Đọc mấy bài báo rất thú vị mới đây giới thiệu các phát hiện của giới nghiên cứu tiểu sử nước ngoài về Sigmund Freud (1856-1939)-- người khám phá cái chiều sâu lòng người, dẫn đến việc khai sinh Phân tâm học (Psychoanalysis) và đặc biệt về William James-- thường được gọi là "cha đẻ của tâm lý học hiện đại", tôi quyết định lật xem lại sách lịch sử tâm lý học do một số GS., PGS., Viện sĩ, TS. Tâm lý học Việt Nam biên soạn đã nói gì về W.James (Hoa Kỳ, 1842-1910).
@ Đơn cử, như cuốn Tuyển tập Tâm lý học của GS.VS. Phạm Minh Hạc dày 660 trang, khổ 16cm x 24cm [2002, Hà Nội: Nxb. Giáo dục] in đi in lại nhiều lần với số lượng lớn, nhưng phải tìm kỹ mới thấy đôi dòng nói đến W.James:
- "...các trường phái tâm lý học nội quan coi các trạng thái tâm lý... là những quá trình do niềm tin sinh ra trong bản thân "dòng ý thức" thường trực (Giêmxơ)" (tr.119, trong bài Thay lời tựa cho tác phẩm "Hành vi và Hoạt động");
- "Năm sáu năm tiếp đó (1913-1919), các nguyên lý đó (các nguyên lý cơ bản của thuyết hành vi) đã tự khẳng định xong hoàn toàn với tư cách là một trào lưu mới trong tâm lý học, đối lập với ý chí luận của Vunt, tâm lý học Giêmxơ,..." (tr.153, trong Chương II: Thuyết Hành vi mới);
- "Triết học thực dụng gắn liền với Piécxơ (1836-1914) và Giêmxơ (1841-1910). Triết học này coi chân lý là cái đưa con người tới mục đích, là cái có ích cho con người. Toàn bộ vấn đề là ở chỗ có thành công hay không thành công." (tr.361, trong Chương III: Những con đường phát triển tâm lý học khách quan),...
@ PGS. TS. Võ Thị Minh Chí- Lịch sử Tâm lý học [2004, Hà Nội: Nxb. Giáo dục]:
"V.Giêmxơ (1841-1910). Trong triết giới, ông là người theo chủ nghĩa thực dụng... Nhìn chung, Giêmxơ đánh giá hiện trạng của Tâm lý học không được lạc quan và cuối cùng kết luận là không nên gọi nó là khoa học.... Nguồn gốc xã hội của Tâm lý học chức năng là là chủ nghĩa thực dụng. Tính đến cái có lợi là điểm cơ bản, trên hết của tư tưởng này..." (tr.141- tr.143, trong Chương II: Cuộc đấu tranh tư tưởng trong giai đoạn hình thành tâm lý học như là một khoa học độc lập.).
@ Lịch sử Tâm lý học, "giáo trình dành cho đào tạo các sinh viên hệ cử nhân chuyên ngành Tâm lý học do Giáo sư, Tiến sĩ Tâm lý học Nguyễn Ngọc Phú soạn thảo. Giáo trình có thể dùng làm tài liệu tham khảo bổ túc kiến thức, tra cứu cho các học viên cao học và nghiên cứu sinh về tâm lý học" [trích Lời nói đầu, 2004, Hà Nội: Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội]:
- "Tại Mỹ, với các đại biểu là W.James (1842- 1910) và Angell (1869-1949), tâm lý học chức năng được hiểu như là "khoa học về chức năng của ý thức trong mối quan hệ của chúng đối với các đòi hỏi của cơ thể và trong sự thích nghi có hiệu quả của cơ thể đối với môi trường tự nhiên và xã hội đang được biến đổi xung quanh con người. Các lĩnh vực của tâm lý học, do thế, được mở rộng về căn bản, nó không chỉ bao gồm ý thức mà cả hành vi (các hành động thích ứng), các động cơ của các hành vi đó, các sự khác biệt cá nhân giữa các con người, các cơ chế của việc dạy học và nhiều vấn đề khác làm tâm lý học xích lại gần với thực tiễn." (tr.144, chú thích của sách: Từ điển Tâm lý học, A.V. Pê tơrôpski và M.G. Iarôsepski chủ biên, Nhà xb Chính trị quốc gia, Matxơva 1990, tr.434; trong Chương VIII: Tâm lý học Gestalt).
- "Về mặt lôgic, chủ nghĩa thực dụng đã đi đến chủ nghĩa phi lý dưới hình thức công khai ở W. James (1842-1910, nhà tâm lý học Mỹ). Chủ nghĩa thực dụng coi các qui luật và các hình thức của lôgic là những điều có ích." (tr.168, trong Chương IX: Tâm lý học Hành vi).
Thật quá dễ dàng khi gán nhãn cho tâm lý học James là "chủ nghĩa chức năng" (functionalism).
Song đó không phải là toàn bộ tâm lý học của James [Hunt, 1994: 154]; ngoài chủ nghĩa chức năng, còn có: bản chất của tâm trí (the nature of mind); dòng tư duy (the stream of thought; nổi tiếng hơn là thuật ngữ: "dòng ý thức"/ "stream of consciousness"); cái tôi (the self); ý chí (will); vô thức (the unconscious) và cảm xúc (emotion).
James không có hệ thống thực sự (had no actual system) và ông cố ý tránh việc trình bày các ý tưởng như một tổng thể nhất quán, bởi vì ông đã cảm thấy rằng còn quá sớm để phát triển một lý thuyết tâm lý học lớn lao bao trùm hết thảy (an all-embracing grand theory). Như Ralph Barton Perry nhận xét, James là nhà thám hiểm (explorer) chứ không phải là người vẽ bản đồ (mapmaker).
Chủ nghĩa thực dụng của James (James's pragmatism) không như sự khẳng định một cách quá đơn giản và thô thiển, rằng "chân lý là những gì cần thiết" ("truth is what works").
James phát triển triết lý về thực dụng sau khi rời bỏ tâm lý học, song chủ nghĩa này đã được gieo mầm từ Principles.
Thực ra, nó muốn nói rằng, nếu chúng ta so sánh các giải pháp xử lý đối lập nhau về một vấn đề, thì chúng ta có thể chọn lựa giải pháp nào chúng ta tin tưởng và tác động đến chúng ta. [Myers, 1986: 197]
Tin tưởng toàn bộ vào quyết định luận (determinism) có thể khiến chúng ta bị động và bất lực; tin vào ý chí tự do (free will) cho phép chúng ta đánh giá những cái thay thế khác, lập kế hoạch và hành động trên các kế hoạch đã vạch ra; do đó, nó thực tiễn và hữu dụng... [Hunt, 1994: 159-160]
Đến đây, tôi nghĩ, chẳng cần bình luận gì thêm; nhất là, cực kỳ sáo rỗng khi biết rằng, nói đến tâm lý học thì giới chuyên môn sẽ bắt đầu với việc trích dẫn W. James--- phần lớn vì tác phẩm nổi tiếng nhất của ông The Principles of Psychology đã đề cập hầu hết các lĩnh vực của khoa học nhận thức chính thống bây giờ.
Nhân tiện, cũng xin cung cấp một thông tin nhỏ.
Chỉ hai năm sau khi hoàn thành tác phẩm đồ sộ và đầy uy quyền Principles nói trên (1890, bắt đầu từ 1878), W. James viết:Thật là kỳ cục để nghe người ta nói một cách hân hoan về "tân tâm lý học" ("the New Psychology") và viết "Lịch sử Tâm lý học" ("Histories of Psychology"), khi mà những ảnh hưởng và yếu tố của lời phát biểu không bao trùm hết cái nhìn thoáng qua ban đầu về sự thấu hiểu rõ ràng đang hiện diện.
Một chuỗi các sự kiện thô; chút ít lời đồn thổi và ý kiến cãi cọ nhau; phân loại và khái quát hoá sơ sơ chỉ mô tả trên bề mặt; một định kiến sâu sắc rằng chúng ta có (have) các trạng thái tâm trí, và rằng bộ não chúng ta điều kiện hoá chúng: mà lại không phải là quy luật đơn lẻ theo nghĩa các quy luật của vật lý học, không phải là một kết luận duy nhất được suy ra từ quy luật nhân quả. Đấy không phải là khoa học, cùng lắm hy vọng nó là khoa học.
[James, 1948 [1892]. Psychology. Cleveland: World, p.468].
Phân loại: Câu chuyện Tâm lý học, Đọc sách, Học vấn, Nghiên cứu, Phương pháp luận, Tác giả và tác phẩm, Thời sự
Bài đăng Mới hơn Bài đăng Cũ hơn Trang chủ