Thi thoảng, khi được dịp trao đổi, chia sẻ và góp ý với ai đó về nghề nghiệp, thường thì không ít người trong chúng ta vẫn ưa thích ý tưởng quen thuộc: "Hãy làm những gì mình yêu thích!"
Vào mùa tuyển sinh tưng bừng, các thầy, cô giáo và chuyên gia lao động- việc làm cũng đưa cho biết bao bạn trẻ đang náo nức chọn khối thi hoặc sắp tốt nghiệp đại học nhăm nhe đâm đơn, tích cực soạn sẵn hồ sơ gửi công ty, cơ quan xin việc lời khuyên đầy quan tâm, nồng ấm và dễ thương ấy.
Và chuyện đời diễn biến thật kỳ thú: các Cử nhân lắng nghe chăm chú, gật đầu liên tục ra chiều tán đồng và rồi họ lặng lẽ đi làm kế toán hoặc kéo nhau đầu quân vào những nơi béo bở, thơm tho, công việc nhàn nhã mà thu nhập lại cao:
Không có gì đáng ngạc nhiên cả. Ngoại trừ ngày tốt nghiệp, đời sống thường nhật dạy cho người trẻ hiểu rằng tương lai của họ không nên trông mong vào niềm vui ngây ngất thiên đường sau đó, mà phụ thuộc chính yếu vào các năng lực sẵn sàng làm bổn phận, ý thức đảm trách nhiệm vụ (và chẳng dễ thương lắm) như vô số sự kiện, thời khắc mang tính quyết định và hàng loạt quy tắc phải tuân thủ.Mời bạn đọc bài báo của tác giả Daniel Pink để biết tại sao trong môi trường toàn cầu hoá và kinh tế hiện đại, thực hiện ý định làm theo điều mình yêu thích có thể là chuyện thực sự khá gay cấn, tế nhị:
Nói cách khác, để thực hiện điều đó trong nền kinh tế hỗn hợp, chúng ta sẽ phải làm những điều mà phần mềm không thể làm nhanh hơn và các công nhân trí thức hải ngoại không thể làm rẻ hơn. Hơn nữa, những gì chúng ta sản xuất cũng phải thỏa mãn những đòi hỏi ngày càng tăng của khách hàng về các sản phẩm và dịch vụ thấm đẫm cảm xúc, tâm linh và phẩm chất nghệ thuật.
...Thực lòng mà nói, thị trường lao động mới này không còn là mảnh đất mà mỗi người sẽ có khả năng đeo đuổi đam mê ngay cả khi có một mức lương ngồn ngộn. Rốt cục, chúng ta xem ra vẫn còn chẳng khác gì thuở mới tốt nghiệp tinh khôi được bảo ban: Nhìn đi, ngoài kia là một thế giới nhọc nhằn, thô bạo. Chỉ có một cách thức để sống sót. Làm những gì mình yêu thích.
Phân loại: Kỹ năng sống, Nghiên cứu, Tâm lý học Lao động, Thời sự
Tùy theo đối tượng so sánh-- nhìn lên hay trông xuống-- sẽ cho thấy bạn bất mãn hoặc hài lòng với công sở và công việc đang theo đuổi.
Đó là phát hiện rút ra từ một nghiên cứu lần đầu tiên được thực hiện dựa trên nguyên tắc so sánh xã hội tại nơi làm việc.
Theo đó, Doug Brown và đồng nghiệp đã góp phần cung cấp thêm một nguồn thông tin lý giải về sự hiếu kỳ quá độ vốn là bản chất của con người-- so sánh bản thân với những người xung quanh ta--, nhờ sự tham gia của 991 khách thể đã tốt nghiệp Đại học, từ giáo viên cho đến nhân viên bán hàng.
Thông qua cuộc điều tra trên mạng, nghiên cứu tập trung tìm hiểu xu hướng đánh giá may mắn của những người này nơi công sở: với nhân viên cấp dưới, lính mới, địa vị thấp hơn hay với bậc bề trên, thâm niên công tác, chức vụ cao hơn.
Kết quả nghiên cứu thật thú vị: những ai nhận thấy thiếu vắng tự do cá nhân nơi công sở, trách nhiệm không rõ ràng, và/ hoặc chẳng chắc chắn lắm về địa vị và năng lực bản thân thì thường có xu hướng so sánh chính họ với những người ở thứ bậc bên trên mình. Điều này đến lượt nó lại dính đến trạng thái bất mãn và dự tính tìm công việc nơi khác.
Nhấn mạnh vai trò của so sánh xã hội nơi công sở, chỉ riêng yếu tố "không chắc chắn về địa vị và năng lực công tác của bản thân" của nghiên cứu trên đã thể hiện sự kết hợp với việc người tham gia hay có những so sánh với các đồng nghiệp ít thâm niên và cấp bậc thấp hơn mình.
Một điều gây ngạc nhiên khác: chỉ riêng yếu tố nêu trên, đối tượng lại còn có những so sánh với người bên trên, nhiều thâm niên hơn; rốt cục thì, việc so sánh bản thân với các thuộc cấp, bên dưới cho thấy nhiều thoả mãn hơn trong công việc.
Các nhà nghiên cứu tuyên bố: "Các phát hiện này có những ứng dụng quan trọng trong việc hiểu biết cách thức những so sánh xã hội thể hiện trong bối cảnh của một tổ chức, và sự xác định ngay từ đầu kiểu dạng thái độ đối với nghề nghiệp cũng như hành vi tìm kiếm công việc."
Bàn tới chủ đề lo âu (anxiety), nhân đây, cũng xin giới thiệu với bạn đọc công trình của tác giả William Lee (khoa Tâm lý học y tế) khẳng định rằng, có nhiều lợi ích sống còn của việc tăng cường nét tính cách lo âu trong những năm đầu tuổi trưởng thành, song về sau chúng có thể được cân bằng do sự thiếu hụt sống còn liên quan tới các vấn đề y tế.
Phân loại: Kỹ năng sống, Nghiên cứu, Sức khỏe tâm thần, Tâm lý học Lao động, Tâm lý học Xã hội
Theo nghiên cứu của Mandisodza và cộng sự (2006) đăng trên Journal of Cross-Cultural Psychology, công dân của cả hai nước Hoa Kỳ và Australia đều cho rằng, người nghèo bẩm sinh (born poor) rồi trở nên giàu thì có nhiều năng lực và dễ ưa hơn-- so với người vốn giàu có rồi nghèo đi.
Tuy cùng quan điểm như vậy, song chỉ riêng dân xứ Cờ Hoa tin rằng, người sinh ra đã phong lưu (born rich) là biểu hiện của một hệ thống kinh tế công bằng (fair economic system).
Còn theo nghiên cứu của Satoshi Kanazawa (2006), ở các nước tồn tại một khoảng cách lớn giữa giàu và nghèo thì người dân kỳ vọng đời sống ngắn ngủi (short life expectancies); không phải vì tình trạng bất tương xứng về kinh tế và thiếu hụt các nguồn tài nguyên, mà đúng hơn là do họ không thông minh bằng (unitelligent).
Lý thuyết của Kanazawa là nói tới IQ, chúng ta ám chỉ rằng nó đo lường một cách hiệu quả khả năng của người đời trong việc thích nghi với những đòi hỏi và hiểm hoạ mới mang tính tiến hoá.
Các cộng đồng dân cư có IQ cao hơn, Kanazawa khẳng định, tất có khả năng xử lý tốt hơn đủ thứ nguy hiểm đương đại như súng ống, xe cộ, lối sống ăn không ngồi rồi (nhờ có ý thức tập thể dục), hút hít, rượu chè; do đó, những người này sống thọ hơn.
Và Kanazawa phản đối quan niệm cho IQ chỉ đơn giản là công cụ đo lường gián tiếp sự phồn vinh kinh tế nhờ cải cách giáo dục. Theo Kanazawa, thông minh được quyết định chủ yếu bởi di truyền.
Kanazawa đi đến kết luận:
Nói chung thông minh có thể là chìa khoá cho phép các cá nhân trong xã hội tiến hoá tân thời hiện nay nhận ra những nguy cơ cho sức khoẻ của bản thân và đương đầu với chúng một cách đúng đắn.
Dưới đây là 5 lĩnh vực thay đổi quan trọng trong môi trường làm việc ngày nay (dựa trên các nguyên tắc tâm lý học, xã hội học, kinh tế học,...) mà các nhà thực hành sức khoẻ tâm thần cần nhận thức và hỗ trợ cho thân chủ (các cá nhân, nhóm, công ty, v.v...) khi các vấn đề nghề nghiệp phức tạp không ngừng tăng lên:
1. Kinh tế và chính trị
Thực tiễn kinh tế và chính trị của một quốc gia tác động sâu sắc đến sự chọn lựa và cơ hội việc làm, cũng như vấn đề đền bù đối với các loại hình công việc.
2. Cấu trúc việc làm
Không có cấu trúc việc làm "kiểu mẫu" ở Hoa Kỳ, và các cơ hội việc làm nằm ở cả trong lẫn ngoài hệ thống nghề nghiệp truyền thống. Một trong những yếu tố đáng chú ý ảnh hưởng đến sự thay đổi cấu trúc công việc là các công ty xuyên quốc gia.
3. Toàn cầu hoá
Các nhà tâm lý học nên nhận ra rằng, cách thức sản phẩm hàng hoá và dịch vụ thương mại sẽ không ngừng thay đổi khi thị thường toàn cầu biến động.
4. Các yếu tố xã hội
Các nhà tâm lý học nên quan tâm tìm hiểu các nhóm xu hướng cộng đồng đang diễn ra và khả năng thay đổi các giá trị xã hội, luật pháp một khi những điều này có ảnh hưởng đến công việc tồn tại lâu nay và thuê mướn nhân công.
5. Công nghệ
Khi công nghệ tiến bộ, nhiều thay đổi xảy đến với các công việc lâu nay vẫn làm thế và đòi hỏi người lao động phải có kỹ năng hành nghề.
Ngoài ra, cũng cần nhấn mạnh thêm 3 vấn đề người lao động đang đối mặt:
1. Toàn cầu hoá tiếp tục làm cho các doanh nghiệp và người lao động lao đao; nó cũng sẽ không ngừng thay đổi phương thức trao đổi hàng hoá.
2. Diễn tiến sáng tạo công nghệ sẽ thay đổi một cách nhanh chóng nơi làm việc trong những dạng thức không dễ dự kiến.
3. Các quyền lực kinh tế mới sẽ xuất hiện và làm chuyển dịch quyền lực toàn cầu khỏi các nước phương Tây.
Một bài báo bao quát nhiều lĩnh vực rất ít gặp trên các tạp chí Tâm lý học.
Phân loại: IQ, Nghiên cứu, Tâm lý học Dân tộc, Tâm lý học Lao động, Thời sự