Các học giả về tổ chức cũng như đa số nhà khoa học nghiên cứu lĩnh vực này rất hiếm khi tìm hiểu vấn đề dùng bí mật làm công cụ kiểm soát tổ chức.
Một mặt, các bí mật tổ chức cần thiết để tổ chức tồn tại; mặt khác, các bí mật tổ chức thường được sử dụng để che giấu hành vi phi đạo đức và bất hợp pháp.
Trong tiểu luận này, tác giả xem xét hiện tượng bí mật như là thành phần trong đời sống tổ chức, từ cả viễn tượng thực hiện chức năng lẫn suy giảm chức năng.
Đặc biệt, từ quan điểm thực hiện chức năng, tác giả minh họa bí mật có thể bảo vệ một cách hợp pháp những biểu hiện có thể bị công kích của tổ chức; trong khi đó, dưới cái nhìn suy giảm chức năng, bí mật kiểm soát thành viên thuộc tổ chức và ngăn chặn việc truyền thông kiến thức tới các đối tượng khác.
Cả hai tiến trình xảy đến nhờ cấu trúc của các ranh giới mang tính nhận thức - xã hội như là một dạng kiểm soát xã hội.Trong hai ngày quốc tang thì rõ ràng nghiên cứu đánh giá về các bí mật tổ chức kiểu trên dễ gợi lên ít nhiều suy tư ngoài luồng, vượt rào, có vẻ không chính thống cho lắm.
Blog Cái tôi từng giới thiệu tùy bút chính trị của nhà văn Nguyễn Khải, giờ cung cấp thêm chút thông tin liên quan.
Cập nhật hai bài báo Anh ngữ thấy trên mạng hôm nay.
Một, về cuộc "cách mạng internet" (Vietnam 2.0)
Hiện tại, hầu hết giới trẻ dùng web như nguồn giải trí trong một đất nước mà hệ thống truyền hình "bốc mùi" khắp nơi, nhà đầu cơ tư bản Henry Nguyen nói. "TV nhập khẩu các chương trình biểu diễn từ Trung Hoa, Hàn Quốc và chiếu lại các film Hoa Kỳ".Hai, cảm tưởng của du khách với nơi từng được mệnh danh là "hòn ngọc Viễn Đông"
Người dùng internet Việt Nam thiếu vắng trải nghiệm những cuộc cãi lộn hiềm thù thường gặp ở Hoa Kỳ, blogger Tien chia sẻ. "Hết sức lịch sự, người Việt không muốn phí thời gian tranh luận với đối tượng mà họ không quen biết".
Ở Sài gòn, cái mới và cái cũ cứ dính cặp với nhau gây choáng váng.
Các cửa hiệu thời trang gắn điều hòa nhiệt độ thật lãnh đạm của hàng hiệu Louis Vuitton và Gucci chỉ là vật che chắn khỏi những quán bán bún phở tường ruồi nhặng bu đầy, thùng nước lèo đen thui sôi sùng sục và thực khách xổm mông ngồi trên những chiếc ghế nhựa bé nhỏ.
Phân loại: Blog, Cơ chế phòng vệ, Tâm lý học Dân tộc, Tâm lý học Quản lý, Thời sự

Những câu chuyện có chủ đề cùng với lối viết như thế này (xin chú ý có 3 bài đi kèm nữa) dường như ngày càng trở nên quen thuộc ở Việt Nam.
Blog Cái tôi tán đồng cách hiểu sau về sự khiếm khuyết, tàn tật, bất lực:Một người sẽ có khiếm khuyết, tàn tật, bất lực (disability) nếu anh ta/ chị ta bị hư hỏng, mắc suy kém gì đó thuộc về thể lý hoặc tâm thần (a physical or mental impairment) khiến gây ra một ảnh hưởng bất lợi, tai hại căn cốt và lâu dài cho năng lực của người ấy trong việc thực hiện các hoạt động hàng ngày.
Trong những tình huống tương tự, chẳng có gì đáng ngạc nhiên nếu chúng ta tăng cường tìm kiếm bảo hiểm và trợ giúp trị liệu chuyên nghiệp khi gặp khó khăn về cảm xúc.
Điều mỉa mai ở chỗ, đa phần cộng đồng các chuyên gia trị liệu mang tính ngăn ngừa chuyên nghiệp lại không cho là quá cần thiết lắm, song nếu sự trị liệu mang tính cưỡng bức thì chính quyền càng làm khó khăn thêm cho những người lẽ ra cần được hưởng lợi nhờ tiếp cận được với sự trợ giúp.
Thực tế, vô số chi tiết giật gân, câu khách, khai thác khía cạnh khác thường lạ lẫm với quảng đại quần chúng góp phần tăng cao số đối tượng bị thiên hạ trừng trừng nhìn ngắm; và nó mắng mỏ chính chúng ta về sự thiếu vắng nhận thức, vốn hay khơi lên nỗi sợ hãi liên quan đến tiềm năng lạm dụng cực kỳ ngu dốt.
Bên cạnh đạo đức và nguyên tắc hành nghề của nhà trị liệu đòi hỏi phải được chú trọng nghiêm túc hơn, những câu chuyện kiểu dạng nêu trên tạo nên nhiều câu hỏi làm cuộc đời tỏ lộ chất phong phú, ý vị và thôi thúc chúng ta thật rõ ràng với những suy tư của bản thân.
Có lẽ, chẳng ai chưa từng một lần trải nghiệm cái khoảnh khắc định nói, sắp nghĩ ra lời thích hợp ấy...
Vào dịp cuối năm 1988, một nhân viên bán phụ tùng phần cứng máy tính 41 tuổi phàn nàn với bác sĩ tư về điều kỳ cục.Bài báo đăng trên Boston.com kể về hiện tượng quen thuộc khi ta rõ ràng hiểu biết điều gì đó mà chẳng thể mang nó lên trên bình diện tâm trí được, giải thích cho ta về cách thức bộ não và tâm trí làm việc.
Rằng, dù anh ta có thể nhận ra mọi người, rồi nhớ tất cả các loại thông tin về họ song anh ta vẫn không thể gọi tên họ nổi. Anh ta đang dần mất đi khả năng ghi nhớ danh tính bất cứ người nào, ngay cả tên các bồ tèo thân thiết và thành viên gần gũi trong gia đình. Phải gắng sức lắm anh ta mới ám chỉ được vợ mình là "vợ".
Vài tháng trước đó, người đàn ông được dữ liệu khoa học biết dưới cái tên 'LS', gặp sự cố nặng nề.
Văng khỏi ngựa, phần sọ trái của anh ta bị va đập mạnh. Thoạt tiên, có vẻ anh ta vẫn còn may mắn chán. Các biện pháp thăm khám thông thường đã chẳng phát hiện thấy bất cứ bất ổn đáng lo nào.
Song, giờ đây có vẻ anh ta mắc vào dạng đặc biệt của chứng mất trí nhớ (amnesia) đến độ cứ liên tục mấp máy môi tên tuổi mọi người. Thật là thống khổ.
Thực tế, đó quả là một trải nghiệm đầy nghịch lý: ta biết điều gì đó, song lại chẳng thể nhớ nổi.
Câu chuyện thú vị trên còn nói tới sự lưu giữ thông tin và khả năng truy cập thông tin là hai việc khác biệt hẳn nhau ở trong não; rằng, bộ não cần có những cách thức để tầm soát chính nó và truyền thông thật tốt sao cho nó thực hiện ổn thỏa các thao tác đến với tâm trí vô thức và hữu thức.
Vấn đề này gợi nhắc ngay tới metacognition (hiểu biết các tiến trình nhận thức của bản thân và sử dụng hiệu quả sự tự nhận thức này để chính mình điều chỉnh các tiến trình đấy) -- một trong các khái niệm cơ bản của tâm lý học hiện đại.
Những nghiên cứu được trình bày trong bài báo khởi từ phòng thí nghiệm cũng như minh họa các đối tượng bị tổn thương não phải chịu đớn đau hầu như thường trực trạng thái mấp máy môi.
Đọc bài báo trên khiến tôi liên tưởng: chỉ vừa mới chiều qua thôi, đúng là mình không thể nhớ ra tên cái test vừa làm vào hai ngày trước đó với một cậu bé học trường thực nghiệm.
Điều khiến tôi cảm thấy vui vui là trong khi vẫn tiếp tục kể cho một đồng nghiệp nghe thêm các chi tiết hấp dẫn khác liên quan đến câu chuyện, tôi nhận thấy mình tuyệt không cố nhớ tí gì và thong thả tin tưởng sẽ tới lúc tên của test sẽ bật lên môi.
Vâng, ông trời dường như đã động lòng trước sự nhẫn nhịn dài lâu của tôi nên rốt cục phải nhẹ nhàng bật mí cho tôi vào vài ba giây cuối khi sắp kết thúc toàn bộ câu chuyện: test Raven.
Xem chừng, trải nghiệm như thế ít nhiều cũ mèm và chẳng ý vị gì lắm với tha nhân, song với cá nhân ta nó thật sống động và đầy ý nghĩa.
Nếu bạn đọc có trải nghiệm đáng nhớ nào về hiện tượng khá thú vị rất khó quên này, xin hãy thoải mái chia sẻ.


Sử dụng biện pháp trừng trị, phạt vạ sẽ đưa tới sự hợp tác chặt chẽ hơn trong các tình huống liên nhân cách?
Bằng thực nghiệm, các nhà nghiên cứu Đại học Harvard khẳng định câu trả lời là Không.
Dùng một phiên bản mô phỏng trò Nghịch lý Tù Nhân (Prisoner's Dilemma)-- một phạm thức (paradigm) cổ điển trong nghiên cứu sự hợp tác-- họ phát hiện ra rằng hành vi trừng phạt nhằm ép buộc người khác hợp tác rốt cục là nguyên nhân làm hành vi hợp tác kém đi, khiến cho bản kết toán của cá nhân về đối tượng giảm thiểu, và chẳng hề hỗ trợ bất cứ lợi lạc nào cho nhóm chung.
Ngoài ra, các nhà nghiên cứu còn nhận thấy những người chơi xếp ở vị trí hàng đầu không có thói quen trừng phạt, thay vào đấy, họ tận dụng chiến lược ăn miếng trả miếng; trong khi đó, những người chơi chiếm thứ hạng thấp nhất lại tốn nhiều tiền cho việc trừng phạt.
Theo các tác giả, trừng phạt có thể tạo ra vòng xoáy trả thù với những hậu quả tiêu cực cho bất cứ ai tham dự.
Vấn đề đáng quan tâm là tại sao lại tồn tại một động cơ hừng hực khiến con người ta muốn trừng phạt khi cùng tha nhân cạnh tranh.
Nghiên cứu trên lý giải, các hành vi trừng phạt phục vụ cho việc thiết lập một hệ thống thang bậc mang tính thống trị hoặc cốt che chắn có lợi cho chủ sở hữu.
Liên quan tới chủ đề này, triết gia John Stuart Mill cung cấp lý thuyết về sự phát triển của các nhân cách kiếm tìm quyền lực:
Một tâm trí năng động và mạnh mẽ, nếu chối bỏ tự do, thì sẽ kiếm tìm quyền lực: phủ nhận mệnh lệnh tự thân sẵn có, nó khẳng định nhân cách của chính mình bằng nỗ lực không ngừng kiểm soát những kẻ khác.Mill, chẳng hạn, như vợ ông, còn đi xa hơn:
Cho phép mình chẳng cần thiết giữ gìn bản sắc riêng mà cứ thích dựa vào kẻ khác là đẩy cao lên cái giá phải trả của việc khuất phục, nương theo mục đích của người.Điều này chuyển tâm trí ta sang một lý thuyết khác về kiếm tìm quyền lực, chẳng hạn của Adler như ở đây:
Ở đâu tự do không còn gì để hy vọng và nhường lối cho quyền lực, ở đó quyền lực trở thành đối tượng ham muốn lớn lao của con người; những kẻ bỏ mặc, không chút đoái hoài hay cảm thấy bị phiền nhiễu bởi chuyện quản lý đời mình sẽ bù trừ, làm đối trọng bản thân-- nếu họ muốn-- thông qua sự can thiệp, chen mục đích riêng vào công việc của kẻ khác.
Con người ta gắng sức hướng tới quyền lực để nhằm vượt qua và bù trừ cho những cảm giác không tránh khỏi từ thời thơ ấu về phức cảm tự ti, sự bất lực, và phụ thuộc vào những người lớn.Blog Cái tôi sẽ trở lại chủ đề Quyền lực trong một dịp khác.
Dẫu thế nào đi nữa, kết luận khái quát từ nghiên cứu của Đại học Harvard thật rõ ràng: việc trừng phạt với đầu tư đắt đỏ đã không giúp cải thiện được hành vi hợp tác, và những ai sẵn sàng sử dụng nó thường gây nên tổn thất nặng nề; nói cách khác, trừng trị và tắc tị!
Phân loại: Cơ chế phòng vệ, Đạo đức, Động cơ, Giới tính, Khái niệm cái tôi, Quan hệ, Rối loạn nhân cách, Tâm lý học Xã hội
24 phút trò chuyện với ông Vương Trí Nhàn
Tri thức hiện đại: Không được tạo "dịch nói xấu người Việt"(Nên dùng "tri thức" hay "trí thức"; "nghiêm trọng" hay "quan trọng" nhỉ?)
Người ta thường nói, đoán cái xấu thì dễ, đoán cái tốt mới khó. Do điều kiện lịch sử, đời sống hiện đại của chúng ta đã sinh ra một lớp người lấy chuyện đoán "cái xấu" ra để làm lớp áo tri thức của mình. Thậm chí có những người còn đi xa hơn bằng cách "làm yếu ớt đi, làm nhạt nhoà đi" chính nguồn cội của mình để mưu danh với thiên hạ.Mấy năm gần đây, trên báo chí xuất hiện mục bàn về “Thói hư, tật xấu của người Việt”, do ông Vương Trí Nhàn thực hiện. Để cho bạn đọc hiểu rõ hơn thực chất của chuyên mục này, phóng viên VieTimes đã trò chuyện cùng với ông Vương Trí Nhàn. Khi phóng viên liên lạc, ông Vương Trí Nhàn rất hồ hởi về những câu hỏi sẽ “phản biện chính xác” những gì ông đã nói. Nhưng tiếc thay, khi cuộc phỏng vấn diễn ra giữa chừng, chính xác là 24 phút, ông Vương Trí Nhàn đã tự ý bỏ về với một câu hỏi rất nghiêm túc và không kém phần nghiêm trọng về văn hóa dân tộc Việt…
Một cuộc dụng công cố tình hạ gục đối thủ, thay cho việc chứng tỏ trình độ dẫn dắt cùng cách đặt câu hỏi tài hoa và thái độ tôn trọng người đối thoại; người trả lời dù gắng hết sức kiềm chế, song rốt cục đã phải bực bõ; còn bạn đọc phản hồi bên dưới thì ngộ nghĩnh, vô lối.
Nói tóm lại: chọt, châm; chỏi, chênh; chã, chán.
Nguồn cơn gây hấn, khởi đi từ phát biểu này và những trích dẫn đây chăng?
Chịu!
Phân loại: Cơ chế phòng vệ, Định kiến, Học vấn, Kỹ năng sống, Mẫu rập khuôn, Ô, Tâm lý học Dân tộc, Thuyết Quy kết, Truyền thông

Phòng vệ là cơ chế tâm lý thao tác nhằm tạo lập thế cân bằng, khi người ta cảm thấy mất kiểm soát cảm xúc từ sự xung đột hoặc tổn thương.
Là việc diễn ra suốt đời của tất cả chúng sinh; khiến ai đó quyết định lập Công ty để thoát nỗi nhục nghèo đói; là nụ cười thầm đắc thắng miên man; cơn đau cổ dai dẳng, hoặc bị hành hạ bởi chứng đau đầu không rõ nguyên nhân,...
Nếu muốn tìm hiểu chi tiết, cụ thể thêm về phòng vệ, bạn có thể đọc ở đây.
Phân loại: Cơ chế phòng vệ, Đầu tuần một từ, Khái niệm cái tôi, Rối nhiễu, Stress, Sức khỏe tâm thần, Tâm bệnh học
Trích từ một cuộc tư vấn trực tuyến: Để có một trái tim mạnh khỏe
Và đoạn mở đầu cho bài viết về sự nguy hại của chuyện phủ nhận, chối bỏ:* Tôi hiện đang học tại trung tâm tin học nước ngoài và chương trình học rất nhiều, cho nên tôi tiếp xúc nhiều với máy tính và cũng không quan tâm nhiều đến sức khỏe. Vậy thì tôi mong bác sĩ Đào Thị Yến Nhi có thể cho tôi câu trả lời để tôi có thể dễ dàng trong công việc học của mình. Tôi xin chân thành cảm ơn những đóng góp trả lời của bác sĩ! (kiên, 22 tuổi, Nam, tổ 19 phần lăng hoà khê thanh khê đà nẵng, sinh viên)
- Bác sĩ, thạc sĩ Đào Thị Yến Phi: Trước hết có lẽ bạn cần phải tập thói quen quan tâm đến sức khỏe của mình trước khi quan tâm đến sức khỏe của máy tính! Cần phân bố các bữa ăn trong ngày đều đặn mỗi 3-4 giờ, tối đa là 6 giờ phải có một bữa ăn, ăn đủ các nhóm thức ăn cần thiết như bột, đạm, rau, chất béo... Tập thể dục thể thao ít nhất 1 giờ mỗi ngày, tránh lạm dụng cà phê, thuốc lá, thức uống có cồn... Mỗi ngày thêm ít nhất 500ml sữa, và ngủ đủ 7-8 giờ.
Theo Từ điển Bách khoa Toàn thư Anh quốc thì chối bỏ, phủ nhận là sự khước từ có ý thức để tri nhận rằng các sự kiện đau lòng vẫn còn hiện hữu.Tức giận, sợ hãi, và trầm cảm có thể thúc đẩy nhanh diễn biến bệnh tim, như nhiều nhà khoa học đã biết lâu nay. Vấn đề là, theo nghiên cứu, người mắc một số trục trặc liên quan đến bệnh tim mạch thường chối bỏ, phủ nhận việc mình cảm thấy tồi tệ-- sẽ để lại một số hậu quả nghiêm trọng cho sức khỏe của chính họ.
Đó là bức bình phong trung tâm tạm thời che chắn trong chốc lát. Cơ chế phòng vệ rất người và luôn hiện hữu này thực sự thừa mứa khả năng phục vụ cho một số mục đích lợi ích, hướng đến một vấn đề nhất định. Nó bảo vệ chúng ta và dành lấy thời gian xem chừng là quan yếu, thậm chí cần thiết nữa.
Cơ chế phòng vệ này còn gợi nhắc chúng ta dấu hiệu từng trông thấy vẽ nguệch ngoạc đâu đó trên tường, hay trong sách vở; đại khái kiểu như: "Nhân vô thập toàn", hoặc "Đã là người, thường mấy ai chẳng đổ lỗi trách nhiệm mình làm cho tha nhân".
Song thực tế chứng tỏ rõ ràng, cả hai hành động này-- chối bỏ và đổ lỗi-- chỉ đóng vai trò tàn phá sức khỏe, các mối quan hệ của chính cuộc đời ta mà thôi.Vì thế có lẽ, nên nghe lời nhắn nhủ của S. Freud chăng: "Hoàn toàn thành thật với bản thân là một bài tập thể dục tốt"?
Phân loại: Cơ chế phòng vệ, Kỹ năng sống, Nghiên cứu, Phân tâm học, Tâm bệnh học, Thời sự
Thư điện tử mới đây của một sinh viên năm thứ 4 đề nghị chia sẻ thêm thông tin về cách lý giải và tính điểm test phóng chiếu quen thuộc là TAT khiến tôi nhớ ngay đến một bài báo vừa đọc được chưa lâu.
Sử dụng test dựa vào kỹ thuật phóng chiếu nêu trên, tác giả Phebe Cramer đã tiến hành một nghiên cứu (longitudinal study) về sự biến đổi của các cơ chế phòng vệ (defence mechanisms) từ trẻ em đến người trưởng thành.
Bắt đầu từ năm 1928 và nằm trong dự án Berkeley Guidance Study, 71 đối tượng tham gia hoàn thành TAT khi họ đã 12, rồi lên 16 và đến 18 tuổi.
Kết luận quan trọng rút ra: trên tiến trình phát triển từ độ tuổi vị thành niên bước sang giai đoạn trưởng thành, người đời ngày càng ít dựa vào sự chối bỏ (denial)-- lờ đi những ý nghĩ đang quấy quả mình--; thay vào đấy, chúng ta sử dụng thường xuyên hơn sự phóng chiếu (projection)-- đổ tội cho kẻ khác về lắm thứ đang khiến mình lo âu, phiền muộn-- và đồng nhất hoá (identification)-- xu hướng hoá thân thành ai đó mình ngưỡng mộ, khâm phục.
Các cơ chế phòng vệ cơ bản này được quy nạp qua toàn bộ câu chuyện đối tượng tham gia test kể trong khi làm TAT.
Tác giả Cramer còn phát hiện thấy, những ai ở tuổi 18 sử dụng nhiều sự đồng nhất hoá hơn thì có liên quan với chỉ số IQ cao hơn.
Và mặc dù càng lớn người ta càng tỏ ra thích phóng chiếu và đồng nhất hoá hơn song, chính ở độ tuổi trưởng thành này cũng nảy sinh hiện tượng khôi phục, tái diễn lại sự chối bỏ; theo ý Cramer, dường như nó phản ánh "niềm tin của người thanh niên trẻ rằng, cô ấy có quyền năng tạo nên một môi trường phù hợp với những ước muốn của bản thân."
Tuy vậy, nghiên cứu trên lại không chứng thực được việc đối tượng tham gia ở tuổi 18 hay giữ thói quen đồng nhất hoá hơn là phóng chiếu-- mà một số nghiên cứu gần đây khẳng định.
Giải thích điều này, Cramer nghĩ đến sự tác động của các yếu tố văn hoá- xã hội: người 18 tuổi ở thời điểm 1946- chỉ mới một năm sau Chiến tranh Thế giới lần thứ hai-- có vẻ ít thời gian để "khám phá các con đường khác nhau trong sự phát triển và định hình bản sắc (identity)."
Blog Cái Tôi sẽ tiếp tục giới thiệu TAT và các cơ chế phòng vệ kỹ càng hơn vào một dịp khác; ở đây, chỉ xin lưu ý rằng, khái niệm "cơ chế phòng vệ" hàm ý trả lời cho cả hai câu hỏi phòng vệ chống lại điều gì? và phòng vệ vì cái chi?.
TAT (Thematic Apperception Test) của H.A. Murray và các đồng nghiệp khác (1938) yêu cầu người tham gia kể một câu chuyện từ mỗi tấm trong tổng số 20 bức tranh đặt trước mặt-- những diễn biến đang xảy ra, điều chi dẫn đến hoàn cảnh ấy, và rồi nó có thể đưa tới kết cục, hậu quả gì.
Thiết kế và cấu trúc của TAT đòi hỏi chuyên gia khi diễn giải test bắt buộc phải tích hợp thông tin về các khía cạnh trí năng (intelectual powers), xung đột cảm xúc (emotional conflicts) và cơ chế phòng vệ (defense mechanisms).
Phân loại: Cơ chế phòng vệ, Nghiên cứu, Phân tâm học, TAT, Tâm bệnh học, Test
