Hiển thị các bài đăng có nhãn Trị liệu Hành vi. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Trị liệu Hành vi. Hiển thị tất cả bài đăng


Chúng bao gồm đoạn băng nổi tiếng về chim bồ câu chơi bóng bàn; đích thân Skinner điều kiện hóa (conditioning) một chim bồ câu chuyển hướng hoàn toàn; và một chim bồ câu học cách dùng vật hình khối để chạm tới "quả chuối" treo trên cao (bóng gió xa xôi tới nghiên cứu "sự thấu hiểu nội tâm"/ "insight" của Wolfgang Kohler với một tinh tinh tên là Sultan).

Ba vidéo còn lại: các bảng biểu giải thích kèm minh họa khá dễ hiểu về sự củng cố; đánh giá ngắn gọn của chuyên gia phân tích hành vi Murray Sidman; và một phỏng vấn nhanh Skinner về điều kiện hóa, tự do ý chí và chuyện cờ bạc.

B. F. Skinner (1904- 1990) từng được đánh giá là "nhà tâm lý học nổi tiếng nhất thế giới" [Horthersall, David, 1984. History of Psychology. Philadelphia: Temple University Press, pp. 394-395].

Suốt cuộc đời dằng dặc của mình, Skinner lưu giữ cái nhìn của một nhà hành vi cực đoan rằng các thứ "chủ quan" như tâm trí, suy nghĩ, trí nhớ và nhận thức không hề tồn tại, mà chỉ có duy nhất "các cấu trúc phát ngôn (verbal constructs), những cạm bẫy ngữ pháp (grammatical traps) khiến giống người trong sự phát triển ngôn ngữ rơi vào", "các thực thể có thể giải thích được" ("exlanatory entities") tự thân chúng không thể lý giải nổi.

Mục tiêu của Skinner chẳng hề muốn chú mục tìm hiểu tâm thần của con người mà ông quan tâm đến việc hành vi được tạo ra bởi các nguyên nhân bên ngoài như thế nào.

Skinner không một chút nghi ngờ, phân vân về tính đúng đắn trong quan điểm nêu ra, như chính ông viết trong phần tiểu sử tự thuật sơ lược-- cũng được thể hiện trong bộ tác phẩm 3 cuốn-- rằng "(chủ nghĩa hành vi) có thể không cần được làm rõ, cũng không cần được tán đồng" [Boring, Edwin G. & Lindzey, Gardner, eds., 1967. A History of Psychology in Autobiography. New York: Appleton-Century-Crofts, p.410].

Giống như Watson, Skinner là con người ưa thích tranh luận, một đối thủ khiêu khích và một nhà quảng cáo đại tài.

Tại nhiều thời điểm khác nhau, ông dường như đã đem lại sự phấn khích, gây bực bõ bằng việc mô tả các thuật ngữ liên quan đến việc hiểu biết hành vi con người:

Hành vi... hãy còn thuộc về bản chất của con người, và có một "tâm lý khác biệt nhau giữa các cá nhân" bao quát trong đó người ta so sánh và mô tả ám chỉ đến tính cách, năng lực và khả năng. Hầu hết những ai quan tâm đến con người... sẽ tiếp tục nói về hành vi con người trong cách thức tiên tri này.
[Hunt, Morton, 1994. The History of Psychology. New York: Anchor Books, pp. 268-269].

Và chắc chắn, những ai quan tâm, ái mộ trị liệu hành vi thật khó hài lòng với định nghĩa trào phúng trong từ điển của tiến sĩ Mezmer:

Chủ nghĩa Hành vi: một trường phái tâm lý học, hiện đang tồn tại, được hình thành trên yếu tính rằng ta là những gì ta làm, và ta làm là vì những gì ta từng làm.

Nó được thay thế bởi Tâm lý học Nhân văn (ta là những gì ta cảm nhận), Khoa học Nhận thức (ta là những gì ta nghĩ), Tiến sĩ Atkins (ta là những gì ta ăn) và quảng cáo tân thời (ta là những gì ta thấy).

Gần đây, báo chí trong nước thay nhau đăng tải câu chuyện về một người đàn ông có khả năng kỳ lạ: ăn tươi, nuốt sống bất cứ côn trùng nào gặp phải; kèm cả băng vidéo minh họa.

Thực chất đây là một dạng rối loạn ăn uống, định danh "pica" (ăn bậy bạ, xuất phát từ thuật ngữ Latin 'magpie' chỉ loài chim ác là), và đã được Tổ chức Y tế Thế giới xác định trong ICD-10 với mã F50.8 (chứng ăn bậy bạ ở người lớn) và F98.3 (ăn bậy ở trẻ nhỏ) [tham khảo Bộ Y tế. (2007). Bảng Phân loại Quốc tế Bệnh tật ICD- 10. Hà Nội: Nxb. Y học, tr. 235, tr.275].

Cần nói ngay rằng, khi dùng cụm từ "ăn bậy bạ" chúng tôi chẳng hề hàm ý kinh tởm hoặc liên tưởng chút gì tới bệnh Huntington.

Kỳ thực, ăn bậy bạ (pica) thể hiện khao khát
muốn ăn khó cưỡng lại nổi những thứ không phải thực phẩm.

Tùy chất sử dụng mà chứng ăn bậy bạ ở người được chia thành các nhóm khác nhau, thông thường có các kiểu như ăn đất trồng trọt, đất sét (geophagia), ăn băng tuyết (pagophagia) và hồ bột (amylophagia).

Ngoài ra, còn nhiều các chất nữa được tống vào mồm như ăn tàn và mẩu thuốc lá, tóc, sơn vẽ và giấy.


Cá biệt, có bệnh nhân từng ăn miếng băng dính tẩm chất fentanyl, một loại thuốc chứa morphin có tác dụng giảm đau cấp tính cực mạnh,...

Nhìn chung, các lĩnh vực sau đây dễ dính tới việc ăn bậy bạ:

- Mang thai;

- Chậm phát triển và rối nhiễu tâm trí;

- Bệnh tâm thần và tự kỷ;

- Trẻ sơ sinh;

- Dinh dưỡng nghèo nàn, hoặc hàm lượng sắt và các khoáng chất khác trong máu thấp;

- Truyền thống tôn giáo và văn hóa.
Dù ăn bậy bạ (pica) là chẩn đoán tâm thần biệt định, song nó cũng được gán nhãn rộng rãi để chỉ bất cứ hành vi ăn uống nào nhắm tới các đối tượng chẳng thể ăn được hoặc không mang giá trị dinh dưỡng.

Thời Hy- La cổ đại người ta đã bàn tới hiện tượng này, song thuật ngữ ăn bậy bạ (pica) chỉ bắt đầu xuất hiện từ thế kỷ XVI.

Y văn thế giới ghi lại hai trong số các trường hợp gây ấn tượng nhất, có liên quan đến việc ăn tiền đồng.

Bản chụp X- quang của một điển cứu đăng trên tờ NEJM cho biết, các bác sĩ đã tìm thấy trong dạ dày bệnh nhân 5,5 kg tiền đồng, vòng đeo cổ và kim khâu.

Một điển cứu khác báo cáo vào năm 1998, bệnh nhân người Anh đã nuốt 175, 32 pound (cỡ chừng 79,5kg) lắm thứ hổ lốn với lịch sử từng ăn các món kỳ cục sau:

Tại nhiều thời điểm, nữ bệnh nhân đã ăn bàn ghế, tiền đồng, đai ốc, dây điện, đồ nhựa, huy chương, bột ăn Bob Martin dành cho chó và xác hoa khô.

Rất nhiều lời bình luận ghi chú về trường hợp của nữ bệnh nhân này với đầy đủ chi tiết cụ thể và phong phú về màu sắc, kích cỡ, số lượng, định lượng thời gian và hỗ trợ thuốc men-- bao gồm cả đống thư viết tay-- được gửi đến cho bác sĩ điều trị.
Rõ ràng, hành vi thể hiện trong các trường hợp thái quá ở người trưởng thành-- như với hai cá nhân vừa nêu-- biểu hiện sâu xa trạng thái loạn thần.

Đó cũng là trường hợp của một quý ông khác đã phải chịu đau đớn dẫn đến ngộ độc, sau khi nuốt hơn 200 đầu đạn chưa nổ.

Tuy vậy, thông thường thì ăn bậy bạ chủ yếu thấy ở trẻ em gặp khó khăn trong chuyện học tập hoặc được chẩn đoán là phổ tự kỷ.

Xem chừng, ít nhiều phản ánh quan điểm thành kiến rập khuôn khi nghĩ rằng việc mang thai khiến cho phụ nữ khát thèm một số thực phẩm bất thường-- hiện tượng khá quen thuộc ở phụ nữ có thai-- đặc biệt với các đối tượng thuộc gia đình có thu nhập thấp hơn.

Chưa đủ cơ sở để lý giải thấu đáo hiện tượng thèm ăn lắm đồ lạ lùng ở phụ nữ mang thai, song điều thú vị là dường như nó liên quan tới sự thiếu hụt sắt và kẽm.

Với trường hợp người đàn ông sắp đạt ngưỡng "tri thiên mệnh" ở đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi)-- nơi mấy ngày trước vừa tổ chức 'lễ khao lề thế lính Hoàng Sa', có khả năng nghiêng về lý do ăn uống để có sức khỏe phi thường và mang hơi hướng tác động tâm linh.

Bạn đọc có biết trường hợp nào tương tự, và thực lòng nghĩ gì về các đối tượng này?

Một chủ đề quan trọng, song tiếc thay lại ít được chú tâm đúng mức: kết thúc trị liệu.

Khi ai đó tìm đến nhà trị liệu, thường là tâm trí họ có một vướng mắc, đớn đau cụ thể.

Mục tiêu của trị liệu nhằm hướng tới xác định và điều chỉnh, sửa chữa tận căn gốc vấn đề.

Dẫu vậy, trên đường tới đích sẽ trải qua nhiều lộ trình; không có các câu trả lời rành mạch về cách thức, khi nào và tại sao việc chăm chữa mang tính trị liệu dẫn tới một kết luận.

Như tác giả Cromley của bài báo chỉ rõ, một vài chiến lược trị liệu (ví dụ như trị liệu Hành vi Nhận thức) hay đặt các mục tiêu và định rõ thời hạn kết thúc khi tiến hành thao tác công việc.

Một số lối trị liệu truyền thống khác lại theo xu hướng kết thúc mở, trọng tâm là nhấn mạnh những vấn đề nổi trội và ưu tiên nhu cầu cao nhất.

Bản chất của chẩn đoán cũng có thể giữ vai trò to lớn ảnh hưởng đến điều kiện trị liệu.

Các rối loạn mãn tính, hoặc việc thuyên giảm trồi sụt ít nhiều xem chừng đòi hỏi những kế hoạch và điều kiện chăm chữa-- đều có mối liên hệ mật thiết với sự cố xảy ra trong tương lai.

Thực tế, chẳng có các quy tắc chắc chắn và nhanh chóng để biết khi nào và làm sao kết thúc trị liệu.

Người duy nhất có thể đưa ra một quyết định đặc thù chính là nhà trị liệu và thân chủ. Đảm bảo tiến trình truyền thông giữa nhà trị liệu và thân chủ luôn cởi mở sẽ làm cho quyết định này dễ dàng hơn.

Nếu một cuộc trị liệu cụ thể nào đó không tiến hành được, cần chú ý xem xét các nhu cầu; và nếu một bên tham gia nghĩ rằng, đã đến lúc giảm bớt liệu trình hoặc chấm dứt chúng thì đối tượng nên thảo luận thật chân tình.

Một cuộc đối thoại đàng hoàng dẫu là yếu tố thiết yếu đoan chắc lúc kết thúc trị liệu, song nó lại không hề cắt đứt các lợi lạc tích lũy được xuyên suốt toàn bộ thời gian trị liệu.

Và khi việc kết thúc xảy đến, các điều kiện liên quan với nó cần được trao đổi nghiêm túc.

Một khi đã chấp nhận trị liệu rồi, người ta dường như cảm thấy nhu cầu trao đổi với bác sĩ ngay cả vấn đề nhỏ nhặt nhất. Tuy vậy, tùy trường hợp, điều đó có thể hữu ích hoặc góp phần tạo ra vấn đề.

Mỗi tình huống là khác biệt, và chỉ có sự truyền thông tử tế, thoải mái mới giúp người trong cuộc biết chắc lúc nào nên kết thúc trị liệu.

Bài này được viết nhờ gợi hứng từ một nữ sinh viên khoa Tâm lý sắp lấy bằng Cử nhân, sau khi cô ấy đề nghị tôi lên mạng cùng buôn tiếp về vài ba thắc mắc liên quan đến Chủ nghĩa hành vi (Behaviorism).

Nhằm tránh hiểu nhầm quy chụp hồ đồ, xin nói ngay là tiêu đề trên không ám chỉ tí ti gì rằng quý Ngài Hành vi John B. Watson (1878- 1958) có thói quen ăn vặt đồ ngọt, từng có tài khoản ngân hàng mờ ám hay gian lận trong thi cử.

Thực ra, đó là 2 ý cơ bản của bài này:

* Trình bày những điểm chính yếu về vị giáo sư đại học John Hopkins đã quảng cáo cực kỳ nhiệt tình - như người bán hàng rong đại tài- thuyết Hành vi với các các nhà tâm lý học Hoa Kỳ, cùng vài ghi chú cơ bản về phương pháp Hành vi độc sáng;

* Thử mềm hoá kiến thức tâm lý học thông qua một số ví dụ cụ thể trong đời thường (ăn sôcôla, tài khoản ngân hàng, đạt điểm tốt ở trường học).

@ Trước hết, có thể nhắc tới John B. Watson với hàng loạt gạch đầu dòng ấn tượng như sau:

- Tuổi thơ hư hỏng;

- Không thành công trong việc nội quan (introspection) tại đại học Chicago;

- Muốn thuyết Hành vi của mình được áp dụng ngoài đời hơn là chỉ diễn ra trong phòng thí nghiệm;

- Tâm lý học Quảng cáo, đại học John Hopkins;

- Nỗ lực sớm nhất nhằm tiến hành thực nghiệm trên đối tượng sơ sinh;

- Là nhà tâm lý học ứng dụng- nghề thứ hai- ở lĩnh vực quảng cáo;

- Loé sáng sâu sắc hiểu biết tâm lý về thói quen, nhu cầu;

- Mở đường cho việc sử dụng danh tiếng bản thân;

- Giới thiệu thuyết Hành vi của mình với cử toạ đại chúng;

- Xuất bản Chăm sóc tâm lý Bé thơ và Trẻ nhỏ (Psychological care of the infant and child), 1928;

- Sự phản ứng đối với Watson;

- Tâm lý học là khoa học của hành vi, không nghiên cứu nội quan ý thức.

@ Tuyên ngôn Psychology As the Behaviorist Views Its (Tâm lý học dưới cái nhìn của nhà Hành vi, 1913) bắt đầu bằng công bố tách mình khỏi tất cả các trường phái tâm lý học dính dáng đến tiến trình tâm thần:

Tâm lý học- theo quan điểm của nhà Hành vi- thuần túy là một nhánh thực nghiệm khách quan của khoa học tự nhiên. Mục tiêu lý thuyết của nó nhằm hướng tới sự dự đoán và kiểm soát hành vi. Phương pháp này không ủng hộ các dạng thức nội quan, cũng không thừa nhận giá trị khoa học của các dữ liệu sẵn sàng đóng góp để ám chỉ đến việc diễn giải ý thức.
Trong 3 câu này, Watson đã tuyên bố 3 nguyên tắc mang tính cách mạng:

Thứ nhất, nội dung tâm lý học nên là hành vi, chứ không phải là ý thức; thứ hai, phương pháp của nó nên khách quan hơn là nội quan; thứ ba, mục đích của nó nên "dự đoán và kiểm soát hành vi" hơn là hiểu biết cơ bản về các sự kiện tâm thần.

@ Phương pháp của Watson gồm:

1. Sử dụng công cụ, phương tiện (instrument);

2. Các phương pháp trắc nghiệm (testing);

3. Phương pháp báo cáo thành lời (verbal report);

4. Phương pháp phản xạ có điều kiện (conditioned reflex).

@ Với Watson, kết quả trắc nghiệm nên được dùng như là các mẫu hành vi (samples of behaviour) hơn là các dấu chỉ phẩm chất tâm thần (indicators of mental qualities).

- rằng, test không đo các phẩm chất trí năng, thay vào đó, nó chẳng làm gì ngoài việc đo đáp ứng của chủ thể đối với các tình huống kích thích bằng cách test.

@ Lấy cảm hứng từ công trình của Bechterev, Watson đã mô tả điều kiện hoá ám chỉ đến việc thay thế kích thích (stimulus substitution);

- đặc biệt, mô hình S- R (Kích thích- Đáp ứng), và hành vi có thể được giảm thiểu thành các yếu tố;

- thay đổi bản chất và vai trò của đối tượng con người trong phòng thí nghiệm, người quan sát quan sát hành vi.

@ Vấn đề chủ thể của Hành vi:

- đối tượng chủ yếu là các yếu tố của hành vi, gồm có sự vận động cơ thể và sự tiết dịch tuyến;

- Watson gọi đấy là các 'hành động' ('act') đáp ứng phức tạp, tính đến cả những chuyển động của cơ thể trong không gian;

- Watson cũng lưu tâm các đáp ứng rõ ràng và đáp ứng hàm ẩn.

@ Quan niệm bản năng (Instinct):

- thực sự là các đáp ứng có điều kiện mang tính xã hội;

- có thể lần ngược được dấu vết của việc dạy dỗ trẻ từ buổi ban đầu;

- nhấn mạnh vào những tác động do nuôi dưỡng quá đáng của bố mẹ và môi trường xã hội;

- trẻ em có thể được huấn luyện, dạy dỗ để trở thành bất cứ ai ta muốn.

@ Quan niệm Cảm xúc (emotions):

- đáp ứng sinh lý (nhịp tim) đối với các kích thích riêng biệt;

- mỗi cảm xúc liên quan đến các mẫu đặc biệt của sự thay đổi sinh lý;

- đáp ứng hàm ẩn;

- 3 loại cảm xúc cơ bản: sợ hãi (fear)-- vì tiếng động ồn ào (loud noise) và do đột ngột mất sự hỗ trợ (sudden loss of support), giận dữ (rage)-- sự kiềm chế vận động cơ thể (restriction of body movement), yêu thương (love)-- gợi lên bởi sự vuốt ve làn da (caressing the skin) hoặc do lắc lư (rocking) và vỗ về (patting);

- Bé Afred, Peter , và loài Thỏ (the Rabbit): nỗi sợ được thiết lập bởi việc tạo ra tiếng động ồn ào, gắn với xuất hiện của chuột, Mary Covery Jones đã nhặt lấy ý tưởng này để trở thành người đi tiền trạm của trị liệu hành vi.

@ Tiến trình tư duy (Thought Process):

- tư duy là một kiểu hành vi vận động cảm giác (type of sensorimotor behavior);

- hành vi vận động hàm ẩn;

- tư duy được rút ra từ cách nói dưới âm thanh (subvocal talking), dựa trên thói quen của các cơ giống nhau mà chúng ta học hỏi nhờ phát ngôn thành lời (overt speech);

- khi chúng ta lớn, những điều này không thể nghe ra và nhìn thấy, vì bố mẹ và thầy cô giáo khuyến cáo chúng ta ngừng nói to lên với chính mình,...

@ Đánh giá về chủ nghĩa Hành vi của Watson:

- William McDougall (1871- 1938): lý thuyết bản năng về hành vi; cuốn sách của Watson về Tâm lý học xã hội; ủng hộ tự do ý chí; hành vi khởi từ các xu hướng bẩm sinh; cách Hành vi có thể giải thích cuộc hoà tấu Violin;

- Công lao của Watson: thay đổi thái độ thông thường; đặt nền móng tiêu biểu; cung cấp khái niệm nền tảng vững chắc cho tâm lý học hiện đại; sức quyến rũ kỳ lạ của Watson.

@ Lý thuyết Hành vi qua các ví dụ đời thường:

- Mọi hành vi đều tạo ra hậu quả. Hậu quả quyết định việc bạn sẽ tiếp tục ứng xử tương tự hay không.

Ví dụ: ăn sôcôla (chocolate) mỗi ngày.

+ Một hậu quả thú vị (pleasant) là sự củng cố (reinforcement): vị sôcôla hấp dẫn quá làm bạn cảm thấy sướng khoái.

+ Một hậu quả khó chịu (unpleasant) là hình thức phạt (punishment): bạn tăng cân và mất khẩu vị với đồ ăn dinh dưỡng.

Củng cố là một hậu quả (ngon tuyệt) theo sau một hành vi (ăn sôcôla) làm tăng cường (increase) hành vi tương tự để nó xảy ra lần nữa.

Phạt là một hậu quả (tăng cân) theo sau một hành vi (ăn sôcôla) khiến bạn giảm đi (decrease) hành vi tương tự để không cho nó xảy ra [giả thuyết là bạn không muốn tăng cân].

- Trong khoa học Tâm lý, cũng như trong Toán học, các thuật ngữ tích cực, tiêu cực (positive, negative) mang nghĩa là cộng/ trừ (addtion/ subtraction).

Ví dụ: tiền bạc.

+ Một sự thay đổi tích cực trong tài khoản ngân hàng của bạn nghĩa là bạn có nhiều tiền hơn, trong khi một sự thay đổi tích cực trong thuế thu nhập cá nhân của bạn nghĩa là bạn phải đóng thuế nhiều hơn.

+ Một sự thay đổi tiêu cực trong thẻ tín dụng của bạn nghĩa là bạn ít nợ nần, trong khi một sự thay đổi tiêu cực trong tiền lương của bạn nghĩa là bạn thu nhập kém đi.

- Khi tích cực/ tiêu cực và củng cố/ phạt được nối kết với nhau thì kết quả là chúng ta có 4 cách tiếp cận bất kỳ một hành vi nào. Bạn muốn tiếp tục hay chấm dứt hành vi ấy?

Cô X. tự hỏi, mình nên tăng cường những hành vi tương tự nào để tiếp tục đạt được điểm cao trong kỳ thi? Cô muốn duy trì (maintain) những hành vi này.

CỦNG CỐ tích cực có thể là làm điều gì đó cô thực sự thích-- lên sàn nhảy khiêu vũ chẳng hạn-- sau một đợt học hành chất lượng.

Cô muốn thêm điều gì đó thú vị, một phần thưởng (a reward) cho việc học hành. Ý nghĩ về một phần thưởng trong tương lai như thế sẽ giúp cô tiếp tục việc học.

CỦNG CỐ tiêu cực có thể là việc thấy rằng, sau một đợt học chất lượng, tiếng nói nội tâm khiến cô không còn cảm thấy lo lắng về sự học hành kém cỏi.


Giảm đi các kích thích khó chịu là một phần thưởng làm cô muốn tiếp tục việc tránh cơn sợ hãi kém cỏi.

Còn anh Y. thì tự hỏi, mình nên giảm đi những hành vi tương tự nào để đạt điểm cao trong thi cử? Anh muốn loại ra (eliminate) những hành vi này.

PHẠT tích cực có thể là việc quyết định một giờ lau chùi, quét dọn nhà cửa cho một giờ không chịu ôn bài để thi cử.


Anh thêm điều gì đó khó chịu để phạt mình cái tội không chịu ôn bài. Ý nghĩ phải bò toài mệt nhoài làm vệ sinh nhà cửa khiến anh thấy cần chấm dứt việc lơ là học hành.

PHẠT tiêu cực có thể là không được dùng bất cứ cữ café nào khi không chịu học hành gì cả. Giảm đi điều gì đó thú vị là sự nhắc nhở nghiêm khắc khiến từ bỏ chuyện học hành chểnh mảng.


[Nguồn:

1.
Jessie's Psychological World

2.
The Story of Psychology]

("Thân chủ và mối quan hệ giữa thân chủ với nhà trị liệu- nhìn từ các cách tiếp cận tâm lý trị liệu chính yếu", bài 3)

Trong kiểu trị liệu hành vi, diễn ra một sự gắn bó giữa thân chủ và nhà trị liệu, như những thành viên cùng một equip, đang không ngừng cam kết đồng cam cộng khổ vì mục tiêu chung của công việc.

Cách tiếp cận này dựa trên các nguyên tắc phản xạ có điều kiện (conditioned reflex) của I.P. Pavlov (1849-1936), củng cố thao tác (operant reinforcement) của John B. Watson (1878-1958) và B.F. Skinner (1904-1990), và lý thuyết học hỏi (learning theory).

Theo đó, các cá nhân vừa là người sáng tạo đồng thời cũng là kết quả của môi trường xung quanh được chứa đầy những kích thích củng cố, trung hoà hay trừng phạt.

Mỗi khi nhận ra mối quan hệ giữa chúng ta với môi trường, con người có khả năng học hỏi và hình thành những hành vi mong muốn, kinh nghiệm sâu sắc hơn việc tự am hiểu và tự kiểm soát.

Nguyên tắc chủ đạo của cách tiếp cận này: hành vi chỉ được xem là yếu tố trong sự phát triển nhân cách. Xét từ góc độ ảnh hưởng di truyền, khi mới sinh ra các cá nhân như những tấm bảng trống trơn (blank slates).

Nhân cách không gì khác hơn là sự trưng bày của các loại kinh nghiệm khác nhau. Chính môi trường, chứ không phải tinh thần, ý tưởng hay tâm hồn, là thành phần năng động trong sự phát triển.

Do đó, nếu các nét nhân cách chỉ là thành tố trong mối quan hệ tương tác hành vi và môi trường- không phải là cái gì được ấn định từ khi người ta chào đời- thì phải diễn ra khả năng thay đổi những hành vi không mong muốn.

Am hiểu tính chủ đạo trong cách kiểm soát môi trường là chìa khoá để trị liệu hành vi thành công. Nhà tham vấn bàn bạc với mỗi một thân chủ, rồi cùng quyết định chính xác những kiểu hình kinh nghiệm môi trường gì sẽ thực thi tốt nhất đối với cá nhân đó; thậm chí, ngay cả khi biết rõ điều mang lại ý nghĩa cho cá nhân có thể chẳng là gì đối với kẻ khác.

Mục tiêu "thay đổi hành vi che đậy bên ngoài" (covert behavior change) nhấn mạnh việc gánh lấy trách nhiệm về phía thân chủ, cũng như niềm tin của nhà trị liệu là thân chủ có năng lực học hỏi những hành vi mong muốn.

Giả thiết xem xét trường hợp của M., một phụ nữ trong độ tuổi 20. (Dưới đây, những đoạn minh hoạ tiến trình trị liệu sẽ được in nghiêng).

Sau vài thủ tục xã giao, M. mào đầu: "Tôi thực sự bấn loạn." Xuất phát từ quan niệm rằng, chỉ hành vi là giải pháp cho cái tôi tự định đoạt (self-determination), khái niệm bản thân (self-concept) và lòng tự trọng (self-esteem), nhà trị liệu hành vi ngụ ý việc thảo luận về các cảm xúc củ thân chủ sẽ làm xao lãng những vấn vấn đề thực tế, nên ông nêu câu hỏi:

"Những việc gì khiến cô nghĩ là mình đang bấn loạn?" M. chuẩn bị kể về kinh nghiệm thơ ấu, nhưng nhà trị liệu ngăn lại: "Tôi không nghi ngờ chút nào rằng tuổi thơ của cô rất khó khăn. Song để cải thiện chất lượng cuộc sống hiện tại của cô, không cần thêm một lần nữa làm sống lại nỗi đau ấy."


Những vấn đề riêng biệt và việc điều chỉnh hành vi đều được gợi lên trong tiến trình trị liệu. Hành vi có thể thay đổi bằng cách sử dụng các hình thức tăng cường tích cực (tặng thưởng thực phẩm, tiền bạc, khen ngợi,...) hay tiêu cực (những điều kiện không thoải mái) cho đến khi người ta rời xa một số hành vi không mong muốn hoặc ngăn cản sự củng cố tích cực đủ làm những hành vi bất xứng đó chấm dứt.

M. trao đổi cảm nhận của mình về các hậu quả hài lòng và không ưng ý, rồi đồng tình cùng nhà trị liệu vạch kế hoạch khen thưởng cho mỗi bước tiến tích cực khi cô không tỏ ra phản ứng bề ngoài trước sự chỉ trích của mẹ mình.

Tiếp đó, M. nhận thấy sau lần gặp mẹ, cô bị các cơn đau đầu dồn dập. Tạm thời gạt qua khả năng do chế độ ăn uống và thuốc men, nhà trị liệu giải thích với M.: "Sức ép thể lực làm sản sinh những cơn đau đầu như thế là giai đoạn cuối của một loạt áp chế vi tế. Đau đầu biểu hiện cho sự củng cố phủ định, tiêu cực nhằm khuyến khích cô tập trung thẳng vào những phản ứng của mình. Cơ chế phản hồi sinh học có thể đã làm ngừng sớm hơn các dấu hiệu ức chế, căng thẳng đang trên đà phát triển.


Thân chủ bắt đầu tiếp cận với các thiết bị âm thanh, hình ảnh giúp cho thân chủ nhận ra những chuyển biến tế vi của thân nhiệt, độ cảm ứng điện trở vùng da, hơi thở và sự căng cơ. Kết quả là thân chủ học được cách phân biệt những biểu hiện thể lý nhỏ nhặt, không dễ nhận ra và sự truyền năng lượng gián tiếp trước khi cúng trở nên quá mức chịu đựng.

M. nhất trí là việc đó sẽ giúp cô biết được nhiều cách thức làm mới mẻ và ít huỷ hoại mối quan hệ hơn lúc tương tác với mẹ mình. Nhà trị liệu hành vi đề xuất liệu pháp trò chơi (role playing) hay diễn tập (rehearsal); trong đó, M. sẽ thực hành để củng cố những đáp ứng quả quyết, trước hết trong phạm vi an toàn của bối cảnh trị liệu, rồi sau đó lúc tiếp xúc với mẹ mình.

Những xu hướng củng cố khác trong trị liệu hành vi bao gồm việc giao kèo (contracting) và thưởng quy đổi (token economies). "Giao kèo hành vi" (tỏ ra hiệu quả trong việc giảm cân, quản lý thể trọng, điều trị các chứng nghiện rượu, ma tuý, thuốc lá) nhằm mục đích tạo ra biểu đồ hành vi riêng biệt cho từng thân chủ đúng như những gì chúng diễn tiến, đi đến thống nhất một hệ thống thưởng phạt thích hợp, và kết nối với mạng lưới những thành viên hỗ trợ tích cực.

"Thưởng quy đổi", theo thiết kế, thường được nhìn nhận là những củng cố thứ yếu: trả công cho những hành vi mong đợi; điều ấy hàm nghĩa "mua" lại nhiều biểu hiện xứng đáng hơn nữa, tức là củng cố hành vi. Trong mọi trường hợp củng cố, lịch trình và việc xác định thời điểm khen thưởng phải được nhà trị liệu tính toán một cách cẩn thận nhằm định hướng, chỉnh sửa điều kiện hoặc tạo nặn hành vi của thân chủ đúng ý đồ.

Các nhà trị liệu hành vi cũng cho rằng môi trường tồn tại nhiều kích thích bất mãn, khó chịu, ngược đãi là nguyên nhân đưa đến hành vi bỏ trốn, lẩn tránh hay hãi sợ; chung quy là giảm thiểu chuyện có thể bị trừng phạt.

Thân chủ ngập mình trong các cuộc trị liệu kéo dài khi không ngừng hướng đến những tác nhân kích thích đáng sợ và hấp dẫn liên quan tới lối ứng xử không được ưa thích. Sự chán ngán là kiểu giải thích nhẹ nhàng hơn trạng thái cuốn phăng này.

M. ghi âm một số phát ngôn, tuyên bố chua cay của mẹ đã và đang phá vỡ tâm trí bình an của cô. Nhà trị liệu hành vi không ngừng lặp lại một hoặc nhiều hơn các điều trong danh sách đó, cùng với M. kiểm soát hành vi vào những lúc ngừng nghe băng từ tác động cho đến khi cách diễn đạt của người mẹ chỉ còn là những con chữ rỗng không, chẳng mang nghĩa lý gì và phản ứng chống đối của M. tiêu tan.

Một số kỹ thuật xoá bỏ nỗi ác cảm, ghét bỏ khác như trị liệu khép âm/ bùng nổ nội tâm (implosive therapy) rất thành công trong các trường hợp rối loạn chức năng tình dục (sexual dysfunction), cưỡng bức văng tục (complusive obscence language), ám sợ (phobia), thử nghiệm lo âu (test anxiety) và ám ảnh (obsession), nhờ vào việc các đáp ứng không ưng ý, mong muốn cứ lặp lại liên tục mà chẳng hề được thưởng công gì cho đến khi đáp ứng bị dập tắt.

Cách trị liệu này, xem như là giải pháp cuối dùng cho các đối tượng nghiện rượu và ma tuý. Thân chủ chấp nhận chịu đựng một số tác nhân kích thích không ưng ý và khó chịu cao độ như shock điện, gây nôn mửa (emetic), hoặc những kích thích thị giác không thật dễ chịu, như là hậu quả tất yếu phát sinh của hành vi cho đến khi mối gắn bó giữa hành vi và hậu quả của nó ghê gớm đến độ mà thân chủ không đủ khả năng để tiếp tục thực hiện nữa.

Có thể nói, trị liệu hành vi là tổ hợp chiến lược nhấn mạnh vào vấn đề ngăn chặn, phòng chống và chỉnh sửa thông qua một sự xác định rõ ràng, đo lường được trong việc đặt để các mục tiêu do chính thân chủ và nhà trị liệu cùng nghĩ ra kế hoạch. Thành công của cuộc trị liệu đòi hỏi nhà trị liệu phải được đào tạo chuyên sâu, và cần sự giáo dục về phía thân chủ.

Trong mỗi giai đoạn trị liệu, nhà trị liệu hành vi phải tỏ ra dễ hiểu, trong sáng, đúng đắn và cung cấp nhiều kiến thức, thông tin cần thiết. Yêu cầu thân chủ biết một cách chính xác những hành vi nào là đáng mong đợi, mục tiêu của mỗi bài thực hành hay chiến lược, thành quả dự định, và mức độ anh/ chị ta tham gia đến đâu trong tiến trình trị liệu.

Thân chủ cũng cần ý thức rằng anh/ chị ta đang làm việc với một chuyên gia được đào tạo bài bản; tinh thần trách nhiệm và sự cộng tác chặt chẽ, đầy đủ đó là yếu tố đưa cuộc trị liệu đạt đến thành quả như ý.

(Thứ bảy tới, bài 4. 3. Trị liệu nhận thức: tất cả vì mục tiêu đã thoả thuận.)

Bài đăng cũ hơn Trang chủ