
Tình anh em là tình yêu giữa những kẻ ngang hàng, tình mẹ là tình yêu đối với kẻ yếu ớt.
[Fromm, E. Phân tâm học tình yêu. Tuệ Sĩ dịch// (Đỗ Lai Thúy biên soạn). (2003). Phân tâm học và tình yêu. Hà Nội: Nxb. Văn hóa- Thông tin, tr. 240- tr.245]
Dù có khác biệt nhau chúng có điểm chung là, tự bản chất đích thực, chúng không bị hạn hẹp vào một người.
... Trái với tất cả hai loại tình yêu ấy là tình yêu dục lạc; đó là sự ham muốn nhắm phối hợp toàn diện, nhắm hợp nhất với một kẻ khác.
Tự bản chất nó cực đoan và không phổ biến; có lẽ đây là một hình thức lường gạt của tình yêu.
... Ham muốn dục tình nhắm đến chỗ phối hợp- và không phải chỉ là một đòi hỏi sinh lý, giải tỏa một áp chế đau đớn.
Nhưng ham muốn dục tình còn có thể được kích thích bởi ưu tư về cô độc, bởi ước vọng muốn chinh phục hay được chinh phục, bởi sự hư ảo, bởi ước vọng muốn bức khổ hay ngay cả muốn hủy diệt, chẳng khác nào nó có thể được kích thích bởi tình yêu.
Hình như ham muốn dục tình có thể dễ kết nối với và được kích thích bởi bất cứ một xúc cảm mãnh liệt nào đó, mà tình yêu chỉ là một tình yêu của xúc cảm ấy.
Bởi vì ham muốn tình dục được ghép với ý niệm về tình yêu, họ dễ bị đánh lạc hướng để đi đến kết luận rằng họ yêu nhau khi họ ham muốn kẻ khác về mặt cơ thể, thì yêu có thể làm hứng khởi ước vọng nhắm hợp nhất tính dục; trong trường hợp này, tương quan có thể thiếu tham dục, thiếu một ước vọng muốn chinh phục hay được chinh phục, nhưng được nối kết với sự mẫn cảm.
Nếu ham muốn nhắm hợp nhất về cơ thể không được kích thích bởi tình yêu, nếu tình yêu dục lạc cũng không phải là tình huynh đệ, nó không bao giờ dẫn đến chỗ hợp nhất trong ý nghĩa cuồng lạc, tạm thời hơn.
Sự quyến rũ tính dục đôi khi tạo nên ảo tưởng về hợp nhất, nhưng không có tình yêu "hợp nhất" này để lại những khách lạ lại cách biệt nhau như trước kia- đôi khi nó làm cho họ cả thẹn nhau, hay cả đến ghét nhau, bởi vì ảo tưởng đã đi mất họ cảm thấy cách xa lạ nhau rõ rệt hơn trước nữa.
Sự mẫn cảm không phải là, như Freud tin tưởng, một sự thoáng qua của bản năng tính dục, nó là hậu quả của tình anh em, và hiện hữu trong những hình thức cơ thể cũng như phi cơ thể.
... Người ta không để ý đến một yếu tố quan trọng trong tình yêu dục lạc, đó là ý chí. Yêu một người nào đó không phải chính là một cảm giác- nó là một quyết định, một phán đoán, một ước định.
Nếu tình yêu chỉ là một cảm giác thì sẽ không có cơ bản cho ước định để mà yêu nhau mãi mãi. Một cảm giác hiện đến và có thể bỏ đi. Làm sao tôi có thể quyết đoán rằng nó sẽ lại mãi mãi, khi hành vi của nó không bao hàm phán đoán và quyết định?
Xét những quan điểm này ta có thể đi đến quyết định lập trường theo đó tình yêu nhất định là một hành vi của ý chí và phó thác, và do đó tự căn bản của nó không xét đến vấn đề hai kẻ ấy là ai.
Hôn nhân được sắp đặt bởi những kẻ khác, hay là kết quả của sự lựa chọn cá biệt, một khi hôn nhân được thành tựu, hành vi của ý chí phải đảm bảo sự liên tục của tình yêu.
Quan điểm này hình như bỏ quên cá tính nghịch lý của bản chất con người và của tình yêu dục lạc.
... Vậy thì, cả hai quan điểm, theo đó tình yêu dục lạc như là sự quyến rũ hoàn toàn cá biệt, độc nhất giữa hai người riêng biệt. Cũng như quan điểm khác,cho rằng tình yêu dục lạc chỉ là một hành vi của ý chí, cả hai đều đúng- hay, nói cho chí lý, chân lý không ở quan điểm này cũng không ở quan điểm kia.
Từ đó, ý niệm về một tương quan có thể dễ tan biến nếu người ta không thành công với nó, ý niệm này cũng sai lầm như ý niệm cho rằng tương quan không thể bị tan biến bất cứ dưới trường hợp nào.
@ Cập nhật, 04.5.2008: BBC đăng tải một bài viết đáng chú ý về "nghiện sex" và giải thích tại sao đó không phải là chuyện nghiện ngập, cho dù nó có thể tạo ra vấn đề.
Phân loại: Đạo đức, Đọc sách, Giới tính, Hôn nhân-gia đình, Khái niệm cái tôi, Kỹ năng sống, Phân tâm học, Phụ nữ, Quan hệ, Rối nhiễu, Sex, Tác giả và tác phẩm

(Ảnh: Hội nghị tại Đại học Clark năm 1909. Hàng đầu tiên: thứ ba từ trái sang: William James, thứ tư từ bên phải qua: Sigmund Freud, và bên tay phải cạnh ông là Carl G. Jung.)
"Duy nhất bình thường là những người mà ta không hề biết gì rõ cả."
Phát ngôn gây ấn tượng mạnh mẽ của nhà tâm lý học Alfred Adler gợi nhớ một bài báo thú vị: từ góc độ suy xét nhất định thì người mắc tâm thần phân liệt (TTPL) "logic" hơn nhiều so với người bình thường.
Theo đó, người mắc TTPL và thành phần đối chứng tiến hành thể hiện hai kiểu suy luận khác nhau; một dạng mà kết luận tương ứng với lẽ thường ở đời, còn kết luận rút ra từ dạng kia lại trái ngược với những gì quần chúng vẫn nghĩ.
Những người tham gia thực nghiệm được đề nghị lựa chọn giả thuyết nào ám chỉ kết luận hay không. Rốt cục: những người mắc TTPL đã thể hiện tốt trong cả hai trường hợp.
Chuyện nọ xọ chuyện kia. Khi đọc bài báo nêu trên, tâm trí tôi thoáng liên tưởng tới chứng minh của nhà toán học Kurt Godel về sự hiện hữu của Thượng Đế. Và sự kiện ông đành nhịn đói cho đến chết khi không có ai đủ can đảm nếm thức ăn tẩm thuốc độc của ông.
Nhân tiện, vài lời giới thiệu thêm về A. Adler.
Nhà Phân tâm học người Áo này từng tạo nên ảnh hưởng to lớn đối với nhóm đồ đệ thuở ban đầu của Freud.
Chính Adler sáng chế thuật ngữ "phức cảm tự ti" (inferiority complex) nhằm mô tả ý tưởng là tất cả mọi người đều sinh ra với phức cảm cơ bản đó; chúng ta cần học hỏi nó để điều chỉnh đường hướng phát triển đời người.
Adler cho rằng, tiến trình phát triển này khuôn đúc nhân cách và phản ánh trong các nét tính cách của mỗi cá nhân.
Nếu bạn hâm mộ, sẵn sàng hứng thú tích lũy thông tin về trường phái Phân tâm học thì trên tờ The New York Times có hai bài báo mà nhan đề đã thừa hấp dẫn.
Chẳng hạn, bài này lý giải vì sao các lý thuyết của Freud ngày càng bị lờ tịt tại các khoa Tâm lý học, dù thực tế chúng vẫn tồn tại và tiếp tục được xiển dương trong các ngành Khoa học Nhân văn; còn ở đây điểm cuốn sách mới của George Makari đi sâu tìm hiểu lịch sử tư tưởng của Freud và các cá nhân xung quanh Freud không ngừng góp phần truyền bá hệ thống lý thuyết của vị sáng lập Phân tâm học.
Cuối tuần vui vẻ!
Giờ thì đến cả cây bút của AP cũng viết bài cho rằng Việt Nam đang trải qua khoảnh khắc Paris Hilton, trong khi báo chí trong nước lại đặt câu hỏi tại sao và đưa tin rất rõ ràng, cứ như thể 4 sinh viên này là chủ mưu, nhân vật chính không bằng.
Dù vụ việc dần chuyển sang hẳn khía cạnh pháp lý của công tác định tội danh, song chắc chắn,dư luận sẽ còn chưa thôi bàn tán ngoài lề đủ thứ chuyện xa gần.
Ở đây, blog Cái tôi chỉ thử trình bày các yếu tố tâm lý nào đã tạo nên sự hài hước, từ hai câu chuyện ăn theo được chuyển tới lui mấy ngày qua theo đường YM.
@ Sáng nay, trông thấy Bush và Bin Laden ngồi uống cà phê Trung Nguyên, hai ông bàn tán một vấn đề gì đó rất rôm rả.Đọc hai mẩu ứng tác cực kỳ sát hợp thời sự này, tôi lại nghĩ ngay tới câu chuyện vào năm ngoái được cho là hài hước nhất thế giới.
Anh bồi bàn rất ngạc nhiên bèn từ tốn lại gần hỏi: ‘Thưa ngài, ngài có phải là G. Bush?’ ‘Ừ đúng, tao là Bush đây!’ ‘Thế mạn phép ngài cho hỏi hai ngài đang bàn tính chuyện gì thế ạ?’ ‘Tao đang bàn với anh Bin đây làm sao khủng bố chết 80.000 dân Việt Nam + con VA.’ Anh bồi bàn sửng sốt hỏi lại: ‘Tại sao lại là con VA vậy?’
Bush quay ra cười sằng sặc với Bin: ‘Ông thấy không, cái bọn Việt Nam này bây giờ nó chỉ quan tâm đến con VA thôi, chứ còn 80.000 dân kia có chết nó cũng mặc kệ.’
@ Thông báo gửi tới toàn bộ các trường tiểu học: Do ảnh hưởng của “vụ Vàng Anh" nên chỉ thị cho các trường thay đổi cốt truyện “Tấm Cám”: “Tấm chết đi biến thành chim vàng anh” nay đổi thành "Tấm chết đi biến thành chim vành khuyên" để tránh mang lại những ảnh hưởng tiêu cực tới học sinh. Bộ trưởng Nguyễn Thiện Nhân.
Theo lý giải của giáo sư Wiseman, câu chuyện đoạt giải đấy đã bao chứa 3 yếu tố tạo nên lối đùa tếu, bỡn cợt thú vị: sự xao xuyến lăn tăn (anxiety), cảm giác ở thế thượng phong và thành phần ngạc nhiên.
Điều thực sự làm tôi quan tâm qua hai mẩu chuyện liên quan đến Vàng Anh dẫn trên là màu sắc gây hấn và cái ác lấp ló đằng sau mức độ xỏ xiên tinh vi, liên tưởng sắc sảo.
Vậy, đâu là tâm lý của chuyện hài mang chất bạo lực?
Kết quả nghiên cứu, chỉ ra mấy nét cơ bản sau:
- Xét từ góc độ giảm thiểu cảm xúc-- dưới cái nhìn Phân tâm học--, nguyên do chúng ta cười cợt là nhằm tìm lối thoát cho những tình cảm bị cấm đoán diễn đạt trực tiếp.
- Mặt khác, chúng ta cũng thấy rõ sự khác biệt giới tính (đàn ông dễ tìm thấy các câu chuyện cười mang tính bạo lực hơn so với phụ nữ).
- Ngoài ra, cũng cần phải kể đến phản ứng của nạn nhân (nếu nạn nhân phản ứng theo một cách thức không như mong đợi thì tất yếu sẽ gây cười).
- Và phụ thuộc vào trải nghiệm cá nhân nữa (nếu chúng ta từng kinh qua sự bạo lực trong đời, thì chuyện dễ khiến ta cười.)
Lý thuyết hài hước, vui đùa thực sự còn có thể được giới thiệu khá ngắn gọn, dễ thương như sau:
1. Các kích thích làm nảy sinh sơ đồ nhận thức (schema) về nó.
2. Sơ đồ nhận thức giúp ta diễn giải sự kiện và thiết lập những sự mong đợi sẽ có thể xảy đến.
3. Thông tin mới được trình bày là nguyên nhân tạo nên việc diễn giải lại.
4. Việc diễn giải lại gây cười, nếu điều gì đó bị thu hẹp, giảm bớt, khiến cho nó nhỏ nhặt hơn.
Cũng có 4 con bài tẩy khác cho thấy cách thức khiến điều gì đó gây cười:
5. Hoặc là người ta nghĩ rằng nó buồn cười, hoặc họ làm cho nó trở nên buồn cười hơn.
6. Không đặt thành vấn đề các động cơ hài hước (diễn viên hài/ kẻ hề thực sự phân biệt chủng tộc, kỳ thị giới tính, ám sợ đồng tính luyến ái?)
7. Thời gian để thấu hiểu sự hài hước (biểu đồ hình chữ U lộn ngược về thời gian X gây cười có thể giải thích điều này).
8. Những sự hiểu biết, kiến thức, quan sát phức tạp (bất cứ điều gì đưa ta tới tình huống: trải nghiệm cá nhân, tính cách độc đáo, luân phiên diễn dịch lại,...)
Rốt cục, cố công tìm tòi, giới thiệu mấy đi nữa thì điều đúng đắn nhất là: chẳng có chuyện gì ít khả năng gây cười hơn việc người ta thảo luận tại sao điều gì đó lại buồn cười đến thế.
Nhìn một điều hài hước qua lăng kính khoa học xem chừng mỗi lúc sẽ làm giảm độ buồn cười.
Dĩ nhiên, nhận định vừa nêu là buồn cười, vì blog Cái tôi đang gắng thu hẹp, giảm bớt cái ngố đó (bị quê độ, bẽ mặt).
Phân loại: Đạo đức, Hài hước, Phân tâm học, Sex, Tâm lý học Dân tộc, Tâm lý học Giáo dục, Tơ tưởng J.
Trích từ một cuộc tư vấn trực tuyến: Để có một trái tim mạnh khỏe
Và đoạn mở đầu cho bài viết về sự nguy hại của chuyện phủ nhận, chối bỏ:* Tôi hiện đang học tại trung tâm tin học nước ngoài và chương trình học rất nhiều, cho nên tôi tiếp xúc nhiều với máy tính và cũng không quan tâm nhiều đến sức khỏe. Vậy thì tôi mong bác sĩ Đào Thị Yến Nhi có thể cho tôi câu trả lời để tôi có thể dễ dàng trong công việc học của mình. Tôi xin chân thành cảm ơn những đóng góp trả lời của bác sĩ! (kiên, 22 tuổi, Nam, tổ 19 phần lăng hoà khê thanh khê đà nẵng, sinh viên)
- Bác sĩ, thạc sĩ Đào Thị Yến Phi: Trước hết có lẽ bạn cần phải tập thói quen quan tâm đến sức khỏe của mình trước khi quan tâm đến sức khỏe của máy tính! Cần phân bố các bữa ăn trong ngày đều đặn mỗi 3-4 giờ, tối đa là 6 giờ phải có một bữa ăn, ăn đủ các nhóm thức ăn cần thiết như bột, đạm, rau, chất béo... Tập thể dục thể thao ít nhất 1 giờ mỗi ngày, tránh lạm dụng cà phê, thuốc lá, thức uống có cồn... Mỗi ngày thêm ít nhất 500ml sữa, và ngủ đủ 7-8 giờ.
Theo Từ điển Bách khoa Toàn thư Anh quốc thì chối bỏ, phủ nhận là sự khước từ có ý thức để tri nhận rằng các sự kiện đau lòng vẫn còn hiện hữu.Tức giận, sợ hãi, và trầm cảm có thể thúc đẩy nhanh diễn biến bệnh tim, như nhiều nhà khoa học đã biết lâu nay. Vấn đề là, theo nghiên cứu, người mắc một số trục trặc liên quan đến bệnh tim mạch thường chối bỏ, phủ nhận việc mình cảm thấy tồi tệ-- sẽ để lại một số hậu quả nghiêm trọng cho sức khỏe của chính họ.
Đó là bức bình phong trung tâm tạm thời che chắn trong chốc lát. Cơ chế phòng vệ rất người và luôn hiện hữu này thực sự thừa mứa khả năng phục vụ cho một số mục đích lợi ích, hướng đến một vấn đề nhất định. Nó bảo vệ chúng ta và dành lấy thời gian xem chừng là quan yếu, thậm chí cần thiết nữa.
Cơ chế phòng vệ này còn gợi nhắc chúng ta dấu hiệu từng trông thấy vẽ nguệch ngoạc đâu đó trên tường, hay trong sách vở; đại khái kiểu như: "Nhân vô thập toàn", hoặc "Đã là người, thường mấy ai chẳng đổ lỗi trách nhiệm mình làm cho tha nhân".
Song thực tế chứng tỏ rõ ràng, cả hai hành động này-- chối bỏ và đổ lỗi-- chỉ đóng vai trò tàn phá sức khỏe, các mối quan hệ của chính cuộc đời ta mà thôi.Vì thế có lẽ, nên nghe lời nhắn nhủ của S. Freud chăng: "Hoàn toàn thành thật với bản thân là một bài tập thể dục tốt"?
Phân loại: Cơ chế phòng vệ, Kỹ năng sống, Nghiên cứu, Phân tâm học, Tâm bệnh học, Thời sự
[Bạn có thấy đứa bé nào trong tấm hình này không?]
Nghe ca sĩ Mỹ Linh hát Em mơ về anh thật da diết...
Trên tờ The New York Times, giới thiệu cái nhìn liên kết giữa nội dung các giấc mơ với việc mất mát người thân yêu hay những sự kiện trong đời thường bấy lâu khiến ta bất an, mất ăn mất ngủ.
Giải mộng là một từ vô cùng quyến rũ, đặc biệt khi bên lề đường bày bán la liệt các loại sách, báo gắng đáp ứng nhu cầu háo hức của quảng đại quần chúng muốn tìm hiểu khoảng mơ hồ vô thức- bằng hình thức diễn giải xem chừng dễ chấp nhận một cách cơ bản (chẳng hạn, mơ thấy quả chanh: "tình yêu không được đáp lại"); dưới góc độ học thuật, đa phần vì tầm quan trọng của nó trong lịch sử tâm lý trị liệu Phân tâm học.
Điều này hàm ý rằng, nghiên cứu về nội dung các giấc mơ có vẻ không hợp thời và đơn giản lắm, dù thực tế nó vẫn còn là chủ đề khoa học thú vị và tiếp tục thu hút mối quan tâm của những ai hành nghề lâm sàng.
Các nhà tâm lý trị liệu ngày nay thi thoảng thảo luận về các giấc mơ, song họ thường cố tránh cách tiếp cận nghiêm ngặt, cứng nhắc của S. Freud trong quyết tâm "giải mã" chúng. Thay vào đó, giới chuyên môn tìm kiếm ý nghĩa gắn bó với những mối quan tâm đời thực.
Ví dụ, nếu bạn cực kỳ cảm thấy bị quấy nhiễu bởi các giấc mơ về công việc thì đây có thể là dịp để bạn xem xét lại cách thức đối phó với công việc đang khiến bạn căng thẳng tinh thần cao độ, nhất là khi bạn cảm thấy sửng sốt với chính giấc mơ của mình.
Bài báo nêu trên tập trung tìm hiểu về các "giấc mơ lớn"- thuật ngữ của Carl Jung; với bản chất sâu xa, các giấc mơ lớn thường xoay quanh sự chết chóc hoặc những mất mát trọng yếu, và chúng khiến người ta rung động mãnh liệt trong quãng đời còn lại.
Theo lời chuyên gia, "giấc mơ lớn" là sự chuyển dịch (transformative); tưởng tượng trong mơ không chỉ bao gồm các hình ảnh thu hoạch từ hoài niệm đáng nhớ mà nó còn thể hiện chất "sáng tạo thi ca" nối kết nhiều sự kiện trong đời qua cách chấm phá và nhào trộn kỳ lạ, làm phân tán vô vàn xúc cảm và ký ức thành những nét trải nghiệm sống động góp phần giúp chúng ta suy xét lại đời mình.
Một nghiên cứu đăng trên The Psychologist nhắc nhở rằng, các ý tưởng làm biến đổi thế giới đôi khi có vẻ xuất hiện khi ngủ hoặc mơ.
Bài báo xem xét nguồn linh hứng (inspiration) của giấc ngủ từng tạo nên mọi thứ, từ việc thiết kế chiếc máy khâu cho đến lý thuyết tương đối.
Ngoài ra, nghiên cứu do tờ Nature xuất bản vào 2004 đã khẳng định, giấc ngủ có thể thực sự hỗ trợ cho việc giải quyết vấn đề.
... Rõ ràng, câu chuyện bừng sáng nội tâm trong ngủ nghê và mộng mị chắc chưa thể giải quyết rốt ráo một sớm một chiều.
Cá nhân tôi, thi thoảng vẫn nằm mơ thấy má mình- đã mất hơn 10 năm đây- với mật độ khá dày, đôi khi gần hết cả tuần.
Vớ được một cuốn sách giải mộng phổ thông của phương Tây, tôi được biết là chiêm bao thấy đang sống với má, nếu má đã mất là hạnh phúc được đảm bảo (nếu má đang còn sống mà thấy chết là bị thiệt hại trong công việc, hao tài).
Điều ấn tượng là, khi lật tới trang cuối (vần Y) của cuốn sách mỏng chưa đầy 200 trang ấy, có đoạn này:
"Chiêm bao thấy yêu người khác phái là bị phản bội về tình yêu. Thấy yêu tha thiết một người mà luôn luôn bị người ấy ruồng rẫy là tình yêu có kết quả, hôn nhân sắp thành. Thấy bị người yêu xỉ mạ là được người thầm mơ ước trở thành chồng vợ với mình mà không dám thổ lộ cho mình biết. Thấy mình xỉ vả một người khác phái, là mê mệt theo đuổi người mà không được người đáp lại."
Cuốn sách không quên chua thêm: "(số hạp 053.)"
Bạn có nằm mơ và tin vào các cách giải mộng hay không, thì tuỳ; tôi phải dừng, bởi ít phút nữa là sang ngày mới rồi!
Phân loại: Âm nhạc, Giấc ngủ, Hài hước, Nghiên cứu, Phân tâm học, Sức khỏe tâm thần, Tác giả và tác phẩm, Tâm bệnh học
(Không chỉ là những lá thư...)
Bao giờ thức dậyDài dòng chi cho thêm rắc rối, bài thơ cổ Triều Tiên được chép lại đàng hoàng trên trang đầu của cuốn sách tuyển một số bức thư tình hay nhất thế giới.
Bức thư người yêu tôi cũng thấy
Tôi đã đọc hàng trăm lần
Lần nào đọc xong cũng ôm vào ngực
Tờ giấy nhẹ mà sao đè lên tim tôi nặng thế.
Tự đắc chí thầm khen mình thế là tao nhã, tương đối xứng hợp nội dung- hình thức, "ý tại ngôn ngoại" rồi.
Cô hàng xóm qua chơi, ỡm ờ mượn sách đọc gần cả tháng trời mới trả lại, kèm nụ cười ẩn ý. Phe ta vội vàng lên gác, hí hửng lật cẩn thận từng tờ xem có kèm dấu ghi chú, bôi đen gạch dưới, hay nhắn gửi xa gần chi không; giời ạ, mỏi mắt mỏi tay mới tìm thấy mỗi một chữ bằng bút bic xanh mở ngoặc đóng ngoặc ở dòng thơ cuối xơ vơ lất bất: (Xạo)!
Miếng ngon nhớ lâu, đòn đau nhớ đời. Đã vậy, đây tự viết hẳn hoi; chẳng thèm nhờ vả danh nhân, khanh tướng công hầu,... quên tuốt luốt mọi lời thi sĩ, triết gia bay bướm, hình ảnh mỹ miều, so sánh ví von ngượng mồm đỏ mặt, bặt tiếng ca khi chưa kịp hót:
Em đã dạy anh, biết thương đôi làn mi phủ mưa vào một chiều mây tạnh- Sao bây giờ, em không dạy anh quên đi cái nhìn ảo ảnh?
Dĩ nhiên, đó là viết cho một đối tượng khác. Và theo thời gian, lại tìm thấy người mới để sinh thành những dòng thư đong đưa, cưa cẩm,…
Cũng đã kịp nhận đôi lần tình cảm yêu thương kiểu như: …Anh có biết em đang mong ước gì lúc này không? Được ở trong vòng tay của anh, được thể hiện tình yêu thật sự của mình mà bấy lâu nay em kìm nén, né tránh và lừa dối. Em yêu anh.
Mọi sự đều có thể xảy ra và thay đổi, không phải lúc nào cũng thư đi tin lại như thuyền kia thuận buồm xuôi gió.
Thực tế, thư lắm lúc chỉ là vài dòng vu vơ, ngầm dặn nhau thuở trường phổ thông để ở học bàn với kiểu mã hoá bằng số rắc rối không dễ giải- trừ người trong cuộc; mấy dòng thơ viết trên mảnh giấy bé tí tẹo mà đủ trở thành cảm hứng để ai đó làm đề tài Luận văn tốt nghiệp Đại học; gần chục trang mực tím chữ to rõ ràng, đôi tờ ướt nhòe vì viết gần cửa sổ lúc trời mưa chăng; thư điện tử chớp nhoáng nhớ nhung băng qua nhau trên lưới điểm toàn cầu; tin nhắn điện thoại không dấu,…
Và có cả những lá thư trễ hẹn, mãi mãi không gửi được nữa:
Ừ thì xấu hổ mà rơi- Lạy em tình ý đất trời có khi- Sự đời người dạy vô vi- Giận mình mụ mị nên chi cười ruồi.
Phân loại: Đầu tuần một từ, Kỹ năng sống, Ngôn ngữ, Phân tâm học, Phụ nữ, Quan hệ
Nếu vừa xem film Cớm đen xong, tức Edison (2005) hiện đang trình chiếu tại các rạp ở Hà Nội, bạn sẽ biết ngay rằng các câu hỏi được nêu lên đúng lúc đóng vai trò quan trọng như thế nào trong sự phát triển tình tiết cốt truyện, cũng như khó bỏ qua lời kết của bộ film đã nhắc đến giá trị của câu hỏi vẫn còn giấu kín.
Từ góc độ trị liệu tâm lý, việc hỏi cũng luôn trở thành vấn đề kỹ thuật cực kỳ thiết yếu, trực tiếp góp phần bộc lộ trình độ chuyên môn và kinh nghiệm nghề nghiệp; nói cách khác, cứ xem sự lóng nga lóng ngóng và bối rối ghê gớm của kẻ tay mơ trước vô vàn thắc mắc dồn dập của thân chủ, giới quan sát có thể hình dung thật sống động tình huống gần như tê liệt hoàn toàn, thực sự ngớ cả người ra này.
Dù đây là đề tài rất ít được quan tâm tìm hiểu, song cũng đã có nghiên cứu chứng tỏ điều đó được thể hiện ra sao trong trị liệu tâm lý. Bởi thực tế, các câu hỏi của thân chủ luôn làm khởi phát một mức độ lo lắng nhất định cho nhà trị liệu; gì gì, nó khiến nhà trị liệu buộc phải tập trung để đáp ứng thích đáng.
Điều thú vị mà đôi khi nhà trị liệu quên bẵng là, những câu hỏi-- bất ngờ hoặc có thể dự đoán trước- của thân chủ minh chứng hùng hồn cho việc tại sao tồn tại mối quan hệ này: thân chủ có mặt ở đây là để nói về chính bản thân họ.
Trong chương bàn về cách phân tích sự chuyển dịch (transperence) của cuốn sách này cũng đề cập đến một số câu hỏi thân chủ vốn hay thể hiện, bộc bạch.
Dĩ nhiên, một trong những nguyên tắc thông thường là một khi đã hỏi thì cần được trả lời; do đó, nếu không vượt quá ranh giới nghề nghiệp, các nhà trị liệu luôn cố gắng thỏa mãn thắc mắc của thân chủ.
Hàm ý đáng chú ý ở đây: thân chủ có thể hỏi vì rất nhiều lý do khác nhau; việc đáp ứng rốt ráo ra sẽ cực kỳ khó khăn, nếu nhà trị liệu mới tiếp xúc với thân chủ chưa nhiều, không thực sự nắm bắt bối cảnh và chẳng thể đoán nổi cái đã dẫn dắt, làm nảy sinh câu hỏi,...
Chưa nói, liệu thân chủ có đủ cảm thấy an toàn để khám phá những nỗi sợ ẩn sâu bên dưới các câu hỏi?
Nhà trị liệu hiểu biết đến đâu phong cách hài hước, lối nghĩ cách nhìn trong cách đặt câu hỏi của thân chủ để từ đó đáp ứng ngày càng thích đáng và hiệu quả hơn?
Thực tế, các chuyên gia trị liệu chia sẻ về việc hỏi dựa trên nghệ thuật hơn là khoa học trong tiến trình thực hành cụ thể vào những giai đoạn đầu trị liệu; rất nhiều khi, giải pháp tốt nhất là làm điều đó với sự ước chừng và đặt cược.
Vậy, những câu hỏi nào thân chủ thường đặt ra?
@ Thân chủ có thể đơn giản cần thông tin.
@ Thân chủ có thể không muốn tập trung tiêu điểu vào bản thân họ. Câu hỏi vì thế, như là sự phòng vệ chống lại xúc cảm và nỗi sợ hãi.
@ Thông qua câu hỏi, thân chủ đang dự tính thỏa mãn một nhu cầu.
@ Thân chủ có thể đang muốn cân bằng hoặc thay đổi bản chất của mối quan hệ giữa họ với nhà trị liệu.
Feldman, tác giả bài báo dẫn từ đầu (dù theo trường phái Phân tâm học, song nó cũng thích hợp với bất kỳ kiểu trị liệu nào), còn chỉ ra sự khác biệt của những câu hỏi xuất hiện lúc mới bước vào trị liệu và ý định kéo dài thêm tiến trình trị liệu của thân chủ.
Như vậy, đặt câu hỏi và trả lời chúng trong tiến trình trị liệu liên quan sâu sắc đến mối quan hệ giữa nhà trị liệu và thân chủ.
Chắc chắn, blog Cái Tôi sẽ tiếp tục đề tài thú vị này ở một số entry khác nữa.
Ở đây, xin minh họa nguyên tắc "trả lời câu hỏi bằng câu hỏi", qua đoạn trò chuyện rất ngắn sau:
Hai người đang đi cùng nhau dọc hành lang. Một người quay qua hỏi người kia: "... và anh làm gì để sống?". Người kia phản hồi: "Điều gì khiến anh hỏi thế?" "A, tôi biết ngay anh là một nhà tâm lý học!"-- người thứ nhất đáp.
Phân loại: Đầu tuần một từ, Đọc sách, Film, Nghiên cứu, Phân tâm học, Tâm lý trị liệu, Tham vấn Tâm lý, Thời sự
Thư điện tử mới đây của một sinh viên năm thứ 4 đề nghị chia sẻ thêm thông tin về cách lý giải và tính điểm test phóng chiếu quen thuộc là TAT khiến tôi nhớ ngay đến một bài báo vừa đọc được chưa lâu.
Sử dụng test dựa vào kỹ thuật phóng chiếu nêu trên, tác giả Phebe Cramer đã tiến hành một nghiên cứu (longitudinal study) về sự biến đổi của các cơ chế phòng vệ (defence mechanisms) từ trẻ em đến người trưởng thành.
Bắt đầu từ năm 1928 và nằm trong dự án Berkeley Guidance Study, 71 đối tượng tham gia hoàn thành TAT khi họ đã 12, rồi lên 16 và đến 18 tuổi.
Kết luận quan trọng rút ra: trên tiến trình phát triển từ độ tuổi vị thành niên bước sang giai đoạn trưởng thành, người đời ngày càng ít dựa vào sự chối bỏ (denial)-- lờ đi những ý nghĩ đang quấy quả mình--; thay vào đấy, chúng ta sử dụng thường xuyên hơn sự phóng chiếu (projection)-- đổ tội cho kẻ khác về lắm thứ đang khiến mình lo âu, phiền muộn-- và đồng nhất hoá (identification)-- xu hướng hoá thân thành ai đó mình ngưỡng mộ, khâm phục.
Các cơ chế phòng vệ cơ bản này được quy nạp qua toàn bộ câu chuyện đối tượng tham gia test kể trong khi làm TAT.
Tác giả Cramer còn phát hiện thấy, những ai ở tuổi 18 sử dụng nhiều sự đồng nhất hoá hơn thì có liên quan với chỉ số IQ cao hơn.
Và mặc dù càng lớn người ta càng tỏ ra thích phóng chiếu và đồng nhất hoá hơn song, chính ở độ tuổi trưởng thành này cũng nảy sinh hiện tượng khôi phục, tái diễn lại sự chối bỏ; theo ý Cramer, dường như nó phản ánh "niềm tin của người thanh niên trẻ rằng, cô ấy có quyền năng tạo nên một môi trường phù hợp với những ước muốn của bản thân."
Tuy vậy, nghiên cứu trên lại không chứng thực được việc đối tượng tham gia ở tuổi 18 hay giữ thói quen đồng nhất hoá hơn là phóng chiếu-- mà một số nghiên cứu gần đây khẳng định.
Giải thích điều này, Cramer nghĩ đến sự tác động của các yếu tố văn hoá- xã hội: người 18 tuổi ở thời điểm 1946- chỉ mới một năm sau Chiến tranh Thế giới lần thứ hai-- có vẻ ít thời gian để "khám phá các con đường khác nhau trong sự phát triển và định hình bản sắc (identity)."
Blog Cái Tôi sẽ tiếp tục giới thiệu TAT và các cơ chế phòng vệ kỹ càng hơn vào một dịp khác; ở đây, chỉ xin lưu ý rằng, khái niệm "cơ chế phòng vệ" hàm ý trả lời cho cả hai câu hỏi phòng vệ chống lại điều gì? và phòng vệ vì cái chi?.
TAT (Thematic Apperception Test) của H.A. Murray và các đồng nghiệp khác (1938) yêu cầu người tham gia kể một câu chuyện từ mỗi tấm trong tổng số 20 bức tranh đặt trước mặt-- những diễn biến đang xảy ra, điều chi dẫn đến hoàn cảnh ấy, và rồi nó có thể đưa tới kết cục, hậu quả gì.
Thiết kế và cấu trúc của TAT đòi hỏi chuyên gia khi diễn giải test bắt buộc phải tích hợp thông tin về các khía cạnh trí năng (intelectual powers), xung đột cảm xúc (emotional conflicts) và cơ chế phòng vệ (defense mechanisms).
Phân loại: Cơ chế phòng vệ, Nghiên cứu, Phân tâm học, TAT, Tâm bệnh học, Test
Theo bà Anna Levy-- nhà phân tâm học người Pháp-- thì nguyên tắc cơ bản trong trị liệu theo đường lối phân tâm (la psychanalyse) cốt ở chỗ nói ra điều như là chợt đến trong đầu (consiste à dire ce qui passe par la tête, "comme cela vient"), bất kể nó mang vẻ nhỏ mọn hay xung hấn.
Hơn nữa, nhà phân tâm (l'analyste) có nhiệm vụ phải từng bước xây dựng sự chân tình (la confiance).
Theo bà Levy, nhà phân tâm cần nhận thức được rằng, mục đích của trị liệu phân tâm là hiểu biết (le connaitre est le but de l'analytique) bệnh nhân (le patient) một cách sâu sắc như người ta bóc tách củ hành (comme si l'on épluchait une onion, couche par couche).
Nói chung, theo bà Levy, công việc phân tâm nhằm xây dựng một hình ảnh thực tế bên ngoài phù hợp với điều mà bệnh nhân cảm nhận (le travail analytique aide à construire une image de la réalité externe plus comforme à ce qui est ressenti).
Cũng là một nhà phân tâm đương đại (từng được các nhà phân tâm học danh tiếng như Victor Frankl, Knut Baumgarten và Igor Caruso huấn luyện), tiến sĩ Norberto R. Keppe người Brazil chỉ rõ nguyên nhân chính của ốm đau, bệnh tật là vì thiếu vắng nhận thức (the main characterristic of illness is lack of awareness).
Với ông, tìm hiểu vô thức theo quan niệm môn đệ của Freud gợi ý đến sự kiểm duyệt (The Freudian unconscious should be referred to as censorship); rằng bệnh học được bộc lộ qua cả hai con đường: phóng chiếu đồng nhất hoá và phóng chiếu lý tưởng hoá (Pathology is revealed both projective identification and projective idealization),...
Dưới đây trích đoạn một trong những cái nhìn của phân tâm học về nguồn gốc của bệnh tật, mà tác giả đúc rút qua 30 năm nghiên cứu lâm sàng.
Theo Keppe, chúng ta cơ bản bắt chước hành vi của bố mẹ mình-- lành mạnh hoặc có hại cho sức khoẻ-- phụ thuộc vào những gì thích hợp với các mối quan tâm của bản thân.
Bệnh nhân: Bố mẹ tôi đoạn đời sau này mới ổn định tình cảm, vững tinh thần (well-balance) hơn nhiều; thực sự người quân bình tốt nhất là anh cả tôi-- được sinh ra khi bố mẹ tôi ở vào thời điểm cực kỳ tồi tệ.
Nhà phân tâm: Như thế, anh ấy không tập nhiễm bệnh lý của bố mẹ. Phần lành mạnh (healthy part) trong nhân cách anh ấy trở thành yếu tố nổi trội.
Keppe quan niệm: với việc chối bỏ (deny), quên lãng (omit) hay xuyên tạc (distort) sự tử tế, nhân hậu (goodness) , chúng ta đã hành xử theo cách chống đối lại thực tế đời sống-- quan điểm đảo ngược, thấy những điều bên ngoài là tốt đẹp và xem thường, làm mất giá trị của các phẩm chất nội tâm.
Bệnh nhân: Khi học Trường Âm nhạc Kịch nghệ Boston, tôi là một sinh viên có hạnh kiểm kém nhất lớp-- đến độ phải bỏ học. Ở New York, tôi đến lớp nghiêm túc hơn và rồi mấy ngón tay này bắt đầu sinh chuỵện.
Nhà phân tâm: Vậy, trong cả hai trường hợp, anh đã không muốn học hành để làm một nhà nghệ sĩ thực thụ.
Bệnh nhân: Đó có phải là lý do khiến tôi chẳng thể thành công tẹo nào?
Nhà phân tâm: Sự thật là ngay từ lúc khởi sự anh đã cự tuyệt (reject) với đường hướng phát triển của bản thân, bắt đầu từ việc vào trường Âm nhạc.
Khi nhà phân tâm học Melanie Klein lưu ý chúng ta về nhu cầu chấp nhận bầu vú mẹ trong độ tuổi ấu thơ, điều đó không hoàn toàn mang nghĩa giải thích cho thái độ của con người có thể hình thành về sau.
Thực sự, Klein muốn nhấn mạnh rằng, hành vi của đứa trẻ là một trong những sự chấp thuận (acceptance) diễn ra suốt thời thơ ấu, mà tự thân hành vi ấy là dấu hiệu của một tiến trình thèm muốn, ganh tỵ (envy) đảo ngược trong đứa trẻ quá mạnh mẽ ngay từ khi mới sinh ra.
Bệnh nhân: Tôi không nghĩ là tôi muốn đời mình tồi tệ; nhưng nếu không thừa nhận lòng nhân hậu, tử tế thì tôi có thể mong đợi điều gì khác?
Nhà phân tâm: Nếu anh không thừa nhận điều tốt, thì rồi anh sẽ tự động kết thúc bằng điều xấu; bởi vì, điều xấu chỉ là sự chối bỏ điều tốt mà anh không chịu chấp nhận trước đây mà thôi.
Keppe cho rằng, dù gì đi nữa, bởi vì sự thèm muốn, ganh tỵ, cảm nhận đảo lộn giá trị, nên chúng ta bất mãn, bị quấy rầy bởi điều tốt chứ không phải bởi điều xấu-- vì bị quấy rầy, bất mãn bởi bất cứ chuyện xấu xa nào là một điều tốt.
Sống cùng niềm phấn khích, khoái lạc với điều tốt chính là trạng thái thoải mái và tự nhiên, bởi vì lòng nhân hậu, tử tế tự nó đem lại sự thích thú, vui vẻ (goodness is inherently pleasant).
Phân loại: Đọc sách, Kỹ năng sống, Phân tâm học, Tâm lý trị liệu
Kết quả nghiên cứu cho thấy, ít nhất thì trong test phóng chiếu -nhân cách Rorschach cũng đã bộc lộ 3 phụ thuộc cơ bản định hướng Phân tâm học.
-Thứ nhất, sự phân mảnh của vết mực Rorschach minh họa cho việc khái niệm hoá mang tính phân tâm học về tiến trình đáp ứng;
-thứ hai, về các tiến trình tư duy nằm bên dưới các đáp ứng, trả lời test Rorschach: lý thuyết phân tích tâm lý của Freud liên quan đến tổ chức cũng như sự phát triển cái tôi và tâm bệnh học được bộc lộ trong cấu trúc của trí nhớ, thiết lập khái niệm, tri giác và nhiều tiến trình tâm thần khác;
- thứ ba, về cái gọi là "tình huống Rorschach" và những đáp ứng Rorschach chủ yếu như hình thể, màu sắc và vận động: quan hệ qua lại giữa các khía cạnh hình thể và nội dung trong những đáp ứng Rorschach chẳng hạn,...
Các nhà tâm lý học lâm sàng ngày càng quan tâm đến việc diễn dịch mang tính biểu tượng của những đáp ứng ở test Rorschach; nhiều nghiên cứu cũng đã phân tích chủ đề diễn dịch, về những động thái cơ bản của tình huống test Rorchach và mối quan hệ tương tác giữa nghiệm viên và đương sự; về thực tế, xung đột và phòng vệ trong tình huống trắc nghiệm; sự duy lý trong các hiện tượng nhận thức và tưởng tượng của việc đáp ứng Rorschach có liên quan sâu xa với cách Freud phân tích giấc mơ và tâm lý học sáng tạo của Kris.
Rất nhiều nghiên cứu tập trung vào các khía cạnh phòng vệ của sự đáp ứng Rorschach: nội dung đáp ứng của đương sự, mối quan hệ mà đương sự thiết lập với nghiệm viên, thái độ của anh ta tác động đến cách trả lời, cũng như những thành phần: đáp ứng toàn bộ W; đáp ứng chi tiết, bộ phận D; hình thể F; vận động M và các điểm số chính thức khác.
Nói chung, có hàng tá cách ghi điểm cơ bản trong test Rorschach, được quy vào 3 loại: định khu/ location, những hình thể nổi bật/ determinants và nội dung/ content.
[Lee J. Cronbach. (1960) (2nd edn). Essentials of Psychological Testing.New York: Harper & Brothers, pp.562-566]
Để đánh giá đúng đắn sự diễn dịch trong test Rorschach, người ta đề nghị 6 tiêu chuẩn chính:
(a) đầy đủ bằng chứng, sự kiện;
(b) chiều sâu của diễn dịch tương thích với cứ liệu;
(c) sự khác biệt của các dạng thức thiết lập khuynh hướng
diễn dịch;
(d) vị trí thứ bậc trong tổng thể bức tranh nhân cách phải gắn kết với chiều kích diễn dịch;
(e) các khía cạnh thích nghi và bệnh lý của xu thế diễn dịch là chuyên biệt.
[Roy Schafer. (1954). Psychoanalytic Interpretation in Rorschach Testing: Theory and Application. New York: Grune & Stratton, pp. 140-159].
Các nhà nghiên cứu nêu ra một số yếu tố tâm lý cơ bản trong cấu trúc của test Rorschach:
- Sự vận hành của tư duy, trí năng;
- Thế giới tưởng tượng;
- Các trải nghiệm cảm xúc;
- Sự gây sốc của màu và đen-xám;
- Nội dung liên tưởng;
- Các ý nghĩa và khía cạnh khác nhau của các trả lời, đáp ứng;
- Những thành tố của hành vi;
- Kiểu hình kinh nghiệm,...
[Samuel J. Beck. (1949). Rorschach's Test. (vol.II): A Variety of Personality Pictures. New York: Grune & Stratton, pp.10-62]
Chính trên cơ sở Phân tâm học mà một số vết mực Rorschach đã được gọi tên; ví dụ: h.IV là người cha; h.VI: tính dục; h.VII và h.IX: người mẹ; h.IV, VI, VIII: phái tính nam; h.II, V, VII, IX: phái tính nữ,...
Nhìn chung, có thể nói rằng, phương pháp Rorschach là một công cụ nghiên cứu định hướng nhiều đến động cơ muốn giải thích, ở các mức độ khác nhau, về hoạt động và sự tương tác trong thành phần nhân cách; những sự giới hạn của test Rorschach vẫn còn chưa được đề cập đầy đủ.
Phân loại: Nghiên cứu, Phân tâm học, Test
Rất nhiều nhà tâm lý lâm sàng lừng danh đã sử dụng trắc nghiệm vết mực Rorschach/ Rorschach Inkblot Test để khám phá những diễn tiến không thể ngờ tới trong tâm tưởng.
Mặc dù vậy, dư luận vẫn chưa từ bỏ nghi vấn rằng, phải chăng test Rorschach chỉ thực sự là biến thể của thuật chiêm tinh và phép bói bài?
Giới chuyên môn cho là không có trắc nghiệm nhân cách nào chuẩn mực hơn test do nhà tâm thần học Thụy Sĩ Hermann Rorschach tạo ra (tham khảo ở đây).
Vào năm 1917, Rorschach đưa ra ý tưởng sử dụng một tập hợp 10 giọt mực trừu tượng, đối xứng để tìm hiểu xem người ta nhìn thấy những gì.
Với sự mơ hồ của chúng, Rorschach tin là mình đã tạo nên một "môi trường chân không tri giác" chảy vào các khuynh hướng nội tâm của đối tượng trắc nghiệm.
Không chỉ những gì họ thấy (những hình ảnh không lành mạnh, bất thường chẳng hạn), test còn chỉ ra cả cách thức nhìn nhận như thế nào, dù cho người ta bộc lộ cảm xúc hay hướng về màu sắc thông qua hình thể ưa thích; những phản ảnh này làm nổi bật lên phương thức nhận hiểu của đương sự, và qua đó, cho biết họ là ai.
Theo Rorschach, trắc nghiệm này không những chẩn đoán các bệnh tâm thần mà còn cung cấp một bản đồ chi tiết về "vô số sắc thái khác nhau của nhân cách".
Tại Hoa Kỳ, tuy test Rorschach lan toả rộng khắp, song vào thập niên 1960, nó đã bị chỉ trích bởi thiếu sự hỗ trợ về mặt thống kê.
Giới chuyên môn góp phần bổ sung, chuẩn hoá bộ test thú vị và hiệu quả này. Ngày nay, test Rorschach có cơ nằm lặng lẽ ở dòng chú thích cuối trang nếu nhà tâm lý học lừng danh John Exner, vào năm 1974, không giới thiệu một phiên bản hiện đại thông dụng nhất dưới dạng một hệ thống tính điểm ma trận cho trắc nghiệm mang tên Hệ thống nhận hiểu/ Comprehensive System.
Trắc nghiệm này chứa hơn 140 thành tố, gồm một chỉ mục trầm cảm/ Depression Index, một chỉ mục tính vị kỷ quá đáng/ Egocentricity Index và một thang đo tỷ lệ khát vọng/ Aspirational Ratio. Tất cả các nhà nghiên cứu về Rorschach đều tín nhiệm với bộ test của Exner.
Trong bối cảnh pháp lý và lâm sàng trị liệu, các chứng lý từ test Rorschach vẫn còn tỏ ra uy quyền; hệ quả là, nó có thể làm người ta tan hoang cuộc đời hay phải trả chi phí hàng triệu dollars bởi sự thống trị nguy hiểm ngụy khoa học.
Xử lý dữ liệu của hơn 30 công trình nghiên cứu về Rorschach, người ta thấy trắc nghiệm này đã bộc lộ rõ rệt khuynh hướng gán nhãn bệnh tâm thần cho người bình thường.
Người ta đã tìm thấy những kết quả trái ngược nhau liên quan đến hiệu lực của test Rorschach. Một nghiên cứu sớm nhất của Rogers, Knauss, & Hammond (1951) chỉ ra kết quả tiêu cực về cách tính điểm số; Kotkov & Meadow (1953) lại nhận thấy một số gắn kết của ba chỉ số Rorschach (hình thể và màu sắc FC-CF, số lượng câu trả lời R và tỷ lệ hình chi tiết D%) trong quan hệ với trị liệu nhóm, những bệnh nhân giảm thiểu có ý nghĩa trong trị liệu cá nhân sau khi tham gia ít nhất 9 lần nữa.
[Bergin, Allen E., Garfield, Sol L. (1971). Handbook of Psychotherapy and Behavior Change: An Empirical Analysis. John Wiley & Sons, Inc; pp. 279-280].
Từ góc nhìn khác, nhà tâm lý học David Medoff, một trong những người xiển dương, lại cho rằng test Rorschach là thủ tục thông dụng nhất trong lĩnh vực toà án "nó hiện vẫn tràn đầy sức sống, bổ sung thông tin nền tảng cho việc ra các quyết định xét xử và định tội danh."
Công bố lần cuối cùng vào năm 1921, test Rorschach (với 10 tấm card trong tổng số 15 nguyên bản để cắt giảm chi phí và hạn chế, ngăn ngừa lỗi in ấn) tìm thấy chỗ trú ẩn tại Liên bang Soviet, nơi chào đón nồng hậu lý thuyết Phân tâm học của Freud và Jung.
Một trong những tư liệu phân tích sáng giá của test Rorschach là "22 xà lim ở Nuremberg", do nhà tâm thần học Douglas Kelley tiến hành tại phiên toà xét xử những tên cầm đầu Đức quốc xã Nazi năm 1946.
Nhìn vào một vết mực, trùm mật vụ Rudoff Hess thấy "hai người đàn ông đang trò chuyện về tội ác, máu chảy trong trí tưởng họ." Còn Robert Ley, cựu chủ tịch Mặt trận Lao động Đức, nhìn ra một con gấu: "Ông có thể thấy cái đầu, hàm răng và những cái chân cực to. Có bóng tối và những cánh tay kỳ dị; nó thật sống động, biểu hiện chủ nghĩa Bolshevism tràn qua châu Âu."
Từ khi được chấp nhận, dường như test Rorschach trộn lẫn cả chủ nghĩa thần bí và ngụy khoa học; thậm chí, ngay trong số những người hiểu biết về giá trị của test, vẫn tồn tại sự bất đồng khi diễn dịch các trả lời đáp ứng. Có lẽ, các nhà tâm lý lâm sàng vẫn duy trì niềm tin mạnh mẽ rằng, trực giác và kinh nghiệm thực tiễn lâm sàng cung cấp những soi sáng nội tại sâu thẳm hơn là chỉ dựa vào mỗi kiến thức khoa học mà thôi.
Các đệ tử và môn phái của Rorschach nổi lên; mỗi hội, nhóm có thủ lĩnh lôi cuốn riêng của mình. Những năm 1930 là thời kỳ hoàng kim, đến độ người ta hân hoan gọi test Rorschach là "X-quang hiển nhiên của nhân cách" (xem trang này).
Trắc nghiệm này trở thành tiêu chuẩn văn hoá vào năm 1984, khi Andy Warhol thực hiện một loạt các bức tranh vết mực Rorschach.
Là "cụ tổ" của các trắc nghiệm nhân cách thông dụng như MMPI, Myers-Briggs,... test Rorschach được 8/10 nhà tâm lý sử dụng mỗi năm hàng trăm ngàn lần làm công cụ chẩn đoán, người ta trưng cầu đến nó để chứng lý trong các trường hợp giám hộ, giam giữ trẻ em, cáo buộc phạm tội và kiện tụng liên quan đến tổn thương tình cảm.
Sau Chiến tranh Thế giới lần thứ hai, đã có một loạt thách thức thực sự về nền tảng lý thuyết và sự diễn giải của test Rorschach như là các nghiên cứu về những sự tương tác với màu sắc; các cuộc trao đổi và tìm hiểu về ảnh hưởng của thái độ, liên nhân cách và tình huống đối với kết quả trắc nghiệm và sự diễn giải của người ta khi làm test Rorschach...
Phân loại: Phân tâm học, Tâm lý học Lâm sàng, Test
("Thân chủ và mối quan hệ giữa thân chủ với nhà tham vấn- nhìn từ các cách tiếp cận tâm lý trị liệu chính yếu", bài 2)
Lịch sử tâm lý trị liệu hiện đại khởi từ những gì Sigmund Freud (1836-1939) tiến hành tại Vienna trong thập niên 80 của thế kỷ 19.
Vốn là người được đào tạo thành chuyên gia Bệnh học thần kinh (neurologist), Freud bắt đầu tiến hành trị liệu cá nhân (1886) và đến năm 1896, ông đã phát triển một phương pháp làm việc với các bệnh nhân hysteria, đặt tên là "phân tâm" (psychoanalysis).
Các tên tuổi như Alfred Adler, Snador Ferenczi, Karl Abraham và Otto Rank đều từng có khoảng thời gian học nghề sơ yếu (brief apprentice-type trainning) theo phương pháp này trước khi trở thành những nhà Phân tâm học thực thụ.
Những người được gọi là các nhà phân tâm học mới (neo-Freudian) nổi tiếng có thể kể: Erik Erikson, Karen Horney và Erich Fromm.
Để biết Phân tâm học quan niệm về thân chủ ra sao, không thể không am hiểu nền tảng lý thuyết về con người đã chỉ đạo đuờng lối trị liệu của họ.
Đội ngũ kế tục xuất sắc cách tiếp cận trị liệu của Freud (kể cả Carl Jung, cộng tác viên thân thiết với Freud khoảng thời gian 1907-1913) từng góp phần tạo nên thuật ngữ "tâm động" (psychodynamics), với tiêu điểm tập trung vào những động lực của mối liên hệ giữa các thành phần trong tâm thần với thế giới bên ngoài.
Dựa trên các kỹ thuật quan sát lâm sàng và tìm hiểu bệnh sử, không mang tính thống kê mà Freud đi đến định hình phương pháp phân tâm (phân tích tâm lý) bao hàm 4 ý/ thao tác như sau:
1. Đối lập- làm cho bệnh nhân thấy rằng anh ta đang lẩn tránh cái gì đó, anh ta cần nhận dạng hiện tượng tâm lý nào là đối tượng phân tích;
2. Xếp lớp- xếp các chi tiết quan trọng vào tiêu điểm một cách chính xác;
3. Giải thích- cải biến các chi tiết không được ý thức thành ý thức được, ở đây nhà phân tâm sử dụng cái vô thức của riêng mình, sự thấu cảm và linh cảm cũng như lý luận của bản thân;
4. Xử lý- cẩn thận tổ hợp biện pháp và quá trình xuất hiện sau bừng hiểu, hoạt động này mở đường sang thay đổi và cần thời gian dài để khắc phục sự chống đối cản trở việc hiểu biết dẫn đến sự thay đổi có cấu trúc vững chắc. (Phan Trọng Ngọ chủ biên. Các lý thuyết phát triển tâm lý người. Hà Nội: Nxb. Đại học Sư phạm, 2003, tr. 284).
Với họ, sự phát triển của một con người bình thường, trưởng thành sẽ phải trải qua 5 giai đoạn tâm tính dục: mồm miệng (oral); hậu môn (anal); dương vật (phallic); ẩn tàng (latency) và sinh dục-vị thành niên (genital-adolescence) (Patricia H. Miller. Các thuyết về tâm lý học phát triển. Hà Nội: Nxb. Văn hóa thông tin, 2003, tr. 120-132).
Theo Phân tâm học, nhân cách của chúng ta (personality) được xây dựng từ trong vô thức (unconscious); gồm 3 thành phần chính yếu: cái ấy (id), hoạt động trên nguyên tắc khoái lạc (pleasure principle); cái tôi (ego), dựa vào nguyên tắc hiện thực (reality principle) và cái siêu tôi (superego).
Chính sự đòi hỏi tức thì, mạnh mẽ của cái ấy và sự trấn áp không khoan nhượng của cái siêu tôi đã tạo ra sự lo âu của cái tôi. Để giải toả trạng thái căng thẳng này, trong cái tôi xuất hiện các cơ chế phòng vệ.
Thuật ngữ phòng vệ (defense) xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1894 trong bài viết của Freud The Neuro-Psychoses of Denfense (Các biểu hiện loạn thần kinh chức năng của sự phòng vệ); nó mô tả cuộc đấu tranh của cái tôi chống lại những ý tưởng hay tác động gây đau đớn, không thể chịu đựng nổi. Freud đã sử dụng hai thuật ngữ "phòng vệ" và "dồn nén, ức chế" (repression) một cách đồng nghĩa. (Hope R. Conte & Robert Plutchik, eds. Ego Defenses: Theory and Measurement. New York: John Wiley & Sons, Inc, 1995, pp. 38-39).
Nhìn chung, tản mác trong các bài viết lâm sàng và lý luận của mình, Freud đã mô tả tất cả 10 cơ chế phòng vệ:
*Dồn nén (repression, 1893), khái niệm này liên quan đến việc thanh lọc (catharsis) của Freud trong trị liệu: giúp bệnh nhân mang lên bề mặt ý thức ý tưởng hoặc tác động gây đau đớn, không thể chịu đựng nổi. Vì thế, sự phân tích sự đề kháng (ressistance) tức là phân tích sự phòng vệ, đóng vai trò trung tâm trong kỹ thuật trị liệu của trường phái tâm lý bản ngã theo cách tiếp cận phân tâm học (ego psychological school of psychoanalysis).
* Thăng hoa và hình thành phản ứng (sublimation and reaction formation, 1905): theo định hướng phát triển của chủ thể, dường như chỉ là những cảm xúc chán ghét, tội lỗi và đức hạnh. Chuyển năng lượng tính dục sang lĩnh vực sáng tạo nghệ thuật; ý muốn trái ngược với hành vi biểu hiện ra ngoài.
* Cô lập và huỷ hoại (isolation and undoing, 1926): cả hai thường thấy trong các rối loạn thần kinh ám ảnh.
* Phóng chiếu (projection, 1911) :gán những xung lực không chấp nhận được của bản thân cho người khác. Điểm mấu chốt cho việc hình thành các triệu chứng hoang tưởng.
* Đồng nhất hoá (introjection/ identification, 1917): nguồn gốc cơ bản hình thành bệnh trầm cảm (depression); với ý làm gia tăng lòng tự trọng bằng cách đồng nhất hoá, tích hợp với một cái tôi, hình ảnh khác, là phản ứng trước việc bị tước đoạt đối tượng yêu mến.
* Thoái lui (regression, 1916): quay về giai đoạn kém phát triển của chức năng tâm lý; biểu hiện tính trẻ con (nhi hoá), nét hành vi phụ thuộc ở người lớn.
* Đảo ngược và chống đối lại cái tôi (reversal and turning against the self, 1915): hai quá trình- chuyển đổi dạng thức, như từ chủ động sang bị động (bạo dâm-thụ dâm) và chuyển đổi nội dung, ví dụ yêu-ghét. ( Hope R. Conte & Robert Plutchik, p. 45).
Chính Freud thổ lộ rằng, các nhà phân tâm học như ông chịu ơn rất lớn từ thuật thôi miên (hypnotism/mesmerism). Ông đã đi đến việc chỉ ra sự khác biệt giữa ám thị sau thôi miên và ám thị phân tâm (ít nhất ở việc chế ngự những sự đề kháng nội tại); rằng, bệnh thần kinh chỉ khỏi khi không còn xung đột giữa cái tôi và sự khát dục (libido: năng lượng tạo nên bởi xung năng tính dục) nữa, cái tôi đã chế ngự được khác dục; rồi ông khẳng định:...Phương pháp phân tâm buộc người bệnh cũng như thầy thuốc cần có những cố gắng khó nhọc để chế ngự được những sự đề kháng nội tại. Khi những sự đề kháng đó đã thất bại, đời sống tinh thần của người bệnh sẽ thay đổi lâu dài, được nâng lên một trình độ cao hơn và vẫn được bảo vệ chống lại những căn bệnh mới có thể xảy ra.
(Sigmund Freud. Phân tâm học nhập môn. Hà Nội: Nxb. Đại học Quốc gia, 2002, tr. 512-513)
Chống lại mọi sự đề kháng là công việc cơ bản của phân tâm học và chính bệnh nhân (patient) phải làm công việc này, thầy thuốc chỉ dùng sự ám thị (suggestion) để giúp đỡ người bệnh bằng cách giáo dục anh ta mà thôi. Cho nên, người ta có lý khi cho rằng việc chữa bệnh theo phân tâm học là một lối giáo dục.
Sau một thời gian dài hành nghề, Freud phát triển một phương pháp mới: tự do liên tưởng (free association).
Nhờ nghe bệnh nhân tự do liên tưởng mà thầy thuốc tìm ra nguồn gốc của các triệu chứng (nơi khát dục của người bệnh thần kinh ẩn nấp); đó có thể là sự việc nào đó gây đau đớn, khó chịu, đáng sợ, khốn nhục,... từ trong quá khứ mà người bệnh không muốn nhớ lại một cách có ý thức. (ibid., xiv).
Freud cũng đã tự mình tiến hành phân tích bản thân, mỗi ngày dành nửa giờ từ năm 1897 và tiếp tục cả cuộc đời; điều đó, càng làm ông tăng thêm lòng tin tưởng vào lý thuyết nhân cách của bản thân.
Bên cạnh việc giải mộng (interpretation of dreams), Freud cũng phát hiện "một yếu tố quan trọng khó thể nào lường trước được", mối dây liên lạc tình cảm nồng nhiệt giữa con bệnh và nhà phân tâm: sự chuyển dịch (transference).
Bệnh nhân không thoả mãn nếu chỉ coi nhà phân tâm như là người giúp đỡ và cố vấn cho họ...; ngược lại, con bệnh lại nhìn thấy qua nhà phân tâm, một hình ảnh quan trọng thời thơ ấu hay quá khứ của họ. Và vì thế, họ sẵn sàng bộc lộ mọi tình cảm và phản ứng mà chắc chắn là đã được dành cho hình ảnh ấy "dịch chuyển" sang phía nhà phân tâm. (ibid.loc.cit).
...Ảnh hưởng của phân tâm học thực sự rất lạ thường, dù số người hành nghề còn ít ỏi. Hơn một nửa các nhà tâm lý trị liệu hiện đại sử dụng ít nhất một phần các hình thức trị liệu phân tâm khác nhau trong công việc chuyên môn của mình.
Tại Hoa Kỳ, đạt đến đỉnh cao hâm mộ phân tâm học vào giữa những năm 1950, nhưng chỉ có 619 bác sĩ phân tâm (medical analyst) và khoảng 500 người hành nghề nghiệp dư (lay analysist).
(Morton Hunt. The Story of Psychology. New York: Anchor Books, 1994, p. 566)
Dù không có số liệu điều tra cụ thể, song hầu hết các nhà phân tâm làm việc 8 tiếng đồng hồ mỗi ngày và gặp gỡ bệnh nhân của mình hàng tuần từ 4-5 lần (ibid.loc.cit).
Thường thì nhà phân tâm nói cực ít, hoàn toàn lắng nghe bệnh nhân kể lể, tường thuật triệu chứng và đẩy về phía họ, bằng một số câu hỏi tránh né như "Cớ chi điều đó lại có vẻ quan trọng đối với ông?", "Tại sao ông nghĩ tôi nên cảm nhận theo cách ấy?" (ibid, p.567).
Tuy bị khiêu khích, song nhiều bệnh nhân vẫn chẳng đủ khả năng từ bỏ điều trị. Trong Tạp chí Phân tâm học Quốc tế (The International Journal of psycho-Analysis), có đăng lời chỉ trích kịch liệt của bệnh nhân về một trong những ngày tồi tệ của bà ta (ibid.loc.cit):
"Tôi đang buồn chán lắm đây. Suốt một năm tôi cứ như vậy- một năm lộn xộn, khốn nhục, lãng phí. Mà vì điều gì kia chứ? Chẳng vì cái quái gì, có trời mới biết. Mấy ngày nay tôi cố liều mạng để bỏ ra ngoài với ông và không quay về nữa. Tại sao tôi nên trở về? Vì ông chả làm gì cho tôi cả, không hề. Năm này qua năm khác, ông chỉ mỗi việc lắng nghe. Ông muốn bao nhiêu hả? Ông có nghĩ còn ai ngoài ông là kẻ phải xuống địa ngục? Ông nỡ nào làm thế- chẳng thay đổi điều chi, không chữa trị gì cả, chỉ chăm chăm moi tiền và đi nghỉ cuối tuần ở Bermuda; ông đâu có đủ can đảm để mà thừa nhận rằng mình đang trao đổi buôn bán với thứ hàng giả kia chứ. Cái ả rác rưởi trong tôi còn có nhân tính hơn ông nhiều. (There's more humanity in my garbageman than in you)."
Việc trị liệu theo cách tiếp cận phân tâm chia làm hai giai đoạn: 1. khát dục tách rời khỏi các triệu chứng để định cư trên sự chuyển dịch; 2. sự tranh đấu diễn tiến chung quanh đối tượng mới để sau cùng làm cho khát dục thoát khỏi đối tượng này. (Sigmund Freud, sđd, tr. 516-517).
Cũng cần lưu ý, do quan niệm "phương pháp trị liệu phân tâm học giống như một cuộc giải phẫu", nghĩa là phải được thực hiện trong những điều kiện khiến cho những cơ hội thất bại được rút đến mức tối thiểu nên Freud tự đặt cho mình một nguyên tắc: không chữa chạy cho bất cứ ai nếu người đó không độc lập với người thân. (ibid., tr.522-525).
Vì thế, mô hình y khoa, được Freud lấy làm quy chuẩn: nếu gặp điều kiện thuận tiện, chúng ta đã thu lượm thực sự thành công rực rỡ trong công việc chữa chạy, không kém gì những sự thành công huy hoàng nhất của môn nội thương trong y học. (ibid., tr.521). Muốn chữa bệnh, lưỡi dao giải phẫu phải cắt chứ làm sao bây giờ? (ibid., tr.527).
Một trong những vấn nạn có thể làm nản lòng không ít thân chủ tuân thủ việc điều trị phân tâm học là chi phí tốn kém và thời gian tiến hành lâu dài, không thể thành công nhanh chóng, lại khó đo lường hiệu quả trị liệu.
Tuy vậy, mặc cho cách tiếp cận phân tâm còn nhiều bất cập, hạn chế, điều không thể chối bỏ ở đây là thái độ dũng cảm và hoài nghi khoa học của Freud, là khả năng thay đổi các ý tưởng trong suốt cuộc đời; Freud đã dám sống hết mình trong vai trò người đi tiên phong khám sự thật về cõi vô thức.
Còn chưa nói, kỳ lạ thay, lý thuyết phân tâm/tâm động dù thể hiện sâu đậm sự suy đoán (một cách xuất sắc) và dường như tỏ ra lỗi thời, vẫn tìm được mảnh đất để tồn tại trong thực tiễn trị liệu tâm lý cho đến hiện nay.
Tóm lại, phân tâm học quan niệm thân chủ như một bệnh nhân; đặc biệt, đối tượng nghiên cứu của Freud là những hành vi lệch lạc (lỡ lời, đọc sai, quên chốc lát, lầm lẫn,...), bất thường, bị rối nhiễu tâm thần, chứ không phải hành vi của con người bình thường. Vì thế, sự liên hệ giữa nhà trị liệu với thân chủ thực chất là sự ràng buộc, phụ thuộc của con bệnh vào năng lực chuyên môn và cái tôi của người thầy thuốc, trên cơ sở áp dụng triệt để mô hình y khoa.
Cần nói thêm, theo quan điểm phân tâm học cổ điển, liên hệ giữa nhà trị liệu và thân chủ biểu lộ tính chất vi mô (microcosmic) nằm trong những vấn đề rộng lớn hơn của thân chủ. (Jeffrey A. Kottler, Thomas L. Sexton & Susan C. Whiston. The Heart of Healing: Relationship in Therapy. San Francisco: Josey-Bass Publisher, 1994, p. 160).
[Thứ Bảy tới (bài 3): 2. Trị liệu hành vi: chuyên gia củng cố khách hàng.]
Phân loại: Nghiên cứu, Phân tâm học, Tâm lý trị liệu, Tham vấn Tâm lý