Thư điện tử mới đây của một sinh viên năm thứ 4 đề nghị chia sẻ thêm thông tin về cách lý giải và tính điểm test phóng chiếu quen thuộc là TAT khiến tôi nhớ ngay đến một bài báo vừa đọc được chưa lâu.
Sử dụng test dựa vào kỹ thuật phóng chiếu nêu trên, tác giả Phebe Cramer đã tiến hành một nghiên cứu (longitudinal study) về sự biến đổi của các cơ chế phòng vệ (defence mechanisms) từ trẻ em đến người trưởng thành.
Bắt đầu từ năm 1928 và nằm trong dự án Berkeley Guidance Study, 71 đối tượng tham gia hoàn thành TAT khi họ đã 12, rồi lên 16 và đến 18 tuổi.
Kết luận quan trọng rút ra: trên tiến trình phát triển từ độ tuổi vị thành niên bước sang giai đoạn trưởng thành, người đời ngày càng ít dựa vào sự chối bỏ (denial)-- lờ đi những ý nghĩ đang quấy quả mình--; thay vào đấy, chúng ta sử dụng thường xuyên hơn sự phóng chiếu (projection)-- đổ tội cho kẻ khác về lắm thứ đang khiến mình lo âu, phiền muộn-- và đồng nhất hoá (identification)-- xu hướng hoá thân thành ai đó mình ngưỡng mộ, khâm phục.
Các cơ chế phòng vệ cơ bản này được quy nạp qua toàn bộ câu chuyện đối tượng tham gia test kể trong khi làm TAT.
Tác giả Cramer còn phát hiện thấy, những ai ở tuổi 18 sử dụng nhiều sự đồng nhất hoá hơn thì có liên quan với chỉ số IQ cao hơn.
Và mặc dù càng lớn người ta càng tỏ ra thích phóng chiếu và đồng nhất hoá hơn song, chính ở độ tuổi trưởng thành này cũng nảy sinh hiện tượng khôi phục, tái diễn lại sự chối bỏ; theo ý Cramer, dường như nó phản ánh "niềm tin của người thanh niên trẻ rằng, cô ấy có quyền năng tạo nên một môi trường phù hợp với những ước muốn của bản thân."
Tuy vậy, nghiên cứu trên lại không chứng thực được việc đối tượng tham gia ở tuổi 18 hay giữ thói quen đồng nhất hoá hơn là phóng chiếu-- mà một số nghiên cứu gần đây khẳng định.
Giải thích điều này, Cramer nghĩ đến sự tác động của các yếu tố văn hoá- xã hội: người 18 tuổi ở thời điểm 1946- chỉ mới một năm sau Chiến tranh Thế giới lần thứ hai-- có vẻ ít thời gian để "khám phá các con đường khác nhau trong sự phát triển và định hình bản sắc (identity)."
Blog Cái Tôi sẽ tiếp tục giới thiệu TAT và các cơ chế phòng vệ kỹ càng hơn vào một dịp khác; ở đây, chỉ xin lưu ý rằng, khái niệm "cơ chế phòng vệ" hàm ý trả lời cho cả hai câu hỏi phòng vệ chống lại điều gì? và phòng vệ vì cái chi?.
TAT (Thematic Apperception Test) của H.A. Murray và các đồng nghiệp khác (1938) yêu cầu người tham gia kể một câu chuyện từ mỗi tấm trong tổng số 20 bức tranh đặt trước mặt-- những diễn biến đang xảy ra, điều chi dẫn đến hoàn cảnh ấy, và rồi nó có thể đưa tới kết cục, hậu quả gì.
Thiết kế và cấu trúc của TAT đòi hỏi chuyên gia khi diễn giải test bắt buộc phải tích hợp thông tin về các khía cạnh trí năng (intelectual powers), xung đột cảm xúc (emotional conflicts) và cơ chế phòng vệ (defense mechanisms).
Phân loại: Cơ chế phòng vệ, Nghiên cứu, Phân tâm học, TAT, Tâm bệnh học, Test
Bài đăng Mới hơn Bài đăng Cũ hơn Trang chủ