Tiếp theo loạt bài Tâm bệnh lý dưới cái nhìn của Con người- Trọng tâm Trị liệu, hôm nay và ngày mai trình bày chủ đề: rối loạn nhân cách ranh giới (BPD: Borderline Personality Disorder).

Người mắc BPD, theo
DMS-IV-TR, có thể biểu hiện nhiều dấu hiệu tràn khắp về tính bất ổn định trong các quan hệ liên nhân cách, hình ảnh về bản thân và cảm xúc, cũng như những xung động rõ rệt (APA, 2000).

Khoảng 2% dân số Hoa Kỳ mắc rối loạn này, trong đó ước tính 75% đối tượng là phụ nữ (
Paul Bennett, 2003).

Cô ấy có thể trải qua những kinh nghiệm loạn thần và phản ứng hoang tưởng, thường thuộc hiện tượng nhất thời.

Cuộc sống cá nhân của người mắc BPD có vẻ hỗn độn với việc tự phá huỷ và gây tổn thất cho các mối quan hệ, dấn thân vào những hành vi nguy hại như lạm dụng chất, quan hệ tình dục bừa bãi, và hành động phạm pháp.

Cô ấy có khuynh hướng buông thả quá độ, chẳng hạn ăn uống, hành vi tình dục và cờ bạc; đôi khi, có những cảm giác tan rã nhân cách (depersonalisation), lo sợ bị tấn công và trạng thái chập chờn mất ý thức.

Trong những tình huống náo loạn cấp tính, người mắc BPD có thể phải nhập viện; cuộc sống của thân chủ mắc BPD thường diễn ra giữa bệnh viện và cộng đồng (
Swildens, 1990 ).

Người mắc BPD không phải luôn luôn náo loạn; có những giai đoạn hành động của họ không mang tính 'ranh giới' (
Kroll, 1988) và với một số lĩnh vực quan trọng, chức năng của họ dường như không gặp trục trặc lớn (Swildens, 1991).

Nhiều nhà nghiên cứu khẳng định cỡ chừng 30-70% thân chủ cần trị liệu tâm lý mắc BPD (
Rohde-Dachser, 1979).


Khái niệm hoá Rối loạn Nhân cách Ranh giới

Trạng thái mâu thuẫn trong các điều kiện tưởng thưởng, thiếu vắng độ hiệu lực của các trải nghiệm, việc lạm dụng và sự xao lãng cảm xúc có thể góp phần làm quan niệm về cái tôi của thân chủ mắc BPD bị tổn thương, không kiên định.

Các trải nghiệm của cô ấy không ngừng bị lờ đi, chối bỏ, chỉ trích hoặc lăng mạ; và hậu quả là, cô ấy không đủ khả năng để phát triển quan niệm về cái tôi được thiết lập từ chính trải nghiệm riêng của bản thân.

Thay vào đó, cảm nhận của cô ấy về bản ngã được khởi đi từ xác định của người khác về những trải nghiệm của chính cô. Vì thế, cô không thể dựa vào trải nghiệm nội tâm như nguồn hướng dẫn hành động, cô không có nền tảng rõ ràng cho việc đáp ứng, và cô buộc phải nắm lấy những gợi ý chỉ dẫn kia để đáp ứng cho những tình huống tức thì (Bohart, 1990).

Cô ấy không chịu học hỏi để lắng nghe hoặc tin tưởng trải nghiệm riêng, và sự thiếu khả năng này hội tụ làm cô thêm khó khăn khi tiếp cận với những tình huống mà cô phải tạo nên ý nghĩa (Bohart, 1990).

Cái tôi của cô ấy thiếu vắng các ranh giới, sự nhất quán, tính liên tục và được bảo bọc; nó không ngừng bị đối xử như không có chút hiệu quả giá trị gì cho việc lượng giá và tích hợp các trải nghiệm mới (Swildens, 1990).

Cô ây có thể trải nghiệm tiến trình dễ gãy đổ (fragile process), nhận ra thật khó khăn để nắm bắt kinh nghiệm ở mức độ khiêm tốn, để rồi kết quả là, hoặc bị áp đảo hoặc nhận ra cực kỳ khó khăn để tiếp xúc với kinh nghiệm (
Warner, 2001).

Trong một số trường hợp, sự mỏng mảnh dễ gãy đổ quan niệm về cái tôi có thể là hậu quả của những trải nghiệm sang chấn cực kỳ ghê gớm, không thể tích hợp được với quan niệm về cái tôi cũng như không thể không bị bóp méo hoặc chối bỏ.

Dù một trải nghiệm chắc chắn, không chối cãi được như thế có thể bị ý thức lảng tránh-- chẳng hạn, dồn nén, gây ức chế (repression) hoặc phân ly (dissociation)-- thì nó vẫn lưu giữ một yếu tố bất hoà trong trải nghiệm về cái tôi.

Nếu một trải nghiệm tương tự xảy đến về sau, nó có thể là nguyên nhân gây hỏng hóc về mặt cảm xúc (emotional breakdown); nếu diễn tiến sớm hơn trong quá trình phát triển quan niệm về cái tôi, nó có thể tạo ra một cái tôi phân mảnh, hỗn độn.

Warner mô tả điều này như là tiến trình phân ly (dissociated process); tựa như một cơ chế phòng vệ chống lại trải nghiệm quá đau đớn khiến con người ta dễ có khả năng trải nghiệm những trạng thái phân ly kiểu hồn siêu phách tán, có thể phát triển kiểu con người cấu thành bởi những 'thành phần' tách biệt (Warner, 2000).

Thiếu vắng tính nhất quán và khả năng bảo bọc chắc chắn của cái tôi, người mắc BPD phản ứng với mối đe doạ bằng bất cứ phương thức nào chủ yếu nhằm đảm bảo sự sống sót.

Những sự phòng vệ như bóp méo (distortion), phóng chiếu (projection) , chối bỏ (denial) và chia tách (splitting)-- tất cả, nhằm gắng gìn giữ quan niệm cái tôi mỏng mảnh, dễ gãy đổ; hậu quả là, có những hành vi náo động, không dự đoán nổi, hỗn loạn (Swildens, 1990).

Tuy thế, các đáp ứng mang tính phòng vệ này xảy ra chỉ trong những tình huống mà cái tôi bị đe doạ bởi những kinh nghiệm mới. Một khi vắng mặt sự đe doạ đó, thân chủ có thể thể hiện tốt chức năng (Bohart, 1990; Swildens, 1990).

[Ngày mai, 23.12: Các vấn đề xảy ra trong mối quan hệ trị liệu với thân chủ mắc rối loạn nhân cách ranh giới]

Bài đăng Mới hơn Bài đăng Cũ hơn Trang chủ