâm thần phân liệt có thể dẫn tới việc quy chiếu sai lệch hành động của chính bản thân họ cho người khác.Bản thân tôi, khi đọc các nghiên cứu trên, lại hình dung ra ngay khuôn mặt đờ đẫn và trạng thái bàng hoàng, ngơ ngác của chị chủ nhà tôi đang ở trọ mỗi khi tôi chợt thoáng trông thấy chị ấy trong cơn động kinh.
Hèn chi, chính chị ấy kể đi kể lại cho tôi nghe nhiều kỷ niệm hồi anh chị mới yêu nhau; thế nhưng, mỗi khi tôi đùa nhắc lại nó, chị ấy lại một mực bảo ai nói mà biết, hay là anh ấy đã tâm sự cho chú nghe hết...
Bạn có thể tham khảo sâu hơn ở đây, nếu quan tâm đến hiện tượng hoang tưởng và bị người lạ điều khiển.
Phân loại: Ảo giác, Động kinh, Hoang tưởng, Nghiên cứu, Tâm bệnh học, Tâm thần phân liệt
Hôm qua, là Ngày Sức khỏe Tâm thần Thế giới (World Mental Health Day) 2006 khuyến khích mọi người dùng bữa cùng người thân và gia đình, như là một biện pháp tích cực nâng cao sức khỏe tâm thần.
Liên quan đến chủ đề này, một nhóm các nhà hoạt động sức khỏe tâm thần đang xúc tiến việc kêu gọi xóa bỏ chẩn đoán Tâm thần phân liệt.
Ngày càng có nhiều sự kiện hỗ trợ cho việc khẳng định rằng Tâm thần phân liệt (Schizophrenia) không còn là một rối loạn, điều kiện riêng lẻ, tách biệt.
Phân loại: Đời sống, Tâm bệnh học, Tâm thần phân liệt, Thời sự
Mới ngày kia, blog Cái Tôi vừa post bài "Có những ý nghĩ hoang tưởng hoặc nghe giọng nói trong đầu-- đừng lo quá, thường thôi!?"
Hôm nay, thêm tin vui cho những người nghe giọng nói trong đầu, một trong những dấu hiệu dương tính của Tâm thần phân liệt (Schizophrenia), khiến cho họ chịu đựng không ít khổ sở, cực hình.
Các nhà trị liệu hành vi nhận thức (CBT: Cognitive Behavioural Therapy) hầu như đã có thể giúp họ giảm thiểu nỗi muộn phiền, đau đớn này bằng cách hạn chế sự thiếu hụt nhận thức (cognitive deficit)-- vốn được nhiều chuyên gia xem là nguyên nhân hàng đầu làm người ta nghe thấy những tiếng nói trong đầu.
Cần lưu ý rằng, theo một lý thuyết thì lý do người mắc TTPL nghe các giọng nói là bởi họ gặp một số trục trặc với những ý nghĩ bên trong bản thân, hoặc với các từ họ dự định sẽ nói-- mà nguồn cơn xuất phát từ bên ngoài.
Jerome Favrod và cs. tại Thuỵ Sĩ tiến hành trị liệu theo cách tiếp cận hành vi- nhận thức cho một đối tượng mắc chứng nghe giọng nói trong đầu 38 tuổi-- người tin tưởng mình thuộc hạng xấu xa, tồi tệ.
Nhóm nghiên cứu muốn giúp đối tượng nhận thức đúng đắn hơn nguồn gốc của những từ ngữ mà anh ta nghe thấy.
Trong quá trình hướng dẫn trị liệu, nhóm nghiên cứu chọn một loại tập hợp, như "trái cây".
Họ đưa cho đối tượng xem bức tranh trái cây, đọc lớn tiếng tên một trái cây, rồi bày cho đối tượng viết tên của trái cây khác, và cuối cùng thì yêu cầu anh ta cho biết tên của trái cây.
Sau đó, họ đưa cho đối tượng danh sách tất cả các trái cây đã kể ra, hỏi anh ta tên một trái cây nào đó-- đã được chỉ trong tranh, qua việc viết hoặc đọc to tên của nó.
Các nhà nghiên cứu còn dạy cho đối tượng nhớ tốt hơn các điều mục, sự vụ gợi lên trong ký ức cá nhân; ví dụ, nếu anh ta đề xuất "quả táo" thì họ sẽ giúp anh ta liên kết điều này với một cây táo trong vườn bà nội anh ta.
Điều quan trọng nhất, những ảo thanh (auditory hallucinations) của đối tượng cũng giảm thiểu đáng kể và tiếp tục được cải thiện ở cuộc điều tra năm sau.
Rõ ràng, dù đây chỉ là một trường hợp nghiên cứu đơn lẻ, kết quả thu được càng góp phần khuyến khích giới chuyên môn sử dụng phương pháp trị liệu nhận thức cho người mắc chứng ảo thanh.
Nhân tiện, như đã biết, nghe thấy giọng nói là dạng thức thường gặp nhất của ảo giác-- nghe, nhìn, cảm giác và ngửi thấy điều gì đó không có trong thực tế hay hiện tại-- đặc trưng bởi việc bình luận về cá nhân hoặc đàm đạo với người khác.
Phân loại: Ảo giác, Nghiên cứu, Tâm bệnh học, Tâm thần phân liệt
I. Kết quả
Trên cơ sở đối tượng và phương pháp nghiên cứu xác định, chúng tôi đã tiến hành công việc, xử lý số liệu theo tiêu chí trắc nghiệm và tuân thủ các nguyên tắc toán xác suất- thống kê.
Thực tế, kết quả test Rorschach mang tính tổng thể, thống nhất giữa các yếu tố.
Dưới đây, chúng tôi nêu ra một số điểm chính yếu, nổi bật và bàn luận về những vấn đề liên quan nảy sinh khi áp dụng test Rorschach trong bối cảnh lâm sàng Tâm thần phân liệt tại Khoa A6- Bệnh viện Quân y 103 (n= 32), có so sánh với kết quả nhóm Học viên, cán bộ làm việc tại Học viện Quân y (n= 35).
Trong nghiên cứu này chúng tôi chỉ tập trung xử lý một số kết quả chính yếu liên quan đến các vấn đề cơ bản của test Rorschach: số lượng câu trả lời; định khu; ưu thế; nội dung câu trả lời.
*I.1- Số lượng câu trả lời
Xin nhắc lại, như đã đề cập cụ thể, với mỗi hình có thể có một hoặc một số câu trả lời. Số lượng câu trả lời của 2 nhóm được trình bày trong bảng số lượng câu trả lời của 2 nhóm.
Theo đó, mặc dù,cả hai nhóm đều có cùng số tối đa (R = 7 câu trả lời/ 1 hình) và tối thiểu (không có câu trả lời), song chỉ số trung bình ở nhóm TTPL thấp hơn nhiều so với nhóm học viên (22, 32 so với 14,44). Sự khác biệt này đáng kể về mặt thống kê (p<0,001).>
Để có cơ sở đánh giá khách quan và đúng đắn hơn về sự khác biệt trong số lượng câu trả lời của 2 nhóm, chúng tôi xác định số lượng câu trả lời trung bình qua từng hình, kết quả tổng hợp được trình bày tại bảng. Theo đó, ở hình I tập trung cao nhất số lượng câu trả lời (với nhóm TTPL) và thấp nhất (với nhóm Học viên). Mặt khác, bảng 2 cũng cho thấy, nói chung ở nhóm TTPL có câu trả lời trung bình đều thấp ở tất cả các hình (trừ hình I) và đặc biệt thấp ở hình IX (chỉ có 0,62 câu trả lời).
*I.2- Định khu
Xin nhắc lại, tùy theo câu trả lời bao quát toàn bộ hình hay chỉ là một bộ phận của hình/ chi tiết nhỏ mà các câu trả lời được mã hóa (theo tiếng Anh). Kết quả định khu các câu trả lời được trình bày ở bảng.
Theo đó, những câu trả lời bao quát toàn hình ở nhóm Học viên Quân y khá cao (66,62%); trong khi đó ở nhóm TTPL, tỷ lệ này chỉ chiếm 46,79%. Sự khác biệt này là đáng kể về mặt thống kê. Sự khác biệt cũng đáng kể ở chỉ số chi tiết nhỏ (Dd): ở nhóm TTPL là 18,83%, còn ở nhóm Học viên là 8,18% (p<0,05).>
*I.3- Ưu thế trong câu trả lời
Một lần nữa, cần lưu ý rằng, tuỳ theo yếu tố nào đóng vai trò chủ đạo, mà các câu trả lời được mã hoá: F- hình dáng chiếm ưu thế (ví dụ, “con dơi”); M- vận động của người (“2 người nhảy múa”). Kết quả theo các chỉ số ưu thế được trình bày ở bảng.
Theo đó, kết quả cho thấy, hình dáng chiếm ưu thế trong 219 câu trả lời của nhóm TTPL có tỷ lệ 47,0%, thấp hơn đáng kể so với 62,19% của nhóm Học viên (p<0,001).>
I.4- Nội dung câu trả lời
Một nhóm chỉ số khác cũng được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và cũng được mã hoá theo tiếng Anh, đó là các chỉ số nội dung. Kết quả nội dung các câu trả lời được trình bày trong bảng.
Theo đó, ở nhóm TTPL, nội dung động vật chiếm hơn một nửa số trường hợp (51,74%), cao hơn nhiều so với nhóm Học viên (31,07%). Sự khác biệt này là đáng kể về mặt thống kê (p<0,001).khung xương chậu”, “đốt sống”, “tế bào thần kinh”,… Chỉ số này ở nhóm TTPL chỉ chiếm 2,6% số câu trả lời; trong khi đó, ở nhóm Học viên, chỉ số Anat lên đến 14,90%.
Như kết quả ở bảng cho thấy, nội dung động vật (bao gồm A và Ad) chiếm tỷ lệ khá cao trong số các câu trả lời của cả 2 nhóm; mặt khác, các câu trả lời cũng nói về nhiều loại động vật khác nhau.
Đáng lưu ý, đồ vật và thiên nhiên (phong cảnh) ít được nhìn thấy. Ngoài ra, trong khi chỉ số phong cảnh LS và trang trí hoa văn Or xuất hiện trong trả lời của nhóm Học viên mà thôi và có tỷ lệ thấp nhất, thì nội dung trả lời đồ vật Obj lại chỉ biểu hiện ở nhóm TTPL; mặt khác, cũng thấy nổi lên tỷ lệ nhìn theo góc độ giải phẫu của nhóm Học viên Quân y.
Trong các dạng, động vật được nhìn thấy nhiều nhất. Nhằm nhận diện loại động vật nào xuất hiện trong các câu trả lời, chúng tôi trình bày tần suất phân bố của các dạng động vật theo từng hình.
Kết quả cho thấy, động vật có cánh (dơi, bướm, cánh cam, đại bàng, cú vọ, phượng hoàng, chim chích bông, gõ kiến, bọ hung,…) chiếm tỷ lệ khá cao ở các hình I, II, IV và đặc biệt là ở hình V.
Trong khi đó, động vật 4 chân (gấu, hổ, hươu, lợn, trâu, ngựa, mèo, báo, sư tử, bò, chó, sóc, thỏ, chuột,…) chiếm ưu thế ở các hình II, VII và VIII. Sự khác biệt chủ yếu của 2 nhóm diễn ra ở các hình II, III, IV và X về nội dung động vật có cánh; ở hình III về nội dung động vật 4 chân, và ở hình IX về những dạng động vật khác (rắn, nhện,...)
Cá (cá ngựa, cá đuối, cá mập,...) tương đối ít được nhìn thấy và với đối tượng mắc TTPL chỉ xuất hiện ở hình III.
Trở lên trên, chúng tôi vừa trình bày toàn bộ kết quả dưới hình thức bảng biểu để xử lý theo các chỉ số cơ bản của test Rorschach. Khái quát sơ bộ, có thể tạm thời khẳng định rằng, kết quả nghiên cứu gây ấn tượng phần nào về cách đáp ứng không giống nhau giữa hai nhóm.
Dưới đây, xin bàn luận chung xoay quanh những vấn đề đã được xác định và rồi sẽ đi sâu phân tích một số trường hợp điển hình, nhằm tiếp tục công việc kiểm tra giả thuyết đặt ra từ đầu cuộc nghiên cứu là: có sự khác biệt đầy ý nghĩa trong kết quả trắc nghiệm Rorschach giữa nhóm TTPL và nhóm Học viên.
II. Bàn luận chung
*II.1- Về số lượng câu trả lời
Rất nhiều tác giả nghiên cứu Rorschach đã đưa ra số lượng câu trả lời trung bình của người bình thường.
Chẳng hạn, theo Beck (1954) là 15,8; theo Piotrowski (1957) là từ 15 đến 30, còn với nghiên cứu của Burlatruk (1979) là 16,8.
Trong nghiên cứu này của chúng tôi, chỉ số trung bình của cả 10 hình ở nhóm Học viên là 22,32.
Như vậy, có thể nhận xét rằng, không có sự khác biệt lớn giữa kết quả của nhóm Học viên- người bình thường- trong nghiên cứu này với kết quả của các tác giả khác.
Số lượng câu trả lời phản ánh tính mềm dẻo của quá trình tri giác, sự phong phú và linh hoạt trong tư duy; ngoài ra, nó còn phản ánh IQ.
Tuy nhiên, có những người bình thường nhưng số lượng câu trả lời thấp, đó là trường hợp họ có “tham vọng chất lượng”; lúc này, câu trả lời trở nên nghèo nàn vì bị ức chế bên trong, song chúng khác câu trả lời bệnh lý bởi hình ảnh đưa ra hầu hết đều có chất lượng cao.
Một đặc điểm của các hình Rorschach là chúng không phải là vật có thực nên ngay sau khi trả lời, nhóm Học viên dường như đã không hài lòng lắm vì họ nhận thấy có vài ba chi tiết chưa hợp lý. Điều này khiến họ lại cố gắng có câu trả lời khác; thực tế, đôi người đã xoay, đảo tư thế, thậm chí lật ngược ra mặt sau của hình để tìm kiếm.
Với nhóm TTPL, chỉ số câu trả lời trung bình trong nghiên cứu của chúng tôi là 14,44 (kết quả trên nhóm TTPL của Burlatruk là 10,7).
Có thể lý giải chỉ số câu trả lời thấp ở nhóm TTPL là do sự suy giảm tính tích cực cá nhân. Người mắc TTPL thường nhanh chóng bằng lòng với 1 hoặc 2 câu trả lời đối với mỗi hình. Gặp những hình khó, ví dụ như hình IX, họ thường nhanh chóng từ chối dưới dạng “Không nhìn ra hình gì cả.”
Trước các phản ứng từ chối, không đưa ra được một câu trả lời nào, giới chuyên môn khuyến cáo nên khuyến khích đối tượng, kêu mời họ cố gắng hơn, song không được gợi ý hay chi phối việc của họ.
Theo Loosli-Usteri, một điều chắc chắn là phản ứng này hoạ hoằn lắm mới xảy ra nơi người bình thường và khoẻ mạnh trên bình diện tâm linh. Còn D. Anzieu thì nêu ra những hình thường hay bị từ chối nhất (theo thứ tự): IX, VII, VI, IV và II. Tác giả Zangger lại chỉ rõ ý nghĩa của các hình thường bị từ chối: VI- tính dục; VII và IX- hình ảnh người mẹ,…
Theo Rorschach, phản ứng từ chối là một trong những dấu hiệu đáng lo ngại, cho phép đặt giả thuyết về một tình trạng loạn thần/ psychosis hoặc động não/ organic.
Đem đối chiếu với năng suất toàn diện của đối tượng, sẽ có cái nhìn trung thực hơn. Nếu tổng số số câu trả lời từ chối vượt quá 20%, là dấu hiệu đời sống đương sự đang bị bế tắc và vây toả.
Trong nghiên cứu của chúng tôi, có trường hợp S11 (một người mắc TTPL) đã từ chối 4/10 hình. Đối tượng này có tiền sử chấn thương sọ não, cho biết vài hôm gần buổi làm trắc nghiệm “đã có những hành vi, cử chỉ không tốt đối với xã hội”, “cảm thấy mất lòng tin ở bố”,…
*II.1.2- Về định khu
Test Rorschach tập trung vào mức độ trí tuệ. Do đó, câu trả lời mang tính toàn thể W trở thành chỉ số đo trí tuệ của đối tượng làm trắc nghiệm; các hình III, IX và X rất khó đạt giá trị W cao nhất, trong khi đó hình VII là dễ có giá trị W nhất.
Từ góc độ cách tiếp cận và diễn tiến trắc nghiệm, thống kê của Rorschach trên nhóm người trưởng thành đã đưa ra công thức đáp ứng mong đợi về sự phân bố giữa nhìn tổng thể hình W, bộ phận D và chi tiết nhỏ Dd: “8 W, 23 D, 3 Dd” (Beck, 1950, tr. 83- tr.84).
Theo Burlatruk, có thể đánh giá tính tích cực, đặc điểm tư duy của chủ thể thông qua các chỉ số định khu. Câu trả lời có tính chất tổng thể W chiếm 66,62% ở nhóm Học viên và 46,97% ở nhóm TTPL; sự khác biệt là đáng kể (p<0,001).2 con bọ cạp”…
Qua trắc nghiệm, cũng dễ dàng nhận thấy tính linh hoạt trong tư duy ở nhóm Học viên: sau khi có một vài câu trả lời hướng vào tổng thể của hình, họ thường tiếp tục quan sát, đi sâu vào từng bộ phận, chi tiết và đưa ra câu trả lời.
Ngược hẳn, ở nhóm TTPL, một số chỉ dừng lại với định hướng vào tổng thể hình, một số khác thì tập trung ngay đến các chi tiết/ bộ phận.
Dưới ánh sáng của tổng thể cấu trúc nhân cách, số lượng tuyệt đối D và Dd có sự chỉ định mơ hồ. Xem xét cả số lượng liên quan W, D và Dd mới nói cho chúng ta biết cách tiếp cận của chủ thể khi lao vào các vấn đề của mình như thế nào.
*II.1.3- Về ưu thế câu trả lời
- Theo Klopfer (1970), chỉ số F (hình dáng) chiếm ưu thế không nên vượt quá 60%. Trong nghiên cứu của chúng tôi, chỉ số F ở nhóm Học viên là 62,9%; ở nhóm TTPL có thấp hơn: 47,0% (p<0,001). f =" 60-65%,">chỉ số ưu thế C (màu sắc) ở nhóm TTPL lên đến 14,93%. Đây là những trường hợp đối tượng chỉ gọi tên các màu có trong hình và cho rằng chịu, “không nhìn thấy cái gì”.
Ngay cả khi được hỏi lại liệu nó giống cái gì thì đối tượng cũng chỉ lướt vội qua và tiếp tục khẳng định là không nhìn thấy gì. Chỉ số màu sắc C ưu thế ở nhóm TTPL cao hơn hẳn so với nhóm Học viên: 14,93% so với 1,15%.
Theo Beck (1949), người mắc TTPL có sự đáp ứng lớn với chỉ số C phản ánh sự phụ thuộc của họ vào cảm xúc; họ là “nô lệ của cảm giác” (tr.28).
- Xét thêm chỉ số CF (màu sắc ưu thế hơn hình thể), lại càng đáng lưu tâm; bởi đây là sự đáp ứng của mỗi nhóm TTPL, không được nhóm Học viên chọn lựa.
Việc đáp ứng CF, theo Beck (1949) là đặc tính không những nghèo nàn động cơ thúc đẩy mà còn bộc lộ tính dễ thay đổi trong ứng xử; trên đối tượng TTPL, CF có giá trị một mặt, chỉ định mức độ thoái bộ của cảm xúc, mặt khác, lại cho thấy một trạng thái nằm bên trên tầm hoang dại nhất, và do đó, cấu trúc nhân cách còn khả năng hướng đến viễn cảnh trưởng thành (tr.28).
*II.1.4- Về nội dung câu trả lời
Trong trắc nghiệm Rorschach, nội dung chỉ đóng vai trò thứ yếu; bởi vì, theo giới chuyên môn, quan trọng không phải là điều thấy mà là cách nhìn của đương sự. Mặt khác, tuy không phải là hoàn toàn, để tìm hiểu về nhu cầu con người thì ta thường chú ý đến những gì liên quan đến nội dung.
Nội dung các câu trả lời chủ yếu đề cập đến quá trình phối hợp của đối tượng. Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến nội dung trả lời: thiên hướng, sự thích ứng, nỗi âu lo, ức chế, các mối quan tâm,.. Do đó, ở đây chúng tôi duy trì phương pháp phân tích cơ cấu trong lĩnh vực nội dung câu trả lời.
- Đúng như dự đoán và cũng phù hợp với nhận định của một số tác giả (Piotrowski, 1965), những người làm nghề Y có tỷ lệ câu trả lời Anat (giải phẫu) nhiều hơn.
Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ Anat của nhóm Học viên lên đến 14,96%; trong khi đó, ở nhóm TTPL, tỷ lệ này chỉ có 2,6%.
Một điểm đáng lưu ý nữa, là 117 câu trả lời của nhóm Học viên phân bố cho 28/35 người tham gia làm trắc nghiệm. Trong khi đó, nhóm TTPL chỉ có 5/32 người có câu trả lời Anat. Nếu tính theo số người thì tỷ lệ đối tượng có câu trả lời Anat ở nhóm Học viên là 80,0%, còn ở nhóm TTPL chỉ là 15,62%.
Cũng cần lưu ý rằng, nếu không phóng chiếu vì đặc trưng nghề nghiệp, thì việc chọn Anat bộc lộ một mối quan tâm quá mức về bộ phận trong cơ thể và với sức khoẻ bản thân. Chú tâm vào cấu trúc chi tiết biểu hiện chứng bệnh tưởng/ hypochondriasis trong phản ứng trầm cảm; những sự chọn lựa Anat đều tìm thấy trên lâm sàng ở tất cả nhóm bệnh; chọn lựa “máu” cũng có ý nghĩa tương tự (Beck, sđd, tr.43).
Trong nghiên cứu của chúng tôi, hỏi chuyện trước khi làm test, S10 (một đối tượng mắc TTPL) đã bảo ngay: “Cảm thấy bị người điều khiển, chân tay yếu đi” và ngồi thừ người rất lâu rồi mới bắt đầu vào hình I. Ngoài việc bỏ qua 5/10 hình, còn chọn Anat khá nhiều: “máu (rùng người)” (h.II); “bộ khung chậu, đốt sống lưng” (h.III), “như con báo đang trèo; tổng thể như toàn bộ khung chậu (cái trước chỉ là nửa trên khung chậu).”
- Về tỷ lệ H (toàn thể người) và Hd (bộ phận người) ở cả hai nhóm đều nằm trong khoảng 10-20% được chấp nhận; tỷ lệ bình thường là 15%, theo Rorschach.
Nếu tỷ lệ Hd > H, biểu hiện trạng thái nhiễu tâm, tinh thần bị ám ảnh (Nguyễn Văn Thành, 1973, tr.68). Mặt khác, tỷ lệ Hd cũng tăng cao hơn so với H trong các đối tượng có mức trí năng hạn chế, và đặc biệt hơn trong sự ức chế tâm lý (Beck, sđd, tr.42- tr.43).
Ngoài ra, việc nhóm Học viên chọn lựa nhiều Hd hơn so với H, có thể lý giải bởi đặc trưng nghề nghiệp ngành Y của họ.
Trong test Rorschach, nội dung trả lời mang yếu tố nghề nghiệp thường được nhận ra một cách trực tiếp.
Theo Beck, ngoài ngành Y, còn xuất hiện ở những nhà khoa học và ở một vài lĩnh vực nghệ thuật; nội dung trả lời H, một lần nữa, phản ánh sự dưỡng dục và văn hoá của đối tượng làm trắc nghiệm.
-Chỉ số Động vật A ở cả hai nhóm đáng kể về mặt thống kê (p<0,001).Chỉ số tính dục Sex tự nó nói lên vấn đề.
Liên tưởng đến chỉ số này, ở những người bình thường, được kích thích bởi các hình II, IV và VII; ít xuất hiện hơn ở hình III như là bộ phận sinh dục nữ , và hình VI như là bộ phận sinh dục nam.
Diễn tả chân tình và thoải mái những liên tưởng đến sex được tìm thấy trong 3 nhóm: TTPL, chứng loạn thần cấp tính và những người khoẻ mạnh đang trải qua thời kỳ trị liệu theo cách tiếp cận Phân tâm (Beck, sđd, tr.44).
Dù không xử lý tiêu chí này, song dữ liệu chúng tôi thu được cũng tỏ lộ ít nhiều thú vị.
Chẳng hạn, P18 (một người thuộc nhóm Học viên) trả lời hình I: “hai người đang úp mặt vào nhau, đang hôn nhau”; hình II: “hai cánh tay, hai hình người”, hình III: “hai người đang kéo một cái gì đấy; hai người đang hôn nhau”, hình VI: “hai người dị dạng giống hệt nhau đang ôm một cái cây; cái kiếm cắm vào một cái cây; thánh giá gì đó”, hình VII: “hai người đang đứng trên đá”…
Trả lời câu hỏi thích nhất hình nào, P18 cho biết: hình II vì “trông thật đoàn kết, như 2 người bạn” và hình 7 với lý do “ngồ ngộ, vui vui.” Đối tượng có người yêu đã 3 năm nay.
- Trong xử lý kết quả test Rorschach, còn có nhóm chỉ số Org (độc đáo) và Pop (phổ thông). Những câu trả lời độc đáo là những câu chỉ gặp ở 1 hoặc 2 lần trong khoảng 100 trường hợp làm trắc nghiệm. Do số lượng nghiên cứu chưa nhiều, nên chúng tôi cũng không tập trung xử lý những chỉ số này.
Tuy nhiên, trong quá trình phân tích kết quả, chúng tôi cũng “nhặt” ra được một số câu trả lời mà có thể xếp vào loại đặc biệt.
Ví dụ, “Quan tài treo trên hàng phi lao” (hình II), “Hoàng thượng tung cánh, bay như chim”( hình X), “Nhìn như, cảm nhận cơn gió hút theo một con vật, con bướm (xoáy gió)” (hình III), ” Con chim chích bông đang hạ cánh cho mình nhìn thấy; người lắp cánh để bay… Sóc đang chui vào tán cây và người đeo giày dài rồi lắp cánh để bay” (hình V), “Người đàn bà giữa đám đông đưa lên một ngọn lửa” (hình VIII), …
Tỷ lệ 1,73% có lẽ cũng chưa phải là cao đối với nhóm TTPL, những người vốn được xem là có các hành vi cũng như suy nghĩ kỳ cục, khác thường, biểu hiện tính hoang tưởng và ảo giác đặc trưng bệnh cảnh lâm sàng.
Vậy, những câu trả lời nào được xem là bình thường? Tuy không khó tìm sự đồng thuận, song xác định tiêu chí lại hoàn toàn chẳng dễ dàng gì.
Theo Rorschach, cứ 3 người có 1 người trả lời như vậy. Còn Mucchielli thì liệt kê những câu trả lời nào có vị trí, hình thể và nội dung như sau (Nguyễn Văn Thành, sđd, tr.72- tr.73):
Hình I: Con dơi, con bướm;
Hình II: Hai nhân vật, hai con gấu, hai con chó;
Hình III: Hai người, Con bướm (đỏ);
Hình IV: Một tấm da;
Hình V: Con dơi, con bướm;
Hình VI: Tấm da;
Hình VII: Đầu người (trên), Đầu voi;
Hình VIII: Nhiều con vật (hai bên);
Hình IX: Người cử động (da cam), đầu người, đầu trẻ em (hồng);
Hình X: Cua, nhện, mực (hai bên), Sâu (ở dưới), Cá ngựa (ở dưới), Đầu thỏ
(xanh, dưới, giữa).
II.2- Minh hoạ các trường hợp bệnh lý
Dưới đây, chúng tôi giới thiệu một vài ca có dấu hiệu bệnh lý của những người mắc TTPL, để minh hoạ thêm cho khả năng ứng dụng lâm sàng của test Rorschach.
II.2.1- TTPL thể di chứng: “Hình ảnh đại ca trong đầu”
S3, 29 tuổi, Binh nhất (H1), mắc TTPL hơn 10 năm nay (từ 7.1994). Nhập viện với lý do: kích động. Luôn cảm thấy “hình ảnh đại ca trong đầu”. Được khoa A6- Viện 103 chẩn đoán: “TTPL thể di chứng.”
Trình độ học vấn: lớp 12. Địa chỉ liên lạc: “3NB 2704 Thanh Hoá- Vĩnh Phúc” (bệnh nhân trả lời miệng để ghi vào Biên bản) .
Ngồi vào phòng trắc nghiệm, S5 lập tức khoanh tay. Trong 14 phút, toàn bộ các câu trả lời của S5 lần lượt là:
Hình I: con dơi dơi; màu giấy nâu nâu.
Hình II: Hai con gấu chạm tay vào nhau như mưu của Gia Cát Lượng và mưu của
Chu Du thành chữ Giết (hỏi S5 lại có đồng ý với câu trả lời vừa rồi không?). “Chả thấy gì.”
Hình III: (“Gọi tôi lên để làm gì”). Sắt nhọn. Con bướm ở giữa màu vàng.
Hình IV: (“Đưa toàn đại ca lên đây em sợ lắm”) Màu sẫm sẫm. Người như Giời ngồi trên ghế đang học.
Hình V: Hình con dơi dơi. (“Nghe thầy giáo bảo ngày xưa không hề mắl lưới, mẩu chuyện nước ngoài.”) Hình con bọ.
Hình VI: Chai rượu bị vỡ. “Không thấy gì cả.”
Hình VII: “Khó tả lắm. Đốt nhiều thuốc quá là không có lợi.”
Hình VIII: “Thực sự xem hình này muốn đốt cháy hết. Nóng tiết lắm. Màu lửa, tôi sợ lửa- rất ghê đánh nhau, sợ đánh nhau, sợ hất nước sôi vào người. Người đỡ đầu, đỡ bệnh cho.”
Hình IX: “Do thầy giáo cho kết tủa lên. Một cái gì nâng lên.”
Hình X: “Phổi con người, phải không?” (màu xanh, bên dưới).
* Hình thích nhất: hình II vì “Người này đã biết- đầu gấu sợ lắm. Chai rượu.” Ghét nhất: “Chả thấy khó chịu hình nào.”
Như vậy, nội dung trả lời của S5 có nội dung hoang tưởng, nói chuyện riêng tư của mình và bộc lộ rất rõ phản ứng chối từ.
II.2.2- Hoang tưởng phát minh, tự cao: “Những hình quá bình thường, không đáng lưu tâm- nạp vào bộ nhớ”
S5, 25 tuổi, dân thường, đã điều trị tại Bệnh viện Tâm thần ở Hà Nội từ 11.2004. Chẩn đoán của Viện 103: “ảo thanh ra lệnh, hoang tưởng phát minh tự cao” (cướp điện thoại di động nhằm mục đích phá án). Trình độ học vấn: “Đại học Cảnh sát, thiếu uý” (S5 trả lời miệng để ghi vào Biên bản).
Trò chuyện trước khi làm test, S5 tự đánh giá về mình: “Nhiều bạn bè, sống bắt nhịp tốt. ” Toàn bộ các câu trả lời, diễn ra trong 15 phút 40 giây.
Hình I: Trông như bọ cánh cứng.
Hình II: Trông như là máy bay chiến đấu tàng hình của Mỹ.
Hình III: Lọ hoa- mua bên Bát Tràng có hình .
Hình IV: Như con chó cụt 2 tai, nó ngồi.
Hình V: Con bươm bướm.
Hình VI: Đây là chiếc lá.
Hình VII: Trông như là 2 con rồng cuốn vào nhau.
Hình VIII: Trông như bọ cánh cam.
Hình IX: Trông như 2 con đà điểu.
Hình X: Một con côn trùng gì cũng được,không cụ thể là con gì.
“Không thích không ghét hình, vì những hình tưởng tượng, không có trong thực tế, quá bình thường không đáng lưu tâm- nạp vào bộ nhớ. ”
II.2.3- Hoang tưởng ghen tuông: “Dưới mấy xương sống có hình người có lỗ… Dưới xương chậu”
S6, 27 tuổi, quê Nghệ An, thiếu úy, mắc TTPL hơn một năm. Tóm tắt hồ sơ bệnh án của Viện 103: Hoang tưởng ghen tuông, bị theo dõi, ảo thanh giả bình phẩm. Rối loạn hành vi, kích động đập phá, đánh vợ. Đau nửa đầu.
Trong 18 phút, S6 làm xong trắc nghiệm.
Hình I: Giơ lên cao như soi mói. “Thấy loang loáng, một hình người cụ thể
không có đầu, ở phía phải có 1 chấm hoặc lỗ trắng hơi vàng.”
Hình II: Giơ sát mặt. “Dưới mấy xương sống có hình người có lỗ.” Soi rất kỹ. “Dưới xương chậu”.
Hình III: Lại soi. “Thấy nơi cổ 1 vòng tròn, sau có nút cột lại. ở phía trên đầu có hình bầu dục dài, trống.”
Hình IV: “Ở phía trên có cái đầu là lạ ở giữa, xung quanh chân có những nốt như vòng tròn cột lại. Ở chân phía phải có 1 hình người kéo ra và xung quanh đó chấm chân. Ở chân phải khác là tuy cũng có chân, nhưng không có đầu gối, ở đáy có những cái nhọn nhọn như cái gai. ”
Hình V: “ở vai bên phải có 1 vòng tròn thắt nút. (“Ghi thế cũng được, “ nói với nghiệm viên). Và phía trên đầu xuất hiện màu trắng. Bên trái to hơn, bên phải nhỏ hơn. ”
Hình VI: “ở đốt cao nhất có chấm trắng, toả xuống như 2 con rắn. “
Hình VII: Xoay ngược. “Cái này phía phải có 1 lỗ xanh to, trái cũng tương tự- cả 2 bên chân bị bao phủ bởi màu trắng, xanh ít. “
Hình VIII: “Giống con gái, bên phải; bên trái là con trai.”
Hình IX: Xoay ngược. “Bên phải có 2 chấm trắng, bên trái chấm trắng li ti nhiều.”
Hình X: “Hình này có 3 vết đỏ ở giữa và hai bên dưới cùng có mấy chấm… 11 chấm tròn đỏ.“
Không ghét, thích hình nào cả vì ” ít xem film, báo. Đầu đỡ, xương cốt muốn rời ra và đau, chân và vai, sau lưng đau nhất.”
* Hạn chế của đề tài
Mặc dù đã có cố gắng song đề tài của chúng tôi vẫn còn những hạn chế nhất định.
-Việc lựa chọn nhóm nghiên cứu là TTPL, nhưng mới chỉ dừng lại ở đàn ông; do vậy, chưa có điều kiện để so sánh từ góc độ giới giữa nhóm nam và nhóm nữ.
-Còn một vài chỉ số khác của trắc nghiệm chưa được xử lý, như chỉ số về thời gian (thời gian phản ứng, thời gian trả lời cho từng hình, thời gian thực hiện toàn bộ trắc nghiệm,…) và vị trí các câu trả lời, v.v....
Tuy thế, nhìn chung nghiên cứu cũng đã đạt được một số kết quả cơ bản. Dựa trên toàn bộ cơ sở dữ liệu thu thập được, chúng tôi đi đến một vài kết luận sau cùng.
III. Kết luận
III.1- Có sự khác biệt nhất định về kết quả test Rorschach ở nhóm người mắc Tâm thần phân liệt (thể Paranoid) so với nhóm Học viên Quân y bình thường.
Theo đó, các biểu hiện của nhóm người mắc Tâm thần phân liệt qua test đặc trưng cho bệnh cảnh lâm sàng Tâm thần phân liệt:
- Số lượng câu trả lời trung bình thấp (14,44; p<0,01).
III.2- Những chỉ số cơ bản của trắc nghiệm Rorschach được tập trung thu thập và xử lý (số lượng câu trả lời; định khu; ưu thế và nội dung câu trả lời) đảm bảo tính thống nhất giữa các yếu tố trong tổng thể test.
Tuy vậy, còn có một vài chỉ số khác chưa được xử lý, điển hình như hai chỉ số: thời gian và vị trí các câu trả lời. Khi phân tích, cần chú ý đến khả năng ảnh hưởng của tay nghề và kinh nghiệm cá nhân tới kết quả test Rorschach.
III.3- Cần có những nghiên cứu sâu và rộng thêm để có thể so sánh kết quả test Rorschach ở các thể Tâm thần phân liệt khác nhau, ở các dạng rối loạn tâm thần khác nhau, và cả với những nhóm người khoẻ mạnh.
Đây chính là cơ sở tạo giá trị chẩn đoán cho test Rorschach, một trắc nghiệm gần như là thường quy đối với nhiều cơ sở lâm sàng tâm thần và tâm lý trên thế giới.
Phân loại: Nghiên cứu, Tâm bệnh học, Tâm thần phân liệt, Test