Bài này được viết nhờ gợi hứng từ một nữ sinh viên khoa Tâm lý sắp lấy bằng Cử nhân, sau khi cô ấy đề nghị tôi lên mạng cùng buôn tiếp về vài ba thắc mắc liên quan đến Chủ nghĩa hành vi (Behaviorism).

Nhằm tránh hiểu nhầm quy chụp hồ đồ, xin nói ngay là tiêu đề trên không ám chỉ tí ti gì rằng quý Ngài Hành vi John B. Watson (1878- 1958) có thói quen ăn vặt đồ ngọt, từng có tài khoản ngân hàng mờ ám hay gian lận trong thi cử.

Thực ra, đó là 2 ý cơ bản của bài này:

* Trình bày những điểm chính yếu về vị giáo sư đại học John Hopkins đã quảng cáo cực kỳ nhiệt tình - như người bán hàng rong đại tài- thuyết Hành vi với các các nhà tâm lý học Hoa Kỳ, cùng vài ghi chú cơ bản về phương pháp Hành vi độc sáng;

* Thử mềm hoá kiến thức tâm lý học thông qua một số ví dụ cụ thể trong đời thường (ăn sôcôla, tài khoản ngân hàng, đạt điểm tốt ở trường học).

@ Trước hết, có thể nhắc tới John B. Watson với hàng loạt gạch đầu dòng ấn tượng như sau:

- Tuổi thơ hư hỏng;

- Không thành công trong việc nội quan (introspection) tại đại học Chicago;

- Muốn thuyết Hành vi của mình được áp dụng ngoài đời hơn là chỉ diễn ra trong phòng thí nghiệm;

- Tâm lý học Quảng cáo, đại học John Hopkins;

- Nỗ lực sớm nhất nhằm tiến hành thực nghiệm trên đối tượng sơ sinh;

- Là nhà tâm lý học ứng dụng- nghề thứ hai- ở lĩnh vực quảng cáo;

- Loé sáng sâu sắc hiểu biết tâm lý về thói quen, nhu cầu;

- Mở đường cho việc sử dụng danh tiếng bản thân;

- Giới thiệu thuyết Hành vi của mình với cử toạ đại chúng;

- Xuất bản Chăm sóc tâm lý Bé thơ và Trẻ nhỏ (Psychological care of the infant and child), 1928;

- Sự phản ứng đối với Watson;

- Tâm lý học là khoa học của hành vi, không nghiên cứu nội quan ý thức.

@ Tuyên ngôn Psychology As the Behaviorist Views Its (Tâm lý học dưới cái nhìn của nhà Hành vi, 1913) bắt đầu bằng công bố tách mình khỏi tất cả các trường phái tâm lý học dính dáng đến tiến trình tâm thần:

Tâm lý học- theo quan điểm của nhà Hành vi- thuần túy là một nhánh thực nghiệm khách quan của khoa học tự nhiên. Mục tiêu lý thuyết của nó nhằm hướng tới sự dự đoán và kiểm soát hành vi. Phương pháp này không ủng hộ các dạng thức nội quan, cũng không thừa nhận giá trị khoa học của các dữ liệu sẵn sàng đóng góp để ám chỉ đến việc diễn giải ý thức.
Trong 3 câu này, Watson đã tuyên bố 3 nguyên tắc mang tính cách mạng:

Thứ nhất, nội dung tâm lý học nên là hành vi, chứ không phải là ý thức; thứ hai, phương pháp của nó nên khách quan hơn là nội quan; thứ ba, mục đích của nó nên "dự đoán và kiểm soát hành vi" hơn là hiểu biết cơ bản về các sự kiện tâm thần.

@ Phương pháp của Watson gồm:

1. Sử dụng công cụ, phương tiện (instrument);

2. Các phương pháp trắc nghiệm (testing);

3. Phương pháp báo cáo thành lời (verbal report);

4. Phương pháp phản xạ có điều kiện (conditioned reflex).

@ Với Watson, kết quả trắc nghiệm nên được dùng như là các mẫu hành vi (samples of behaviour) hơn là các dấu chỉ phẩm chất tâm thần (indicators of mental qualities).

- rằng, test không đo các phẩm chất trí năng, thay vào đó, nó chẳng làm gì ngoài việc đo đáp ứng của chủ thể đối với các tình huống kích thích bằng cách test.

@ Lấy cảm hứng từ công trình của Bechterev, Watson đã mô tả điều kiện hoá ám chỉ đến việc thay thế kích thích (stimulus substitution);

- đặc biệt, mô hình S- R (Kích thích- Đáp ứng), và hành vi có thể được giảm thiểu thành các yếu tố;

- thay đổi bản chất và vai trò của đối tượng con người trong phòng thí nghiệm, người quan sát quan sát hành vi.

@ Vấn đề chủ thể của Hành vi:

- đối tượng chủ yếu là các yếu tố của hành vi, gồm có sự vận động cơ thể và sự tiết dịch tuyến;

- Watson gọi đấy là các 'hành động' ('act') đáp ứng phức tạp, tính đến cả những chuyển động của cơ thể trong không gian;

- Watson cũng lưu tâm các đáp ứng rõ ràng và đáp ứng hàm ẩn.

@ Quan niệm bản năng (Instinct):

- thực sự là các đáp ứng có điều kiện mang tính xã hội;

- có thể lần ngược được dấu vết của việc dạy dỗ trẻ từ buổi ban đầu;

- nhấn mạnh vào những tác động do nuôi dưỡng quá đáng của bố mẹ và môi trường xã hội;

- trẻ em có thể được huấn luyện, dạy dỗ để trở thành bất cứ ai ta muốn.

@ Quan niệm Cảm xúc (emotions):

- đáp ứng sinh lý (nhịp tim) đối với các kích thích riêng biệt;

- mỗi cảm xúc liên quan đến các mẫu đặc biệt của sự thay đổi sinh lý;

- đáp ứng hàm ẩn;

- 3 loại cảm xúc cơ bản: sợ hãi (fear)-- vì tiếng động ồn ào (loud noise) và do đột ngột mất sự hỗ trợ (sudden loss of support), giận dữ (rage)-- sự kiềm chế vận động cơ thể (restriction of body movement), yêu thương (love)-- gợi lên bởi sự vuốt ve làn da (caressing the skin) hoặc do lắc lư (rocking) và vỗ về (patting);

- Bé Afred, Peter , và loài Thỏ (the Rabbit): nỗi sợ được thiết lập bởi việc tạo ra tiếng động ồn ào, gắn với xuất hiện của chuột, Mary Covery Jones đã nhặt lấy ý tưởng này để trở thành người đi tiền trạm của trị liệu hành vi.

@ Tiến trình tư duy (Thought Process):

- tư duy là một kiểu hành vi vận động cảm giác (type of sensorimotor behavior);

- hành vi vận động hàm ẩn;

- tư duy được rút ra từ cách nói dưới âm thanh (subvocal talking), dựa trên thói quen của các cơ giống nhau mà chúng ta học hỏi nhờ phát ngôn thành lời (overt speech);

- khi chúng ta lớn, những điều này không thể nghe ra và nhìn thấy, vì bố mẹ và thầy cô giáo khuyến cáo chúng ta ngừng nói to lên với chính mình,...

@ Đánh giá về chủ nghĩa Hành vi của Watson:

- William McDougall (1871- 1938): lý thuyết bản năng về hành vi; cuốn sách của Watson về Tâm lý học xã hội; ủng hộ tự do ý chí; hành vi khởi từ các xu hướng bẩm sinh; cách Hành vi có thể giải thích cuộc hoà tấu Violin;

- Công lao của Watson: thay đổi thái độ thông thường; đặt nền móng tiêu biểu; cung cấp khái niệm nền tảng vững chắc cho tâm lý học hiện đại; sức quyến rũ kỳ lạ của Watson.

@ Lý thuyết Hành vi qua các ví dụ đời thường:

- Mọi hành vi đều tạo ra hậu quả. Hậu quả quyết định việc bạn sẽ tiếp tục ứng xử tương tự hay không.

Ví dụ: ăn sôcôla (chocolate) mỗi ngày.

+ Một hậu quả thú vị (pleasant) là sự củng cố (reinforcement): vị sôcôla hấp dẫn quá làm bạn cảm thấy sướng khoái.

+ Một hậu quả khó chịu (unpleasant) là hình thức phạt (punishment): bạn tăng cân và mất khẩu vị với đồ ăn dinh dưỡng.

Củng cố là một hậu quả (ngon tuyệt) theo sau một hành vi (ăn sôcôla) làm tăng cường (increase) hành vi tương tự để nó xảy ra lần nữa.

Phạt là một hậu quả (tăng cân) theo sau một hành vi (ăn sôcôla) khiến bạn giảm đi (decrease) hành vi tương tự để không cho nó xảy ra [giả thuyết là bạn không muốn tăng cân].

- Trong khoa học Tâm lý, cũng như trong Toán học, các thuật ngữ tích cực, tiêu cực (positive, negative) mang nghĩa là cộng/ trừ (addtion/ subtraction).

Ví dụ: tiền bạc.

+ Một sự thay đổi tích cực trong tài khoản ngân hàng của bạn nghĩa là bạn có nhiều tiền hơn, trong khi một sự thay đổi tích cực trong thuế thu nhập cá nhân của bạn nghĩa là bạn phải đóng thuế nhiều hơn.

+ Một sự thay đổi tiêu cực trong thẻ tín dụng của bạn nghĩa là bạn ít nợ nần, trong khi một sự thay đổi tiêu cực trong tiền lương của bạn nghĩa là bạn thu nhập kém đi.

- Khi tích cực/ tiêu cực và củng cố/ phạt được nối kết với nhau thì kết quả là chúng ta có 4 cách tiếp cận bất kỳ một hành vi nào. Bạn muốn tiếp tục hay chấm dứt hành vi ấy?

Cô X. tự hỏi, mình nên tăng cường những hành vi tương tự nào để tiếp tục đạt được điểm cao trong kỳ thi? Cô muốn duy trì (maintain) những hành vi này.

CỦNG CỐ tích cực có thể là làm điều gì đó cô thực sự thích-- lên sàn nhảy khiêu vũ chẳng hạn-- sau một đợt học hành chất lượng.

Cô muốn thêm điều gì đó thú vị, một phần thưởng (a reward) cho việc học hành. Ý nghĩ về một phần thưởng trong tương lai như thế sẽ giúp cô tiếp tục việc học.

CỦNG CỐ tiêu cực có thể là việc thấy rằng, sau một đợt học chất lượng, tiếng nói nội tâm khiến cô không còn cảm thấy lo lắng về sự học hành kém cỏi.


Giảm đi các kích thích khó chịu là một phần thưởng làm cô muốn tiếp tục việc tránh cơn sợ hãi kém cỏi.

Còn anh Y. thì tự hỏi, mình nên giảm đi những hành vi tương tự nào để đạt điểm cao trong thi cử? Anh muốn loại ra (eliminate) những hành vi này.

PHẠT tích cực có thể là việc quyết định một giờ lau chùi, quét dọn nhà cửa cho một giờ không chịu ôn bài để thi cử.


Anh thêm điều gì đó khó chịu để phạt mình cái tội không chịu ôn bài. Ý nghĩ phải bò toài mệt nhoài làm vệ sinh nhà cửa khiến anh thấy cần chấm dứt việc lơ là học hành.

PHẠT tiêu cực có thể là không được dùng bất cứ cữ café nào khi không chịu học hành gì cả. Giảm đi điều gì đó thú vị là sự nhắc nhở nghiêm khắc khiến từ bỏ chuyện học hành chểnh mảng.


[Nguồn:

1.
Jessie's Psychological World

2.
The Story of Psychology]

Bài đăng Mới hơn Bài đăng Cũ hơn Trang chủ