'Tiền trị liệu' ('pre-therapy') của Garry Prouty (Prouty, 1976; 1994; Prouty, Van Werde & Portner, 2002) đảm bảo là nguồn gây cảm hứng và là điểm khởi phát cho sự tương tác xác thực nhà trị liệu- thân chủ ở mức độ rất cao.
Tiền trị liệu là lý thuyết và phương pháp luận thân chủ- trọng tâm (client-centred) nhằm dự tính làm việc với những thân chủ mà khả năng thiết lập và duy trì sự tiếp xúc (contact) của họ bị suy kém.
'Tiếp xúc' là khái niệm bao quát năng lực tiếp xúc của thân chủ với thực tế, với người khác và với cái tôi xúc cảm riêng có.
Tiền trị liệu được áp dụng vào các cộng đồng chậm phát triển tâm thần (Prouty, 1976; Van Werde, 1990; Peters, 1999), loạn thần cấp tính (Van Werde, 1989), tâm thần phân liệt mãn tính (Prouty, 1994), người đa nhân cách (Roy, 1991), sang chấn (Coffeng, 1996) và ngăn ngừa khủng hoảng (Prouty & Kubiak, 1988).
Ý tưởng tiếp xúc cũng được sử dụng như khái niệm khung (a coceptual framework) cho môi trường chăm sóc thường trú bệnh viện đối với người loạn thần (Van Werde, 1992; 1998). Tiền- trị liệu còn được quan tâm khi làm việc với trẻ em trong bối cảnh gia đình (McWilliams & Prouty, 1998) và người khốn khổ vì sa sút trí tuệ (Van Werde and Morton, 1999; Van Werde, 2002).
Ý tưởng căn cốt của cách tiếp cận này và những ứng dụng trong các cộng đồng thân chủ cũng như ở nhiều bối cảnh khác nhau: tiếp xúc là điều kiện cần thiết cho một mối quan hệ trị liệu.
Trong bài báo nổi tiếng năm 1957, Carl Rogers xác định 6 điều kiện cần và đủ để sự thay đổi nhân cách mang tính trị liệu xảy ra.
Các điều kiện liên quan tới sự thấu cảm (empathy), thích đáng, trung thực (congruence) và tôn trọng tích cực vô điều kiện (unconditional positive regard) ấy được biết rất rõ, song sự đóng góp sáng tạo mà Prouty đem lại cho lý thuyết và thực hành Con người- trọng tâm là nhấn mạnh tầm quan trọng cũng như mở rộng điều kiện thứ nhất từng xác lập bởi Rogers: sự cần thiết rằng, hai người đang ở trong sự tiếp xúc tâm lý.
Prouty làm việc với những thân chủ- bởi nhiều lý do- bị suy yếu trầm trọng khả năng truyền thông. Làm việc với những thân chủ như thế, thì thậm chí một mức độ tiếp xúc tối thiểu cũng không thể được giả định trước như là có thể làm việc với những thân chủ ít suy yếu hơn.
Prouty đã gắng phát triển lý thuyết Con người- trọng tâm trong lĩnh vực còn bỏ trống này. Bài báo ban đầu của ông, xuất bản năm 1976, đã khởi sự cuộc hành trình đầy phấn khích cho việc nghiên cứu và thực hành mà về sau được tóm tắt lại trong cuốn sách Theoretical Evolutions in Person-Centered/ Experiential Therapy (1994). Cuốn sách thứ hai của ông (Prouty, Van Werde and Portner, 2002) kiểm tra việc chuyển dịch tiền- trị liệu vào bệnh viện nội trú và đưa ra cái nhìn tổng quan về sự chuyển dịch của những dự án tiền trị liệu đang tiến hành ở châu Âu.
Tiền trị liệu đóng vai trò trung tâm trong khái niệm về sự phát triển tâm lý tiếp xúc của thân chủ với Thế giới (World), Cái tôi (Self) và Người khác (Other) (Merleau-Ponty).
Từ góc độ lý thuyết, tiếp xúc được mô tả qua 3 mức độ.
@ Thứ nhất, đó là tập hợp các phản ánh trị liệu bởi nhà trị liệu nhằm tiếp xúc với thân chủ. Các phản ánh này đưa ra 5 dạng thức khác nhau song tất cả đều có ý định tạo ra sự tiếp xúc với thân chủ bởi việc phản hồi lại cụ thể hành vi thân chủ và/ hoặc các yếu tố liên quan từ thực tiễn xung quanh.
Mục tiêu của nó là thông qua việc áp dụng trị liệu Con người- trọng tâm để thoả mãn thân chủ ở mức độ trải nghiệm riêng. Với những thân chủ đòi hỏi tiền trị liệu, thì mức độ trải nghiệm phải là rất cơ bản như được thể hiện bằng 5 dạng thức phản ánh tiếp xúc (contact reflections):
1. Phản ánh tình huống (SR: Situational Reflections): phản ánh con người, nơi chốn, đồ vật và sự kiện; ví dụ, 'Mặt trời rực sáng', 'Chúng ta đang ở trong văn phòng của tôi'.
Những phản ánh nhằm phục hồi hoặc củng cố sự tiếp xúc của thân chủ với môi trường trực tiếp.
2. Phản ánh diện mạo (FR: Facial Reflections): phản ánh các dấu hiệu cảm xúc cụ thể xuất hiện rõ ràng trên khuôn mặt thân chủ; ví dụ 'Anh đang mỉm cười', 'Peters trông có vẻ giận dữ'.
Mục đích của sự phản ánh này là giúp thân chủ tiếp xúc và diễn đạt cảm xúc biểu lộ sẵn (pre-expressive feeling).
3. Trong phản ánh hình thể (BR: Body Reflections), những chuyển động hoặc cử chỉ hình thể của thân chủ được phản ánh qua ngôn từ hoặc thể hiện chúng một cách thấu cảm; ví dụ, 'Bàn tay anh ngửa', hoặc có lẽ nhà trị liệu ngồi đung đưa tương tự cách thân chủ làm.
Những phản ánh này giúp thân chủ phát triển cảm nhận trực tiếp về hình thể mình và cũng hỗ trợ một vài dạng thức tiếp xúc thực tiễn 'ở đây và ngay bây giờ'.
4. Phản ánh từ tương tự (WWR: Word for Word Reflections): phản hồi trở lại từ ngữ, âm tiết hoặc câu cú chứa đựng sự hiểu biết xã hội hoặc dường như rất ý nghĩa đối với thân chủ.
Những phản hồi này giúp thân chủ trải nghiệm bản thân lần lần như một người diễn đạt hoặc truyền thông, và theo cách đấy họ nỗ lực hướng tới việc phục hồi chức năng của ngôn ngữ.
5. Phản ánh lặp lại (RR: Reiteractive Reflections): lặp lại những phản hồi thành công trước đó nhằm củng cố sự tiếp xúc đã thiết lập và giúp thân chủ dễ dàng hơn trên tiến trình trải nghiệm; ví dụ, 'Tôi nói, "sàn nhà" và anh nhìn thẳng vào tôi, 'Anh đã nhìn chiếc đồng hồ đeo tay của tôi và tôi nói 3 giờ chiều rồi.'
@ Mức độ thứ hai của sự tiếp xúc được mô tả trong tiền trị liệu như tập hợp các chức năng tâm lý cần thiết để việc trị liệu diễn ra: các chức năng tiếp xúc (the contact functions).
Các phản ánh tiếp xúc của nhà trị liệu được phác hoạ nhằm thiết lập, duy trì và có khả năng củng cố 3 chức năng tiếp xúc trong thân chủ: tiếp xúc thực tế (RC: Reality Contact) là nhận thức cụ thể của thân chủ về con người, nơi chốn, sự kiện và đồ vật; tiếp xúc cảm xúc (AC: Affective Contact) bao gồm tri nhận của thân chủ về cảm xúc (emotions), tâm trạng (moods) và cảm giác (feelings); và tiếp xúc truyền thông (CC: Communicative Contact) là sự truyền thông của thân chủ về tri nhận của chính mình về thực tiễn và cảm xúc đối với người khác.
@ Mức độ thứ ba của sự tiếp xúc được mô tả một cách lý thuyết là ám chỉ hành vi thân chủ phô diễn như là kết quả phát triển các chức năng tiếp xúc: điều này được gọi là hành vi tiếp xúc (contact behavior).
Nhờ việc phát triển tiếp xúc thực tế, cảm xúc và truyền thông mà các chức năng đời sống của thân chủ được tăng tiến, hỗ trợ thân chủ tham gia đủ đầy hơn các hoạt động xã hội, nghề nghiệp và xã hội cũng như rốt cục, tạo điều kiện dễ dàng cho chính thân chủ bước vào tiến trình tâm lý trị liệu.
Các phản ánh tiếp xúc, chức năng tiếp xúc và hành vi tiếp xúc làm nên các khái niệm cơ bản của tiền trị liệu thân chủ- trọng tâm. Thay vì tiếp tục giải thích lý thuyết, có lẽ sẽ thú vị và bổ ích hơn khi dẫn luận này giới thiệu một vài minh hoạ lâm sàng của việc ứng dụng các phản ánh tiền trị liệu.
Nguồn: Mearns, 2003: 120-122
[Ngày mai, post tiếp phần còn lại.]
Phân loại: Carl Rogers, Đọc sách, Nghiên cứu, Tâm bệnh học, Tham vấn Tâm lý, Tiền trị liệu
Bài đăng Mới hơn Bài đăng Cũ hơn Trang chủ