
Vâng, ngày tháng mùa hè đang tiếp tục nắng nóng dữ dội, và tôi dự đoán, thừa khả năng bài báo này làm tình hình thêm phần bức bối.
Theo đó, cây bút chuyên mục viết về các vấn đề khoa học Sharon Begley vừa mới đây đã thổi kèn ầm ĩ trên tờ Newsweek nhằm thông báo tác động tai ác mang tính tiềm năng của tâm lý trị liệu.
Tác giả dẫn lời người trong cuộc rằng, giới chuyên nghiệp không thực sự quan tâm lắm đến chuyện điều trị có thể gây nguy cơ xấu; rằng, trong số ít các cách trị liệu đã được kiểm nghiệm là an toàn, lại có quá nhiều nguyên nhân ít nhất làm hại cho một số bệnh nhân.
Begley đưa sự kiện Cơ quan Kiểm soát Lương thực và Dược phẩm (FDA) đòi hỏi nhà sản xuất phải có nhãn mác khuyến cáo các tác dụng phụ quen thuộc của thuốc men, song không hề yêu cầu các khuyến cáo tương tự với những kỹ thuật tâm lý trị liệu.
Dẫu nhìn nhận cực đoan và bi quan về giá trị của việc trị liệu, dễ khiến thiên hạ lo lắng bởi các nguy cơ tiềm tàng trong trị liệu cá nhân và hầu như xoá nhoà toàn bộ lợi ích của việc trị liệu, thì bài báo của Begley cũng góp phần chỉ ra mạnh mẽ một vấn đề to lớn hơn, là chuyện sử dụng các kỹ thuật trị liệu đã không được xem xét thật cẩn trọng và trách nhiệm của nhà trị liệu phải nói cho thân chủ mình biết về bất kỳ ảnh hưởng tiêu cực có thể xảy đến.
Đáng chú ý, Begley sử dụng dữ liệu nghiên cứu xem xét kỹ càng tác động tiêu cực của trị liệu, đặc biệt về kỹ thuật gọi là "hiệu ứng lợn lành thành lợn què" ("deterioration effects").
Tác giả được dẫn trên- GS Tâm lý học Scott Lilienfeld, trong chương X mang tên Pseudoscience, Nonscience, and Nonsense in Clinical Psychology của cuốn sách, đã dùng cực kỳ hợp lý số lượng lớn các nghiên cứu liên quan đến hiệu ứng vừa nêu; ông chỉ gắng vạch trần quyền năng chữa trị của cácphương pháp rất đáng ngờ như "giải mẫn cảm chuyển động mắt" (eye movement desensitization) và "xử lý lại" (reprocessing) để tuyên bố rằng nhiều bệnh nhân đã thực sự bị chúng làm hại.
Trong khi công trình của GS Lilienfeld hướng tiêu điểm vào những mối hiểm nguy của các kỹ thuật nguỵ khoa học ít gặp, thì nhiều nhà nghiên cứu khác đã tìm thấy bằng chứng về các tác động tiêu cực trong một số trị liệu thông dụng hơn.
Rudolf Moos- đại học Stanford- chẳng hạn, vào 5.2005 cho biết: 7-15% đối tượng tham gia các chương trình trị liệu lạm dụng chất (substance abuse) rời khỏi trị liệu tồi tệ hơn so với lúc khởi sự.
Bất kể bằng chứng về các hậu quả tệ hại, thì vẫn chưa ngã ngũ rằng tâm lý trị liệu có cả lưới ảnh hưởng tích cực. Để khẳng định điều này, người ta chỉ việc nhìn vào danh sách mở rộng mà Hiệp hội Tâm lý Hoa Kỳ (APA) biên soạn nhằm chứng thực cho hiệu quả của tâm lý trị liệu.
Chỉ là mẫu nhỏ thôi: Mary Smith và Gene Glass kiểm tra 375 cuộc lượng giá tâm lý trị liệu đã chứng tỏ rằng 75% bệnh nhân tốt hơn so với số không được trị liệu.
Ngay cả một nghiên cứu sáng giá về sau phân tích chi tiết mức độ hiệu quả bệnh nhân nhận được tại các giai đoạn trị liệu khác nhau: nó không những khẳng định phát hiện trước thông qua việc chỉ ra là 75% bệnh nhân cải thiện tình hình sau 26 liệu trình, mà còn tỏ lộ con số 50% tiến bộ sau 8 liệu trình. Kiểu dạng nghiên cứu định luợng chắc chắn như thế cực kỳ lành mạnh đối với các nhà tâm thần học và tâm lý lâm sàng.
Do nhiều mối quan tâm riêng tư của các chuyên gia, nên người ta cần chấp nhận một số chướng ngại gặp phải trong cách thức so sánh khoa học; hơn nữa, các nhà trị liệu ngày càng không còn tín nhiệm sâu sắc vào Freud, Jung hay Adler để hướng tới các giải pháp mang tính chiết trung trộn lẫn, khiến việc lượng giá càng khó khăn. Cho dẫu thế, nhiều nghiên cứu do APA tiến hành đã cho thấy tất cả các trở ngại này có thể vượt qua được.
Việc đánh giá trị liệu dựa trên cơ sở bằng chứng đã từng được các tuyên bố trị liệu tích cực thừa nhận. Một trong những phương pháp trị liệu cực kỳ tương thích với bằng chứng kết quả là trị liệu Hành vi Nhận thức (CBT: Cognitive Behavioral Therapy)--khu vực vững chắc ở giữa tuyên bố cứng nhắc của chủ nghĩa hành vi không quan tâm đến các trạng thái nội tâm và các phương pháp khó test nổi dựa trên ứng dụng kỹ thuật phân tâm học.
Thậm chí, dù cho trị liệu nhận thức có thể được lượng giá một cách thành công, thì hầu hết các nhà thực hành tâm thần học và tâm lý học không buộc bệnh nhân của mình phải thực hiện các test tâm lý bao quát trước, trong và sau khi trị liệu. Một trong những lý do thiếu vắng động cơ của việc các nhà lâm sàng tích luỹ dữ liệu dạng này có dính dáng đến vấn đề tài chính và bảo hiểm.
... Bài báo ấn tượng của Sharon Begley còn khiến tôi nhớ lại cuốn sách Therapy Gone Mad- câu chuyện có thật liên quan đến hàng trăm bệnh nhân và một thế hệ bị dẫn vào con đường lầm lạc.
Luận điểm chính của bà Begley là mọi người cùng theo một tiêu chuẩn về những trải nghiệm tiêu cực đầy tiềm năng mà họ có thể gặp phải trong trị liệu.
Rõ ràng có một số nguy cơ; tựa như bất cứ nghề nghiệp khác, một số đối tượng hành nghề trị liệu thiếu năng lực, và giống lĩnh vực y khoa, nhiều khi người ta không phù hợp với các cách điều trị từng tỏ ra hữu ích.
Biện pháp khả thi ở đây xem chừng là người ta cần am hiểu tường tận khi chọn nhà trị liệu tâm lý, tương tự việc họ quyết định khám bệnh tại phòng mạch bác sĩ y khoa hay mua một chiếc xe máy.
Phân loại: Đọc sách, Học vấn, Nghiên cứu, Tâm lý học Lâm sàng, Tâm lý trị liệu, Thời sự
Bài đăng Mới hơn Bài đăng Cũ hơn Trang chủ