(ảnh)
Cách đây một tháng, tại trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội có phối hợp tổ chức Hội thảo Việt- Pháp: "Văn hoá trong toàn cầu hoá" [tên đầy đủ ban đầu là "Văn hoá đối đầu với toàn cầu hoá: đánh mất tâm hồn hay phục hưng sức mạnh?-- Tâm lý trị liệu và thách thức văn hoá"] (24- 26.7.2007).
Tham gia một trong các tiểu ban thuộc chương trình ("Làm thế nào truyền thông phi bạo lực?"/ "Comment Transmettre La Non-Violence?"), tôi thực sự bị thu hút bởi phát biểu của một nữ giáo viên hưu trí người Tây Ban Nha; theo bà, ngay trong môi trường học đường, với đồng nghiệp bà vẫn cảm thấy rất rõ "bạo lực bủa vây xung quanh".
Hàng ngày, các phương tiện truyền thông trên thế giới và Việt Nam khai thác vô kể thông tin thảm sát, chết chóc, đau thương, hành hạ, đánh đập, tang tóc; điển hình gần đây nhất là xôn xao câu chuyện làm dâu xứ Hàn, vụ con gái giết cha và tiếp tục làm rõ hơn chân dung kẻ xả súng hàng loạt ở Đại học Công nghệ Virginia (Hoa Kỳ) hồi tháng 4 năm nay.
Cần phải nói ngay rằng, không thể dễ dàng khẳng định chính việc muốn đổi đời nên bỏ quê, quyết lấy chồng xứ người đã khiến cô gái nhà nghèo xấu số phải chết đau đớn; hoặc vì bị cấm yêu dẫn đến thù hận, sát hại bố đẻ; hay do mắc hội chứng câm tuỳ lúc [(selective mutism), một dạng thức hiếm gặp và thái quá của lo hãi xã hội (social anxiety), mang đặc trưng cơ bản là người mắc không thể phát ngôn trong những tình huống nhất định, khi việc nói năng tỏ ra cần thiết] mà Cho có hành vi bạo lực.
Những lý do vừa nêu xem chừng chưa là nguyên nhân, hoặc trực tiếp dẫn đến nguyên nhân của các kết cục trên. Dường như chẳng tồn tại nổi giải thích nào thật hữu lý và thuyết phục, càng khó tìm ra giải thích nào thoả mãn tất cả những ai "cần được giải thích" về các hành vi dị biệt trên.
Tuy vậy, mấy vụ việc này cho thấy sự thiếu hụt truyền thông đã góp phần làm chậm trễ đến độ không thể cứu vãn và gây tác hại nghiêm trọng, kéo theo hậu quả là cơ quan chức năng, người thân, giới chuyên môn và cộng đồng không thể tiếp cận công hiệu đối tượng cần sự hỗ trợ đặc biệt, đúng đắn.
Bao nhiêu phụ nữ Việt Nam bị chồng ngoại quốc hành hạ và giết hại; bao nhiêu nữ sinh gia đình cấm cản yêu đương từng lấy đi cuộc sống bậc sinh thành ra mình; bao nhiêu người mắc trầm cảm/ lo hãi xã hội gây ra tội ác?
Thời điểm của cảm thông và tôn trọng. Thiên hạ luôn mong muốn một sự giải thích rõ ràng và cụ thể, song thực tế, số liệu tiêu cực ấy bé về mặt thống kê; những biến cố tương tự rất khó giải thích, chí ít do tần suất xảy ra còn thấp- khả năng dự đoán, vì thế, thật mơ hồ, mong manh.
Và có lẽ, hơn bao giờ hết, trước vấn nạn phàn nàn và lắm câu hỏi để ngỏ thì đây là dịp thích hợp cho giả thuyết "Đời Vốn Công Bằng" phát huy tác dụng chăng?
Đấy là niềm tin thông thường rằng, nhiều người có thế giới quan riêng: những điều may mắn, vui tươi xảy ra với những người tốt, còn điều tồi tệ đổ về kẻ xấu xa.
Khi một ai đó bị hành hạ, đánh đập, giết chết,... thì niềm tin này thúc giục người ta lập tức nghĩ tới chuyện nạn nhân chắc phải làm điều gì đấy trêu tức hay xứng đáng hứng chịu hậu quả nặng nề- nếu không, gánh lấy một cách gián tiếp.
Một cách nhìn của niềm tin "Đời Vốn Công Bằng" cũng được áp dụng nhằm đương đầu với những điều tiêu cực xảy ra thật ngẫu nhiên trong cuộc sống. Cũng chính nó lý giải tại sao các tội ác ghê rợn tày đình, bậy bạ càn quấy, trời không dung đất không tha lại thừa sức thu hút sự chú ý của dư luận ghê gớm; lý do: niềm tin cấu trúc hoá như thế dần xung đột với thực tế đời sống và trở thành khiếp đảm.
Với những nạn nhân là đối tượng dễ bị tổn thương, hoàn toàn ngây thơ hoặc vô phương phòng vệ như trẻ em, người già, liễu yếu đào tơ và một số nhóm đặc biệt khác, thì sự căm phẫn, trừng trị của quần chúng càng ngùn ngụt tăng cao hơn nếu kẻ mang nhãn ngờ vực "khủng bố" bị tra tấn và hành quyết bằng phương thức man rợ nhất- thậm chí, ngay cả khi hắn vô tội.
Những ai từng xem bộ film Civic Duty (2006) chắc ít nhiều liên tưởng về thực trạng định kiến và phân biệt đối xử này.
Bài đăng Mới hơn Bài đăng Cũ hơn Trang chủ