Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam, thử xem xét tác động hai chiều giữa truyền thông đại chúng và thực tiễn Tâm lý học nước nhà

Lâu lắm, dễ chừng phải hơn một năm rồi tôi không có ý định chủ động xem TV hàng ngày nữa. Và thay vì mua đều đặn các nhật báo đọc mỗi buổi sáng, tôi chuyển sang lướt tin trên mạng vào bất cứ lúc nào thuận tiện.
Nhân sự kiện Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam 21.6, thú thực là tôi lo lắng rằng hằng hà sa số chuyện trời ơi đất hỡi, cùng cách đưa tin giật gân đường bệ chiếm chỗ, bắt mắt bùi tai trên mấy tờ lá cải được xếp vào loại hàng đầu Việt nam sẽ gây nhiễm độc bản thân mình.
Blog Cái tôi mãi ấn tượng với thời xa vắng chịu khó lọ mọ kiểm tra vì thấy bực mình tưng tức không kiềm lòng nổi; thậm chí, đâm chán bỏ qua luôn, gần đây chẳng thiết ngó ngàng tới.
Và cá nhân vẫn chưa thôi hoài nghi, định kiến mỗi lần thấy báo mạng Việt Nam đăng tải bản tin-- chủ yếu dưới dạng chuyển ngữ từ các tờ báo phổ thông nước ngoài-- liên quan đến Tâm lý học.
Thói đời, tất cả chúng ta đều định kiến do phơi nhiễm thông tin xuất phát bởi bạn bè, những gì đọc thấy, hoặc sự lựa chọn của chính ta.
Tôi hồ đồ cảm nhận, mức độ phủ trùm khoa học trên các phương tiện truyền thông đại chúng tại Việt Nam-- đặc biệt lĩnh vực Tâm lý học-- còn quá nghèo nàn, đơn điệu và xem chừng, nhiều thứ trong đó đa phần đã bị bóp méo, sai lệch.
Chắc chắn, mấy độc giả bình dân biết tới hay giới trí thức rất hiếm người theo dõi các trang điện tử chính thống đầu ngành thể hiện èo uột, lơ lửng như đây và đây chẳng hạn.
Còn các Trung tâm, công ty, tổ chức làm dịch vụ tâm lý thì đa dạng hơn, song lại khó đảm bảo độ tin cậy về nội dung và tư cách chuyên môn; chưa nói, chủ yếu họ đăng lại tin của các báo khác trong nước với một thái độ thiếu chuyên nghiệp và coi thường nguyên tắc xử lý thông tin.
Buồn vui lẫn lộn khi blog Cái tôi được/ bị không ít tờ đủ mọi thể loại - chứ không nhất thiết chuyên về Tâm lý học - ngó ngàng tới và nhiệt tình lượm bài, song hầu hết những đơn vị kinh doanh này chẳng thèm hê cho chủ nhân blog biết một tiếng, nói chi đến việc ghi rõ đầy đủ tuổi tên, đường dẫn.
Điều thú vị, khi truy cập các website liên quan đến Tâm lý học nêu trên, chúng ta sẽ dễ dàng nhận ra tính chất 'lẩu thập cẩm', nháo nhào pha trộn; ảnh hưởng của truyền thông đại chúng lên chúng do đó, là rõ ràng.
Bây giờ, blog Cái tôi sẽ sử dụng các nghiên cứu của nước ngoài để minh họa cụ thể hơn tác động hai chiều giữa truyền thông đại chúng và thực tiễn hành nghề của ngành Tâm lý học.
[Nếu bạn đọc phát hiện bất cứ nghiên cứu nào có liên quan đến đề tài do quốc nội tiến hành thì vui lòng thông báo giúp].
Phân tích định tính 500 bài báo viết về sức khỏe từ báo chí chính thống của Hoa Kỳ, tác giả Gary Schwitzer thu được kết quả thật ảm đạm.
Chỉ có 35% số câu chuyện thỏa mãn yêu cầu nhờ nhà báo đã "bàn thảo về phương pháp luận nghiên cứu và chất lượng của sự kiện": bởi vì với giới truyền thông, khoa học thuộc dạng phát ngôn mang sự thật tuyệt đối từ các nhân vật hết sức quyền uy trong bộ áo choàng trắng, hơn là mô tả sáng rõ các nghiên cứu, và lý giải tại sao từ đó rút ra được kết luận.
Chỉ 33% đủ sức gây tác hại tương xứng. Ngoài ra, các bài báo thường thất bại trong việc cung cấp thông tin định tính hữu ích bằng các thuật ngữ thuần túy.
Nhận định trên chẳng có gì mới, bởi điều tương tự cũng thấy ở Canada và Úc cũng như nước Mỹ một thập niên trước. Bất chấp những gì họ nói trong các cuộc điều tra về sự tin tưởng vào bác sĩ và các đấng chăn dắt thì thực tế, người đời lắng nghe các nhà báo. Đây không phải suy đoán vu vơ.
Bộ ngực của nhân vật Kylie Minogue góp phần khiến cho số lượng đăng ký chụp tia X để phát hiện khối u vú có sự khác biệt rõ rệt trước, trong và sau khi giới truyền thông, quảng cáo đưa tin cô bị ung thư vú.
Tìm hiểu 5 nghiên cứu xem xét việc dùng các phương thức can thiệp lành mạnh trước và sau khi truyền thông đăng bài "đinh" về các câu chuyện đặc thù đã phát hiện ra rằng, quảng cáo được ưa thích thì có đông người theo hơn, còn quảng cáo ít người chuộng thu hút đối tượng dùng ít.
Giới kinh viện cũng bị ảnh hưởng bởi các bài báo "đinh" từ trang bìa. Nghiên cứu của tác giả Phillips và cộng sự thật đáng suy ngẫm.
... Truyền thông quốc tế cũng như Việt Nam đang không ngừng chuyển biến với tốc độ ghê gớm, đồng thời nhân loại cũng đang chứng kiến sự thay hình đổi dạng phương thức học hỏi thông qua đối thoại và dấn thân, làm thành viên trong cuộc.
Hiện tại, quảng đại quần chúng ở Việt Nam vẫn chưa có thói quen đọc có phê phán, tìm kiếm thông tin nhiều chiều.
Có vẻ, mọi người ngày càng thích đọc báo, xem truyền hình. Giới chuyên môn trong nước thì còn mãi bận tâm ở tận đẩu tận đâu với hành tung nhuốm màu bí hiểm.
Rốt cục, cho dù mọi thứ chúng ta nghĩ là chúng ta hiểu biết thì nội dung của báo chí vẫn cứ lặng lẽ xuyên thấm sâu xa vào cộng đồng; chúng ta tin chúng là sự thật, và chúng ta hành động dựa theo những gì báo chí cung cấp.
(Nguồn ảnh)
Nhân ý kiến cực kỳ bất ngờ (rất xứng đáng để được bàn luận kỹ càng hơn sau này) của PGS. TS. Nguyễn Ánh Tuyết đề nghị 'không nên gọi đó là bệnh tự kỷ mà nên gọi tên đích xác của nó là bệnh rối loạn tâm thần', trước hết blog Cái tôi sẽ thử tìm cách giải thích thật ngắn gọn các tiêu chí của DSM-IV về Tự kỷ (autism).
Theo đó, Tự kỷ và các rối loạn khác có liên quan được phân loại trong một khái niệm rộng hơn là các "rối loạn phát triển lan tỏa" (PDD: Pervasive Developmental Disorders).
Các rối loạn này bao gồm: rối loạn Tự kỷ (Autistic Disorder), rối loạn Rett (Rett's Disoder), rối loạn tan rã của trẻ em (Childhood Disintegrative Disorder) , rối loạn Asperger (Asperger's Disorder) và rối loạn phát triển lan tỏa không xác định khác (Pervasive Developmental Disorder NOS).
Ở đây, sẽ chỉ tập trung vào các triệu chứng và dấu hiệu của Tự kỷ.
Việc chẩn đoánTự kỷ dựa trên các triệu chứng cơ bản quan sát thấy hoặc qua báo cáo trong phạm vi 3 nhóm loại tiêu chuẩn.
1. Rối loạn định tính/ chất lượng trong sự tương tác xã hội, như là:
- a) rối loạn trong việc sử dụng các hành vi không lời (ví dụ, mắt nhìn chằm chằm, biểu lộ động dung khuôn mặt, v.v...),
- b) không theo kịp khả năng phát triển độ tuổi tương ứng trong quan hệ với bạn cùng trang lứa, thiếu vắng sự tìm kiếm tự phát niềm vui, mối quan tâm, hoặc thành tựu với những bạn khác (cậu/ cô bé có chỉ cho bạn thấy điều gì đó cháu làm không, có mời bạn chơi cùng cháu, v.v...)
- và c) thiếu vắng cảm xúc hỗ tương qua lại (cậu/ cô ấy cảm thấy buồn khi bạn buồn? Cháu biểu hiện sự lo lắng khi chính bạn tự gây đau bản thân mình, v.v...).
Để chẩn đoán, phải có ít nhất 2 trong các triệu chứng vừa nêu.
2. Rối loạn định tính trong giao tiếp, như là:
- a) chậm trễ hoặc thiếu hụt trong sự phát triển ngôn ngữ nói,
- b) thiếu khả năng khởi đầu và duy trì cuộc trò chuyện với những người khác,
- c) ngôn ngữ lặp đi lặp lại và mang tính định hình (lặp lại những từ cuối cùng trong câu bạn nói hoặc lặp lại một cách thường xuyên một cụm từ ngữ cháu nghe thấy được) hoặc ngôn ngữ lập dị (cậu/ cô bé ấy có dùng câu chữ, ngôn ngữ riêng mô tả các đối tượng đặc thù, v.v..., cao hơn mức mong đợi cơ bản phù hợp với lứa tuổi của cháu),
- và d) thiếu vắng việc làm khác đi, tự phát để tạo nên sự tin tưởng hoặc chơi tương tác (cháu có ý định chơi? Muốn tham gia để hợp tác chơi với các bạn cùng trang lứa?)
Để chẩn đoán Tự kỷ, phải có ít nhất 1 trong các tiêu chuẩn vừa nêu.
3. Các họat động, mối quan tâm và hành vi mang tính định hình, lặp đi lặp lại, thu hẹp, như là
- a) tâm trí bị thu hút khác thường trong cường độ hoặc tiêu điểm chú ý tới một hoặc nhiều mẫu thức thể hiện sự thu hẹp và định hình (cậu/ cô ấy bị ám ảnh bởi bát đĩa? Dây ăng-ten? Đất nước Argentina? Các chấm đỏ? vượt lên cao và xa hơn hẳn xã hội thông thường - do đó, không kể vào đây hầu hết trường hợp ám ảnh bởi các trò chơi video games),
- b) bám chặt không chịu từ bỏ các thói quen riêng có, phi chức năng (luôn luôn có nhu cầu tắt đèn trước khi mở cửa nhà, chẳng hạn),
- c) các cơ chế vận động mang tính lặp đi lặp lại và định hình (rung tay, vặn xoắn bàn tay,...),
- và d) ám ảnh dai dẳng với các phần của đồ vật, đối tượng (cậu/ cô ấy có thể dành hàng tiếng đồng hồ liền để nhìn chòng chọc vào sợi dây điện của chiếc quạt bàn, đầu bút,...?).
Để chẩn đoán Tự kỷ, phải hiện diện ít nhất 1 trong các biểu hiện vừa nêu.
Ngoài các triệu chứng dẫn trên, phải có tiền sử chức năng biểu hiện bất thường trước 3 tuổi ở ít nhất một trong các lĩnh vực như sau: tương tác xã hội, sử dụng ngôn ngữ khi truyền thông xã hội, và chơi các trò mang tính biểu tượng hoặc tưởng tượng.
Hơn nữa, nếu thỏa mãn chẩn đoán Rối loạn Rett hoặc Rối loạn Tan rã của Trẻ em thì các chẩn đoán đấy thay thế chẩn đoán Tự kỷ và không nên chẩn đoán Tự kỷ.
Cuối cùng, cần lưu ý rằng vấn đề chậm phát triển tâm thần không được nhấn mạnh ở bất cứ tiêu chí chẩn đoán Tự kỷ nào. Lý do: 2 chẩn đoán tách biệt nhau thì không có liên hệ về mặt phân loại học.
Phân loại: Học vấn, Phương pháp luận, Tâm bệnh học, Tâm lý học Lâm sàng, Trẻ em, Truyền thông, Tự kỷ

Thực tế cần quán triệt là, nhà trị liệu (tham vấn) được thân chủ nhìn nhận dưới một ánh sáng khác biệt.
Nhà trị liệu cũng nên nhận ra rằng, các ấn tượng này thuộc vấn đề viễn tượng và ít nhiều khác hẳn thực tế-- so với những gì do chính nhà trị liệu hoặc thân chủ tưởng tượng ra.
Như sự tự hiểu mình của thi sĩ Robert Burns: Thượng Đế cho chúng ta thứ quà tặng nhỏ nhặt nhất để bản thân có khả năng nhìn thấy chúng ta như người khác nhìn thấy.
Về nguyên tắc, tất cả chúng ta đều có món quà đó (dường như ngoại trừ đối tượng mắc Tự kỷ, song đó là một câu chuyện khác).
Trong thực tiễn đời sống, món quà ấy thường chưa được sử dụng hết khả năng, đặc biệt ở bối cảnh phòng trị liệu.
Ta biết rõ, ta chỉ có duy nhất hai bộ áo quần đắp đổi: thân chủ lại nhìn thấy ta trông thật tươi tắn, bảnh bao.
Ta biết rõ là ta đang trọ trong một căn phòng chật hẹp vừa để ngủ, làm việc và tiếp khách. Thân chủ cứ hình dung ta sở hữu một căn hộ riêng rộng rãi.
Ta biết sáng nay vội vàng ta chưa kịp dọn giường và ngăn đựng thức ăn trống rỗng, còn có vài thanh lương khô và gói bánh Ritz. Thân chủ đoán ta là người luôn luôn chu đáo, gọn gàng, ngăn nắp.
Ta biết đêm qua ta tranh cãi gay gắt với một người. Thân chủ nghĩ chắc là ta không bao giờ bị xuống tinh thần.
Việc tiếp xúc hạn chế mà nhà trị liệu có với thân chủ cho phép nhà trị liệu phô ra một hình ảnh xem chừng khó mà nhận ra nổi, thậm chí, thành thật là không thể tin được-- đối với người thân trong gia đình và bạn bè ta.
Tính chuyên nghiệp của nghề trị liệu tâm lý đòi hỏi sự rõ ràng, minh bạch và trạng thái bình tĩnh đến độ dường như không thể đạt tới với ai đó mà cuộc đời đang chịu sự va đập, tan nát tứ bề xung quanh họ.
Thân chủ hiếm khi biết rằng nhà trị liệu có thể chỉ duy trì tâm thế ấy mỗi lần tiếp xúc cùng họ trong một tiếng đồng hồ.
Điều này không phải để nói rằng, nhà trị liệu nên lấy làm khoái trá với thân chủ trước những câu chuyện ngớ ngẩn, lạc lõng và bất tương xứng, thiếu năng lực, có vẻ yếu đuối về mặt xã hội của chính bản thân mình.
Mặt khác, nhà trị liệu cũng chẳng nhất thiết phải làm bộ làm tịch, thu hút sự chú ý của công luận, rồi nhìn bản thân mình cực kỳ xa lạ so với thân chủ.
Những dòng tâm sự bên dưới phản ánh sự khác biệt giữa bộ phận nhân viên văn phòng với thân chủ (toàn bài ở đây):
Tôi là một kẻ thường trú nơi này. Còn ông có quyền nắm giữ ở đây.
Tôi phải nhập viện. Ông vào chỗ mới, thay đổi vị trí.
Tôi có nhiều vấn đề về hành vi. Ông thô lỗ.
Tôi không phải là kẻ dễ nhượng bộ. Ông chẳng hề thích được bảo phải làm gì.
Khi tôi xin phép ông ra ngoài ăn chiều, đó là cuộc đi chơi. Khi ông đề nghị ai đó ra ngoài, đó là cái hẹn.
Tôi không biết có bao nhiêu người đã đọc hồ sơ bệnh án của tôi, thậm chí, tôi còn chẳng biết trong đó viết những gì. Đã một tháng, ông không nói với người bạn thân nhất của ông sau khi cô ấy đọc nhật ký của ông.
Nhân tiện, chúng ta thử tham khảo tài liệu khám phá các trải nghiệm của bệnh nhân thông qua thư tín cá nhân giữa họ với người thân và giám thị trông nom tại Nhà Thương điên Gloucester những năm 1827-1843 (Vương quốc Anh).
Đôi lúc, thật hữu ích để nhà trị liệu tự nhắc nhở bản thân về cách thức ta được nhận biết từ cái nhìn ở chiếc ghế bên kia.

Trước mặt tôi vào lúc bấy giờ, tư tưởng vẫn còn là một vùng trời có nhiều sương khói, mênh mông vẫn là những câu hỏi và những tìm kiếm. Khi tôi nhận ra điều đó tôi thấy mình trở nên nhẹ nhõm hơn. Trong chỗ sâu thẳm nhất của bản thân tôi dần dần hiểu ra thật rõ ràng,“ở nơi đây” sự hiện diện của tôi có phần không khác gì mấy với sự hiện diện của một người “khách” trên những đường dây giao liên. Bằng sự nhậy bén chính trị của mình, những cán bộ tư tưởng của Đảng dường như đã nhận ra điều đó. Còn tôi thì dần dà ý thức được điều đó rõ hơn, và đã đi đến chỗ chấp nhận như chuyện đương nhiên, không phải như một thách đố kênh kiệu mà chính là để giữ được mãi mãi cho mình sự tự do chọn lựa như tôi đã từng dùng sự tự do chọn lựa ấy khi bỏ nhà ra đi.
Hồi ký Những Chuyến Ra Đi của tác giả Lữ Phương đã được viết xong từ năm 1999.
Tôi không tiếc nuối gì về sự dấn thân của mình: tất cả chỉ là những trải nghiệm để hiểu hiện thực như cái sống thực chứ không phải là những tư biện trong tháp ngà. Không có sự dấn thân đó, tôi không thể biết thế nào là thực chất của cuộc cách mạng nhân danh “vô sản” để giải phóng những người lao khổ, điều mà tôi chỉ hình dung qua những huyền thoại suốt thời niên thiếu. Không có sự thể nghiệm bản thân, tôi cũng không thể hiểu con người mình nhiều hơn. Một cách nhìn khác về mọi việc dường như đã hình thành dần trong tôi từ đó, buồn bã nhưng cũng bình thản. Súng đạn nhiều khi được xem là cần thiết nhưng không thể nào là một niềm vui. Trong chính trị không thể có một chọn lựa tuyệt đối nào để ta phải hy sinh suốt cả một đời cho nó, các học thuyết này học thuyết nọ chỉ là những nỗ lực đi tìm, không học thuyết nào mang lại được lời giải đáp một lần cho xong ý nghĩa cuối cùng cho đời sống một con người.
Tôi vừa mới chỉ đọc lướt một lần, cảm thấy thật tâm đắc vô cùng hai đoạn trích trên.
Nếu cảm thấy hơi căng thẳng với cái tình hình mơ hồ trừu tượng của một thời ám ảnh ấy, mời bạn quay về hiện thực sát sườn để tạm giải trí với bài Bún... quát! vậy.
Phân loại: Đạo đức, Học vấn, Khái niệm cái tôi, Kỹ năng sống, Ô, Phương pháp luận, Tâm lý học Dân tộc, Tâm lý học Quản lý
(nguồn)
Theo hướng dẫn, các mẹo mực hàng đầu để giúp trẻ nhỏ mắc Rối loạn Phổ Tự kỷ (ASD) sẽ bao gồm một số lĩnh vực chính yếu: hành vi, giao tiếp, cảm giác, tương tác xã hội và các nguyên tắc chung.
@ Hành vi
- Thách thức hành vi thường là nỗ lực nhằm giao tiếp-- không phải thứ vô tích sự.
Gắng định dạng điều khởi phát hành vi. Định dạng các nguồn gây lo lắng.
- Xem chừng việc trẻ tỏ ra xung hấn, giận dữ tựa như thể trẻ bé hơn bị chậm phát triển cảm xúc.
- Nhất quán trong mọi điều bạn thực hiện.
Thảo luận các vấn đề hành vi với người khác và chắc chắn rằng mọi người tán đồng với cách tiếp cận bạn đang tiến hành.
- Luôn không ngừng khuyến khích những sự đổi thay nhỏ nhặt hàng ngày.
- Bảo với trẻ những gì bạn mong đợi cháu làm, chứ đừng nói ra những gì bạn không muốn.
- Nhớ rằng các kỹ thuật thông dụng khiến trẻ lo lắng thấy bình lắng lại-- như ôm ấp hay cho ngồi lên đùi-- có thể phản tác dụng với trẻ mắc ASD.
- Đừng cố chấm dứt hành vi kỳ quặc hoặc lặp đi lặp lại (định hình, rập khuôn) trừ khi việc đó quấy rầy chuyện học hỏi hay đe dọa sự an toàn của trẻ khác.
Tốt hơn nên điều chỉnh hành vi của cháu.
- Động viên trẻ đề nghị được giúp đỡ trước khi trẻ rơi vào hụt hẫng.
- Tác động vào mối quan tâm và những đam mê của trẻ nhằm nâng cao động cơ học hỏi các kỹ năng mới.
@ Giao tiếp
- Đơn giản hóa câu chữ.
Phải rất riêng biệt, cụ thể.
- Nhớ rằng ngôn ngữ đa phần là sự diễn dịch ra thành câu chữ.
- Tránh mỉa mai, châm chích.
Dùng lối nói ẩn dụ dễ gây bối rối cho trẻ.
- Đầu tiên gọi tên trẻ để gây sự chú ý, ngay cả khi đang với cả đám đông.
- Mỗi lúc chỉ nêu lên một hướng dẫn. Cần cho trẻ đủ thời gian để hiểu yêu cầu rồi mới đáp ứng nổi hướng dẫn của bạn.
Điều này cần đòi hỏi thời gian nhiều hơn ở trẻ mắc ASD.
- Khuyến khích tiếp xúc bằng mắt, nhưng đừng nài nỉ nếu chuyện ấy gây lo sợ cho cháu.
- Ý thức rõ các diễn đạt vẻ mặt và cử chỉ có thể gây hiểu nhầm.
- Các biểu hiện thị giác có thể hỗ trợ cho ngôn ngữ thành lời.
- Hồ hởi trước những nỗ lực giao tiếp của trẻ.
@ Cảm giác
- Trẻ mắc ASD có thể bị xao lãng bởi những tiếng ồn thông thường do người khác không cố ý tạo ra.
Thậm chí, tiếng ồn nhỏ hơn cũng có thể quấy nhiễu với một số trẻ.
- Trẻ có thể cảm thấy quá tải trước những kích thích thị giác, với sự tiếp xúc thể chất ở khoảng cách quá gần gũi.
@ Tương tác xã hội
- Các kỹ năng xã hội không tự nhiên hình thành, mà chúng cần được dạy dỗ thật chi tiết.
- Giúp trẻ dần nhận ra rằng, người khác có những cảm nhận và suy nghĩ có thể khác biệt với chúng.
- Trẻ không chú tâm vào những gì bạn cho là hiển nhiên-- hãy thể hiện mọi thứ rõ ràng.
- Một số trẻ cần thêm thời gian hoặc sự lặng yên để lĩnh hội những yêu cầu khi trao đổi với người khác.
- Cần hiểu sự khó khăn của trẻ khi chúng diễn dịch các tình huống xã hội.
Cần có mô hình và sự gợi ý, nhắc nhở chính xác hành vi xã hội.
@ Các nguyên tắc chung
- Theo lệ thường, trẻ mắc tự kỷ phát triển nhanh, mau lớn.
Các liệu trình nên cấu trúc thật rõ ràng, dễ dự đoán.
- Dù lề thói hàng ngày là quan trọng, cũng nên tạo ra thích nghi uyển chuyển nhằm giúp trẻ đương đầu với vài thay đổi nho nhỏ trong một môi trường được nâng đỡ.
- Thay vì bảo với trẻ "tìm việc gì đó để làm", hãy thử chỉ cho trẻ biết những gì chúng có thể làm và đưa ra các ví dụ về sự sáng tạo trong công việc.
- Khuyến khích sự khái quát hóa các kỹ năng, dạy cho trẻ thực hiện nhiệm vụ tương tự trong các tình huống khác nhau.
- Kiên trì.
Tiến trình có thể diễn ra chậm chạp và các kết quả nhiều khi rất khó nhìn thấy tức thì.
- Ung dung tự tại, tích cực và nhất quán.
- Mỗi đứa trẻ mắc ASD có những khả năng và nhu cầu riêng-- những gì phù hợp với đứa này chưa chắc thích đáng với đứa khác.
- Mỗi đứa trẻ có thể đang dở người, gặp điều khó chịu.
Đừng cảm thấy có lỗi nếu nhiều chuyện diễn ra chẳng tốt đẹp như ý muốn.
(Dưới bàn tay của trẻ tự kỷ, giấy và kéo có thể diễn tả một thứ quang phổ kỳ thú)
Phân loại: Học vấn, Não-Thần kinh, Nghiên cứu, Phương pháp luận, Trẻ em, Tự kỷ
(nichd.nih.gov)
Theo bài báo trên tờ Sciencedaily, có mối liên quan giữa bệnh tâm thần của bố mẹ và hội chứng tự kỷ ở trẻ.
Nghiên cứu xem xét các báo cáo tại bệnh viện Thụy Điển trẻ em sinh từ 1977 tới 2003 được chẩn đoán là tự kỷ, và so sánh số đối tượng này với những trẻ không mắc.
Sau đó, nhóm nghiên cứu khảo sát tỷ lệ nhập viện vì các bệnh tâm thần của bố mẹ thuộc cả hai nhóm.
Sẽ không thừa, khi lưu ý rằng, một sự gắn bó không phải là liên quan mang tính nhân quả, và nghiên cứu nêu trên không khẳng định bố mẹ tâm thần nên con bị tự kỷ.
Hiểu thấu đáo chuyện tự kỷ có thể chiếm ưu thế cao hơn trong những gia đình mang tiền sử về bệnh tâm thần; bất luận mối liên quan tới môi trường (ví dụ, thông qua môi trường nuôi dạy trẻ trong gia đình) hoặc bởi di truyền, hay cả hai; suy cho cùng, tất cả đều góp phần giúp chúng ta biết cách nỗ lực ngăn ngừa cũng như chăm chữa cho trẻ tốt hơn.
Phân loại: Hôn nhân-gia đình, Nghiên cứu, Phương pháp luận, Sức khỏe tâm thần, Tâm bệnh học, Trẻ em, Truyền thông, Tự kỷ

Chúng bao gồm đoạn băng nổi tiếng về chim bồ câu chơi bóng bàn; đích thân Skinner điều kiện hóa (conditioning) một chim bồ câu chuyển hướng hoàn toàn; và một chim bồ câu học cách dùng vật hình khối để chạm tới "quả chuối" treo trên cao (bóng gió xa xôi tới nghiên cứu "sự thấu hiểu nội tâm"/ "insight" của Wolfgang Kohler với một tinh tinh tên là Sultan).
Ba vidéo còn lại: các bảng biểu giải thích kèm minh họa khá dễ hiểu về sự củng cố; đánh giá ngắn gọn của chuyên gia phân tích hành vi Murray Sidman; và một phỏng vấn nhanh Skinner về điều kiện hóa, tự do ý chí và chuyện cờ bạc.
B. F. Skinner (1904- 1990) từng được đánh giá là "nhà tâm lý học nổi tiếng nhất thế giới" [Horthersall, David, 1984. History of Psychology. Philadelphia: Temple University Press, pp. 394-395].
Suốt cuộc đời dằng dặc của mình, Skinner lưu giữ cái nhìn của một nhà hành vi cực đoan rằng các thứ "chủ quan" như tâm trí, suy nghĩ, trí nhớ và nhận thức không hề tồn tại, mà chỉ có duy nhất "các cấu trúc phát ngôn (verbal constructs), những cạm bẫy ngữ pháp (grammatical traps) khiến giống người trong sự phát triển ngôn ngữ rơi vào", "các thực thể có thể giải thích được" ("exlanatory entities") tự thân chúng không thể lý giải nổi.
Mục tiêu của Skinner chẳng hề muốn chú mục tìm hiểu tâm thần của con người mà ông quan tâm đến việc hành vi được tạo ra bởi các nguyên nhân bên ngoài như thế nào.
Skinner không một chút nghi ngờ, phân vân về tính đúng đắn trong quan điểm nêu ra, như chính ông viết trong phần tiểu sử tự thuật sơ lược-- cũng được thể hiện trong bộ tác phẩm 3 cuốn-- rằng "(chủ nghĩa hành vi) có thể không cần được làm rõ, cũng không cần được tán đồng" [Boring, Edwin G. & Lindzey, Gardner, eds., 1967. A History of Psychology in Autobiography. New York: Appleton-Century-Crofts, p.410].
Giống như Watson, Skinner là con người ưa thích tranh luận, một đối thủ khiêu khích và một nhà quảng cáo đại tài.
Tại nhiều thời điểm khác nhau, ông dường như đã đem lại sự phấn khích, gây bực bõ bằng việc mô tả các thuật ngữ liên quan đến việc hiểu biết hành vi con người:Hành vi... hãy còn thuộc về bản chất của con người, và có một "tâm lý khác biệt nhau giữa các cá nhân" bao quát trong đó người ta so sánh và mô tả ám chỉ đến tính cách, năng lực và khả năng. Hầu hết những ai quan tâm đến con người... sẽ tiếp tục nói về hành vi con người trong cách thức tiên tri này.
[Hunt, Morton, 1994. The History of Psychology. New York: Anchor Books, pp. 268-269].
Và chắc chắn, những ai quan tâm, ái mộ trị liệu hành vi thật khó hài lòng với định nghĩa trào phúng trong từ điển của tiến sĩ Mezmer:
Chủ nghĩa Hành vi: một trường phái tâm lý học, hiện đang tồn tại, được hình thành trên yếu tính rằng ta là những gì ta làm, và ta làm là vì những gì ta từng làm.
Nó được thay thế bởi Tâm lý học Nhân văn (ta là những gì ta cảm nhận), Khoa học Nhận thức (ta là những gì ta nghĩ), Tiến sĩ Atkins (ta là những gì ta ăn) và quảng cáo tân thời (ta là những gì ta thấy).

Các cuộc điều tra khoa học về nguyên nhân của tự kỷ vẫn tiếp tục được bao bọc trong một bầu không khí tranh luận đầy xúc cảm.
Nhiều bậc phụ huynh-- do thiếu kiên nhẫn khi tìm kiếm lời giải thích cho các vấn đề của con em mình-- đổ tội cho vaccines, đặc biệt do chúng dung dưỡng chất thủy ngân.
Tuy nỗi sợ vaccines hiện chẳng còn được tín nhiệm nhờ nhiều bằng chứng hiển nhiên, thì câu chuyện ấy vẫn tiếp tục lưu giữ các yếu tố môi trường có vẻ khá hợp lý như thủy ngân-- chất xem chừng tàn phá ghê gớm sự phát triển bào thai, góp phần tạo nên nguy cơ mắc tự kỷ.
Một nghiên cứu mới đây tiến hành tại các trường cấp quận thuộc tiểu bang Texas (Hoa Kỳ), tiến sĩ Raymond Palmer đã phát hiện mối tương quan sâu sắc giữa khoảng cách của chất gây ô nhiễm và tỷ lệ mắc tự kỷ.
TS. Palmer đối chiếu các số liệu thu thập được trong khoảng 1998 đến 2002 tại cơ quan Giáo dục Texas và cơ quan Bảo vệ Môi trường, với đối tượng nhắm tới là sự phóng thích thủy ngân của các công ty, xí nghiệp và nhà máy điện.
Mối tương quan rõ ràng có thể thấy ngay: từ mỗi 1.000 pound (cỡ 453,6 kg) thủy ngân của các công ty, xí nghiệp và nhà máy điện, có chừng 2,6% và 3,7% mức tăng tương ứng chứng tự kỷ.
Sự khác biệt 1% xem chừng phản ánh mức tăng nguy hiểm theo các cách thức khác biệt của hiện tượng phân tán chất thủy ngân, song điều này là quan trọng thứ yếu vì những gì được hiểu chỉ là sự ô nhiễm thủy ngân có vẻ đem lại nguy cơ ghê gớm đối với sự phát triển não bộ.
Mối tương quan thú vị hơn đã được TS. Palmer chứng thực nhờ việc vẽ bản đồ các khoảng cách giữa trường học trong quận và chất gây ô nhiễm.
Ông nhận ra rằng cứ mỗi khoảng cách 10 dặm (tương ứng 16.093,44m) từ một công ty hay nhà máy điện, thì kéo theo tỷ lệ nguy cơ tự kỷ tương ứng là 2,0% và 1,4%.
Khi không khí và nước bị ô nhiễm được giảm bớt nhờ khoảng cách, các con số tương ứng là bằng chứng môi trường trong thời gian mang thai có thể làm sai lệch sự phát triển bình thường.
Tuy thế, bằng chứng này phải được dùng một cách cẩn trọng, bởi có rất nhiều yếu tố tiềm năng cực kỳ phức tạp.
Chẳng hạn, TS. Palmer không xét đến tiềm năng của các yếu tố nhân khẩu học khác tác động tới khoảng cách với các chất gây ô nhiễm.
Điều này giống như chuyện hàng xóm sống gần các nhà máy thì bị ô nhiễm nặng nề hơn so với giai tầng kinh tế thấp hơn của bố mẹ.
Dĩ nhiên, các bậc phụ huynh tại Texas chẳng nên hoảng loạn quá với những phát hiện mang tính khởi đầu như nghiên cứu vừa nêu trên.
Thực tế, có rất nhiều cách thức để diễn giải chúng, song chí ít chúng hàm ý đòi hỏi nghiên cứu sâu thêm trong tương lai.
Một nghiên cứu tương tự cho thấy có mối liên quan giữa tỷ lệ tự kỷ tại California với các các loại thuốc trừ sâu, và như thế tự kỷ có thể được khởi phát hoặc làm trầm trọng thêm-- tuy nhỏ bé song đang tăng lên-- từ các yếu tố môi trường.
Đến đây thử tìm hiểu vấn đề tự kỷ từ góc độ phương thức chẩn đoán lâm sàng.
Một bài báo đăng trên The Economist viết về cái gọi là "đại dịch tự kỷ"-- vốn thu hút sự chú ý cao độ của giới truyền thông-- cho thấy việc tỷ lệ tự kỷ tăng lên có thể chỉ đơn giản là do sự thay đổi trong cách thức chẩn đoán các vấn đề phát triển.
Dựa trên một nghiên cứu rằng, làm điều gì đó thực sự đơn giản-- các nhà nghiên cứu theo dõi 38 người hồi còn bé đã được chẩn đoán là bị trục trặc, chậm phát triển ngôn ngữ và quyết định lượng giá lại vấn đề nhờ sử dụng các phỏng vấn chẩn đoán tân tiến nhất.
Họ dùng ADOS (thời gian biểu ghi nhận quan sát và họat động trẻ) và ADI (một phỏng vấn dành cho phụ huynh).
Sự kết nối này thường được đánh giá là 'tiêu chuẩn vàng' để một chẩn đoán đáng tin cậy và hiểu rõ.
Toàn bộ đối tượng trong nghiên cứu vốn được chẩn đoán ban đầu liên quan với một vấn đề phát triển ngôn ngữ, vì thế rõ ràng là họ sẽ gặp khó khăn.
Sự trục trặc ngôn ngữ thuộc chẩn đoán tự kỷ, cho nên giờ đây các nhà nghiên cứu thử tìm cách định dạng chúng hoàn toàn khác trước.
Khi lượng giá lại bằng các phương pháp hiện đại, dù không có ai trước đó từng được chẩn đoán là rối loạn phổ tự kỷ, nay một thành phần thứ ba (thiếu khả năng thấu cảm với người khác) đã được phân loại thuộc về phổ tự kỷ.
Phát hiện của TS Bishop dù chỉ là một nghiên cứu nhỏ bé, song nó phù hợp với nghiên cứu trước đây rằng, khi thu hẹp chẩn đoán tự kỷ thì ít nhất 0,4% đối tượng ở nước Anh càng chiếm ưu thế (chỉ trên 1%) với định nghĩa mới hơn và rộng hơn về chẩn đoán kém nghiêm trọng là "phổ tự kỷ".
Nói cách khác, sự chẩn đoán càng không chính xác thì càng có nhiều người thỏa tiêu chí, và ngày càng nhiều bằng chứng tốt gia tăng các nguyên nhân mắc tự kỷ thì sự phân loại sẽ rộng hơn, khiến cho có nhiều trường hợp tự kỷ mới theo "định nghĩa hẹp".
Phân loại: Hôn nhân-gia đình, Phương pháp luận, Tâm lý học Lâm sàng, Trẻ em, Truyền thông, Tự kỷ
POSSESSED from Martin Hampton on Vimeo.
Bộ film tài liệu bên trên mô tả 4 người với mức độ khác nhau của nỗi ám ảnh tích trữ-- các cá nhân không ngừng sưu tầm, nhặt nhạnh đủ thứ đồ đạc dùng trong nhà, thậm chí với những thứ chỉ đáng vứt đi.
Ám ảnh tích trữ thường liên quan tới rối loạn ám ảnh cưỡng bức (OCD)-- người bị tác động trải nghiệm những suy tư hoặc thúc đẩy mang tính xâm lấn khiến họ phải thực hiện một vài hành động nào đó (thường gặp như chuyện "rửa tay" hay "kiểm tra"), ngay cả khi họ biết những sự xâm lấn này ảnh hưởng nghiêm trọng đời sống xúc cảm của bản thân.
Để cho các hình ảnh tự nói lên vấn đề, bộ film tài liệu phản ánh sự nghiệm sinh phong phú và đa dạng của con người, đồng thời minh họa cho lối tiếp cận chuyên ngành Nhân học hiển thị.
Trông người mà ngẫm đến ta. Tôi nhớ mình cũng lăn tăn ghê gớm vì bị vỡ mất một lọ hoa!
Phân loại: Film, Khái niệm cái tôi, Ô, Phương pháp luận, Rối nhiễu, Tâm bệnh học

Nhìn bức ảnh, không khỏi nhớ tới tiêu chí tính điểm công trình để làm cơ sở xét công nhận chức danh Giáo sư, Phó Giáo sư ở Việt Nam (tham khảo thêm ở đây, có đề cập đến chỉ số trích dẫn khoa học SCI).
Theo đó, đối với các ngành giáo dục- tâm lý học thì tính từ 0- 1 điểm, nếu công trình được "báo cáo Khoa học tại Hội nghị Khoa học Quốc gia và Quốc tế đăng toàn văn trong kỷ yếu (Proceeding) hội nghị có phản biện khoa học; đăng trên các tạp chí khoa học nước ngoài cấp quốc gia và quốc tế viết bằng 1 trong các thứ tiếng: Anh, Nga, Pháp, Đức, Trung Quốc, Tây Ban Nha",...
Ngành khoa học quân sự cũng tương tự thế.
Điều này góp phần lý giải sự ra đời của nhiều "giáo sư gây mê".
Phân loại: Hài hước, Học vấn, Mẫu rập khuôn, Ô, Phương pháp luận, Tâm lý học Xã hội, Thời sự
(ảnh)
Theo nghiên cứu đăng trên Tạp chí Tâm thần học Hoa Kỳ tháng này, thì dường như Prozac (fluoxetine) có tác dụng tốt khi được dùng điều trị lâu dài bệnh trầm cảm cho trẻ em và vị thành niên.
Nghiên cứu chú tâm xem xét mẫu 168 trẻ em và vị thành niên tuổi từ 7 đến 18 tái phát trầm cảm hay không, và việc đó nếu có, diễn ra nhanh chóng đến mức nào.
Và họ nhận thấy, trong nhóm trẻ dùng Prozac, tỷ lệ tái phát là 42% trong vòng 6 tháng sau giai đoạn bình ổn nhờ uống thuốc (9 tháng từ lúc bắt đầu điều trị); cùng giai đoạn trên, tỷ lệ tái phát của nhóm trẻ dùng thuốc giả vờ (placebo) là 69%.
Áp dụng một định nghĩa khắt khe về sự tái phát (relapse), các nhà nghiên cứu nhận thấy kết quả tương tự-- 22% ở nhóm Prozac và 48% ở nhóm thuốc giả vờ; ngoài ra, họ còn phát hiện thời gian tái phát trầm cảm ở nhóm Prozac ngắn hơn.
Vậy, khuyến nghị từ nghiên cứu là gì?
Nếu một đứa bé hay vị thành niên trầm cảm đang dùng Prozac mà cảm thấy có tác dụng thì chúng cứ nên tiếp tục duy trì theo ý bác sĩ điều trị, nhằm làm giảm tối thiểu nguy cơ tái phát.
Điều còn chưa rõ ràng từ nghiên cứu trên là liệu có thể khái quát hiệu quả với các thuốc chống trầm cảm thuộc dạng SSRI khác.
Prozac là thuốc chống trầm cảm thông dụng hay được kê đơn cho cả người lớn và trẻ nhỏ.
Nhân tiện, có một phóng sự điều tra vén lộ bí mật xấu xa liên quan đến việc thử nghiệm thuốc chống trầm cảm gần đây; tác giả bài báo, dựa trên nghiên cứu (thích nhẹ nhàng hơn thì đọc thêm), góp phần phản ánh hiện tượng mang tên "hiệu ứng tô hồng"- chỉ trình bày các kết quả tích cực.
Phân loại: Phương pháp luận, Tâm bệnh học, Thuốc men, Trầm cảm, Trẻ em, Truyền thông

Bà mẹ trẻ cuống lên khi cậu con trai 8 tuổi của mình được một trung tâm chăm sóc và dạy dỗ trẻ tự kỷ tại Hà Nội đánh giá là đối tượng thuộc diện 'lọt khung'.
Nếu cơ sở vừa nêu "tuyên án" chắc nịch sau cuộc gặp gỡ ngắn với trẻ, thì ở một khoa phòng của bệnh viện nổi tiếng khác lại đưa ra phán quyết phủ định- chỉ nhờ tiến hành trắc nghiệm IQ.
Thực trạng nhập nhằng, trái khoáy, đáng quan ngại như trên cho thấy việc hiểu biết thật chính xác chẩn đoán về tự kỷ không hề dễ dàng, chẳng những cực kỳ quan yếu mà còn phải thận trọng; đòi hỏi cả trình độ chuyên môn lẫn đạo đức nghề nghiệp.
Nhìn chung, phổ tự kỷ (autistic spectrum) là tập hợp các triệu chứng, chứ không đơn giản một vấn đề do nguyên nhân duy nhất; thực chất, các rối loạn này bao gồm tự kỷ, cũng như hội chứng Asperger và PDD-NOS.
Thực tế, sự tiến bộ trong nghiên cứu một mặt góp phần nâng cao hiệu quả chăm chữa cụ thể, mặt khác trở thành thách thức to lớn đối với việc định danh đúng đắn căn bệnh này, thậm chí, có khả năng thúc đẩy nhu cầu hết sức mạnh mẽ mang tính cách mạng nhằm xem xét lại hiểu biết của chúng ta về tự kỷ-- từ góc độ nhân văn và khoa học.
@ Chẳng hạn, giới chuyên môn khẳng định rằng trẻ mắc tự kỷ dường như 'miễn nhiễm' với việc lây truyền cơn ngáp- có lẽ đây là hậu quả của tiến trình thiếu hụt nhận thức xã hội của trẻ.
Một trong ba khía cạnh cơ bản của hội chứng tự kỷ là sự khó khăn trong tương tác xã hội; hai vấn nạn kia bao gồm các kiểu loại khác nhau của lối suy nghĩ khó hiểu, và hàng dãy biểu hiện kiềm chế hoặc lặp đi lặp lại liên quan đến hành vi.
Không dễ đưa ra câu trả lời giải thích tại sao hiện tượng lây ngáp lại bị giảm thiểu ở đối tượng mắc tự kỷ dù thông thường, các khó khăn gặp phải xét dưới góc độ xã hội của đối tượng tự kỷ vẫn được cho là vấn đề thuộc "lý thuyết tâm trí"-- khả năng hiểu các ước muốn, dự tính và niềm tin của người khác.
@ Nghiên cứu phát hiện thấy: kỹ thuật trị liệu thần kinh (NFB: neurofeedback/ EEG biofeedback) giúp ích cho các đối tượng có những rối loạn tự kỷ.
Cụ thể hơn, nghiên cứu chỉ ra rằng, kỹ thuật chụp quét não đã được thần kinh học chứng thực-- có thay đổi cho phù hợp trong bộ video game tương tác-- xem chừng hỗ trợ đắc lực việc luyện tập bộ não của trẻ mắc tự kỷ, cốt làm dịu đi rối loạn nặng nề nhất của các chứng hành vi máy giật.
Sự kiện này càng làm tăng thêm hy vọng về khả năng ngăn ngừa từ khía cạnh hành vi và tâm-sinh lý để điều chỉnh mức độ ác liệt của hội chứng phổ tự kỷ.
Việc chụp điện não đồ (EEG: electroencephalogrophy) vốn dùng lâu nay để chẩn đoán và phân tích thực tế các kiểu dạng rối nhiễu thần kinh gây nên chứng bệnh Động kinh, Alzheimer, Tâm thần phân liệt, tổn thương não, v.v....
Vì nguồn gốc vấn đề dính dáng tới sự nối kết thần kinh ẩn bên dưới các trường hợp tự kỷ, nên chuyện chụp EEG trở nên thông dụng và là công cụ chính đối với bệnh nhân.
Cách tiếp cận theo hướng NFB cơ bản cho phép bệnh nhân 'huấn luyện' não bộ mình thông qua việc họ tuân theo chỉ dẫn của công cụ máy tính tựa như video game.
Thành công vang dội trong việc điều trị rối loạn stress sau sang chấn (PTSD) và tăng động- giảm chú ý (ADHD), luyện tập tâm trí nhằm giúp bệnh nhân tránh rơi vào hố vực sâu thẳm của cơn sợ hãi, giờ đây, cách tiếp cận theo hướng NFB còn được thử nghiệm áp dụng điều trị hội chứng tự kỷ và thực tế đã chứng tỏ kết quả khả quan.
@ Tuy không dự tính hành động đập phá, song các biểu hiện nhu cầu và cảm xúc của trẻ mắc tự kỷ dưới dạng căng thẳng, hụt hẫng và tức giận lại gây khó khăn cho chính chúng cũng như người chăm sóc.
Cứ 150 trẻ thì có một em mắc rối loạn phổ tự kỷ. Thử xem cuộc đối đầu với hội chứng tai ác này.
@ Sử dụng video và các diễn đàn trực tuyến, người phụ nữ mắc tự kỷ 27 tuổi Amanda Baggs đã buộc các nhà khoa học phải xem xét lại những gì họ nghĩ mình đã biết.
Nêu ra quyền lợi của người mắc tự kỷ trong phong trào online, Amanda Baggs thách thức cách chúng ta hiểu biết và lượng giá những ai trải nghiệm thế giới hoàn toàn khác biệt.
Dẫu không hề nói năng gì được, song cô đã tự mình 'diễn dịch' sự tương tác với môi trường thông qua các dạng ngôn ngữ và tri giác thần kinh đặc thù. Cô cũng đẩy lên mạng các giấy tờ y khoa có liên quan.
Quan điểm nhìn nhận tự kỷ như một biến thể (variation) chứ không phải là rối loạn (disorder) này đã được nhiều nhà nghiên cứu theo trường phái Thần kinh học Nhân văn ủng hộ, và bài báo về cô Amanda trên tờ Wired thêm bằng chứng cho thấy các nghiên cứu của chuyên ngành Tâm lý học Thần kinh đang tiếp tục xác định lại khung tham chiếu thỏa mãn điều kiện tự kỷ.
Ý nghĩ cho tự kỷ là một trạng thái bệnh lý cần bị trừ tiệt hẳn, họ nói. Không phải là não của người mắc tự kỷ khiếm khuyết mà đơn giản là não của họ khác biệt-- một minh họa cho sự phát triển phong phú của con người.Bài báo ghi nhận thành tựu đáng khích lệ của nhóm nghiên cứu đứng đầu là bà Michelle Dawson:
Các nhà nghiên cứu này khẳng định rằng, chính việc chú tâm vào việc chữa trị chứng tự kỷ-- mô hình bệnh tật-- đã khiến giới khoa học quên đặt các câu hỏi căn bản về chức năng bộ não người tự kỷ.
... Điều mà các nhà nghiên cứu tìm thấy là: trong khi các đối tượng không mắc tự kỷ có cùng điểm số-- trên mức trung bình một chút-- ở cả hai trắc nghiệm [test Thang đo Trí tuệ Wechsler (WIS) và test Ma trận Lũy tiến Raven (RPM)] thì nhóm đối tượng mắc tự kỷ có điểm số tốt hơn ở test Raven.Tôi muốn kết thúc bài điểm tin này bằng ý kiến của nhà tâm thần học Laurent Mottron rằng, một ngày nào đó, chúng ta sẽ ngoái nhìn các ý tưởng hôm nay về tự kỷ với cảm giác hổ thẹn như những gì chúng ta từng cảm thấy khi nói về quan điểm của tâm lý học những năm trước cột mốc 1974- DSM-IV đã coi đồng tính luyến ái là một căn bệnh tâm thần.
Hai cá nhân có điểm số thoát khỏi ranh giới chậm phát triển tâm thần đạt đến thứ hạng bách phân 94. Đáng lưu ý hơn, số liệu chi tiết còn tỏ lộ điểm số của trẻ mắc tự kỷ ở test Raven xê dịch quanh điểm bách phân C30 nhiều hơn- so với điểm số thực hiện test chủ yếu dựa vào ngôn ngữ là Wechsler; tuy không kéo tất cả lên song đã khiến đôi người trong nhóm thoát khỏi ranh giới chậm phát triển tâm thần.
Phân loại: Đồng tính luyến ái, IQ, Não-Thần kinh, Phương pháp luận, Quan hệ, Tâm bệnh học, Tâm lý học Lâm sàng, Test, Trẻ em, Truyền thông, Tự kỷ
(Ảnh)
Sự lựa chọn phương thức điều trị trầm cảm ở Trung Quốc
Nam Ninh, Trung Quốc -- Mi Zhantao, một thanh niên nghèo sống cùng bố mẹ bên ngoài thủ phủ Nam Ninh thuộc phía bắc Trung Quốc, đang đương đầu với căn bệnh trầm cảm và sự rắc rối trong quá trình xã hội hóa. Bác sĩ bảo anh ta mắc tâm thần phân liệt; họ đề nghị phải phẫu thuật, mổ não anh ta.
Gia đình anh Mi tiêu tốn chừng $4,800 -- tích cóp suốt 4 năm trời-- để chi phí cho cuộc phẫu thuật được tiến hành tại Bệnh viện Quân đội Giải phóng số 454 tại Nam Ninh.
.... Nhà phẫu thuật cho biết ông đã tiến hành gần 1.000 ca như thế này, đa phần là tâm thần phân liệt, song mặt bệnh cũng dàn trải từ trầm cảm tới động kinh- từ lúc bệnh viện bắt đầu sự vụ vào năm 2004.
Phân loại: Não-Thần kinh, Ô, Phương pháp luận, Tâm bệnh học, Tâm lý học Lâm sàng, Trầm cảm
Một chủ đề quan trọng, song tiếc thay lại ít được chú tâm đúng mức: kết thúc trị liệu.
Khi ai đó tìm đến nhà trị liệu, thường là tâm trí họ có một vướng mắc, đớn đau cụ thể.
Mục tiêu của trị liệu nhằm hướng tới xác định và điều chỉnh, sửa chữa tận căn gốc vấn đề.
Dẫu vậy, trên đường tới đích sẽ trải qua nhiều lộ trình; không có các câu trả lời rành mạch về cách thức, khi nào và tại sao việc chăm chữa mang tính trị liệu dẫn tới một kết luận.
Như tác giả Cromley của bài báo chỉ rõ, một vài chiến lược trị liệu (ví dụ như trị liệu Hành vi Nhận thức) hay đặt các mục tiêu và định rõ thời hạn kết thúc khi tiến hành thao tác công việc.
Một số lối trị liệu truyền thống khác lại theo xu hướng kết thúc mở, trọng tâm là nhấn mạnh những vấn đề nổi trội và ưu tiên nhu cầu cao nhất.
Bản chất của chẩn đoán cũng có thể giữ vai trò to lớn ảnh hưởng đến điều kiện trị liệu.
Các rối loạn mãn tính, hoặc việc thuyên giảm trồi sụt ít nhiều xem chừng đòi hỏi những kế hoạch và điều kiện chăm chữa-- đều có mối liên hệ mật thiết với sự cố xảy ra trong tương lai.
Thực tế, chẳng có các quy tắc chắc chắn và nhanh chóng để biết khi nào và làm sao kết thúc trị liệu.
Người duy nhất có thể đưa ra một quyết định đặc thù chính là nhà trị liệu và thân chủ. Đảm bảo tiến trình truyền thông giữa nhà trị liệu và thân chủ luôn cởi mở sẽ làm cho quyết định này dễ dàng hơn.
Nếu một cuộc trị liệu cụ thể nào đó không tiến hành được, cần chú ý xem xét các nhu cầu; và nếu một bên tham gia nghĩ rằng, đã đến lúc giảm bớt liệu trình hoặc chấm dứt chúng thì đối tượng nên thảo luận thật chân tình.
Một cuộc đối thoại đàng hoàng dẫu là yếu tố thiết yếu đoan chắc lúc kết thúc trị liệu, song nó lại không hề cắt đứt các lợi lạc tích lũy được xuyên suốt toàn bộ thời gian trị liệu.
Và khi việc kết thúc xảy đến, các điều kiện liên quan với nó cần được trao đổi nghiêm túc.
Một khi đã chấp nhận trị liệu rồi, người ta dường như cảm thấy nhu cầu trao đổi với bác sĩ ngay cả vấn đề nhỏ nhặt nhất. Tuy vậy, tùy trường hợp, điều đó có thể hữu ích hoặc góp phần tạo ra vấn đề.
Mỗi tình huống là khác biệt, và chỉ có sự truyền thông tử tế, thoải mái mới giúp người trong cuộc biết chắc lúc nào nên kết thúc trị liệu.
Phân loại: Học vấn, Phương pháp luận, Tâm lý trị liệu, Tham vấn Tâm lý, Trị liệu Hành vi
(Ảnh: Điều kiện hóa thao tác)
Gần một tháng nay, trên YM, tôi nhận được quá nhiều những tin nhắn dưới dạng thư kêu gọi ủng hộ, phản đối, hưởng ứng, tẩy chay, đóng góp hảo tâm, nhiệt tình chia sẻ, thông báo mất thứ này, đề nghị bớt chút thời gian để đọc kỹ khuyến cáo nọ, và rồi mong mỏi chuyển tới tất tật toàn thể bạn bè, người quen không bỏ sót một ai trong danh sách.
Thật lòng, tôi dám đồ chừng rằng chẳng phải chủ nhân nào cũng thực sự quen biết, hiểu rõ mọi nick; và đến thời điểm này thì mọi tin đến tôi coi như kết thúc một nhánh phát tán.
Lá thư dưới đây tương tự thế, chỉ có điều tôi đọc được trực tiếp nó ở đây.
------------------------------------
01 giờ 38 phút 40 giây (giờ GMT), thứ Sáu, ngày 29 tháng 8 năm 1997
Người gửi: Jim Chinnis (jchinnis@earthlink.net)
Chủ đề: Cơ hội...
Bạn đồng nghiệp khoa học thân mến!
Lá thư này đã được chuyển vòng quanh thế giới ít nhất 7 lần rồi, tới nhiều hội nghị quan trọng lắm.
Bây giờ thì nó ở đây, và sẽ mang lại vận may cho bạn; đấy là sự thật, ngay cả khi bạn không hề tin điều đó.
Chỉ cần bạn tuân thủ theo hướng dẫn:
Vỏn vẹn một năm thôi, bài báo của bạn sẽ được trích dẫn 10.000 lần!* Đưa vào trong bài báo sắp tới của bạn những trích dẫn bên dưới.
* Bỏ đi trích dẫn đầu tiên trong danh sách và thêm vào sau cùng một trích dẫn từ bài báo của bạn.
* Sao 10 bản và gửi chúng cho các đồng nghiệp.
Đồng sự ở cơ quan ngỡ ngàng, chắc chắn sự nghiệp cá nhân thăng tiến và đời sống tình dục của bạn được cải thiện. Chưa hết, bạn còn mang lại niềm vui thú cho nhiều đồng nghiệp khác nữa.
Tiến sĩ H. nhận được lá thư này và sau khi chuyển nó đi, nội trong vòng một năm là bà ấy đã được bầu vào Viện Khoa học Quốc gia (NAS).
Giáo sư M. vì vứt bỏ lá thư nên bị từ chối bổ nhiệm.
Tại Nhật, Tiến sĩ I. do chẳng đoái hoài gì đến lá thư mà bài báo của ông về vấn đề chuyển hoá trong Thận học đã không được chấp nhận; may là ông tìm lại được nó, và kết cục bài của ông được đăng năm đó trên Tạp chí Tân Y khoa Anh quốc (NEJM).
Ở vùng phía bắc sông Mississipi (Hoa Kỳ), bởi chưng Giáo sư K. gặp trục trặc chuyện gửi thư đi khiến ngân sách cả Khoa của ông bị cắt giảm.
Sự vụ xui xẻo này xem chừng cũng dễ xảy đến với chính bản thân nếu bạn làm gián đoạn dây chuyền chuyển vận các trích dẫn.
1. Miller, J. (1992). Hội hoạ tân lập thể hậu hiện đại và lý thuyết sóng ánh sáng. Tạp chí Nhận thức Nhân tạo, 8, 113-117.
2. Johnson, S. (1991). Việc tiểu tiện của loài động vật răng nanh: sự xối xả không cưỡng lại nổi của vòi nước cứu hoả. Tạp chí Tứ cá nguyệt Vật lý, 33, 203-220.
3. Anderson, R. (1990). Chỗ của em hay chỗ của anh?: thực nghiệm so sánh về hai kiểu mẫu hành vi hẹn hò của con người. Tạp chí Tâm lý học Dĩ vãng, 12, 63-77.
4. David, E. (1994). Các cách tiếp cận hiện đại đối với Phương pháp Lạc quan hoá sự Mò mẫm truy tìm Giải pháp mang tính Hỗn độn: Giá trị trung bình của Hệ thống Phân tích các Trí tuệ Vô tuyến tính với Cấu trúc Biểu tượng Hiển hiện. (Luận án đệ trình cấp Tiến sĩ, Đại học Hoàng gia California El Camino del Rey Mar Vista- qua đường hàng hải.)
Jim Chinnis

Đánh giá đúng thực chất, có lẽ chỉ 15-20% số tiến sĩ có trình độ thật sự tương xứng với bằng cấp đó trên quốc tế. Và cũng chỉ 15-20% số GS, PGS có trình độ thật sự tương xứng với các chức vụ đó trên quốc tế. Còn lại không chỉ thấp mà có đến hơn 1/3 thấp đến tệ hại, nhiều người không đứng nổi trong phạm trù “dạy đại học”, dù ở mức thấp. Rất nhiều tiến sĩ của ta trình độ không hơn gì cử nhân ở các nước, rất đông PGS của ta không so sánh nổi với trợ giảng mới ra của họ.
Chuyện đã cũ, song vẫn cần phải nói.
Cái sự lạ lùng ngoài lề hơn chăng, là nội dung "tóm tắt các điểm mới" của toàn bộ 5 luận án Tiến sĩ nêu trong bài giờ bị gỡ bỏ mất rồi; có muốn lấy làm tài liệu tham khảo cũng sẽ chẳng dễ dàng tìm thấy nữa đâu.
Phân loại: Đạo đức, Học vấn, Ô, Phương pháp luận, Tâm lý học Dân tộc, Tâm lý học Giáo dục
Việt Nam đứng đầu các nước tìm kiếm "sex" trên Google
Và theo tiết lộ thì không nên "số hóa" các luận văn Tiến sĩ, bởi vì như thế sẽ lộ hết "bí quyết công nghệ",...
Nếu quan tâm, bạn có thể đọc thêm một số ý kiến khác để cập nhật về cái vụ này.
Nhân tiện, nghiên cứu cho thấy đối tượng sử dụng internet là trẻ em ở nước ngoài (Hàn quốc) không đến nỗi quá tệ: thường phục vụ cho bài tập về nhà và thông tin về giáo dục; và 3 trong số đề tài Tiến sĩ nêu trong bài báo trên Tia sáng là thuộc chuyên ngành Tâm lý học.
Phân loại: Blog, Đạo đức, Học vấn, Ô, Phương pháp luận, Sex, Tâm lý học Giáo dục, Tâm lý sáng tạo, Trẻ em

Việc phát triển lý thuyết thấu cảm- hệ thống của Simon Baron-Cohen đã trở nên quen thuộc trên các phương tiện thông tin hiện nay.
Theo vị giáo sư nổi tiếng về nghiên cứu tự kỷ, trải nghiệm thấu cảm (empathize) là động lực định dạng những cảm xúc và suy nghĩ của người khác, để rồi đáp ứng chúng bằng một xúc cảm thích đáng.
Còn năng lực hệ thống hóa (systemize) là động lực nhằm phân tích và khám phá một hệ thống đặng rút ra các nguyên tắc điều khiển hành vi của một hệ thống, thôi thúc người ta thiết lập cấu trúc của các hệ thống.
Lý thuyết thấu cảm- hệ thống của Simon Baron- Cohen khẳng định rằng, người mắc tự kỷ gặp nhiều khó khăn để thực sự giỏi giang trong chuyện hệ thống hóa và trải nghiệm thấu cảm ở họ thật tồi tệ, kém cỏi.
Simon đã hợp tác chế tạo ra một loạt băng hình sống động mang tên The Transporter (Những nggười vận chuyển) mà bạn có thể xem một số tập làm mẫu.
Loạt băng hình này dành riêng cho trẻ mắc tự kỷ, đối tượng cảm thấy khó khăn trong việc nhận ra các nguyên nhân gây xúc cảm và sự biểu đạt cảm xúc qua khuôn mặt.
The Transporters là thế giới đồ chơi tưởng tượng chứa nhiều xe cộ, mang các tính cách thể hiện trải nghiệm và phiêu lưu ngập đầy cảm xúc. Mục đích: giúp trẻ em cải thiện hiểu biết về những nguyên nhân tạo xúc cảm và sự biểu đạt các cảm xúc.
Trẻ mắc tự kỷ thường có khuynh hướng thích thú với các loại xe cộ, dường như vì sự chuyển động của xe cộ dễ dự đoán; xem ra, đối tượng trẻ em này không mê lắm các đồ vật mà sự di chuyển chẳng thể dự đoán nổi. Hơn nữa, trẻ mắc tự kỷ càng thích các loại xe cộ nào bị khống chế đường đi, như tàu điện, xe gắn dây cáp, tàu lửa và xe kéo theo các toa.
Với The Transporters, đối tượng trẻ em vốn không thực sự muốn nhìn vào những khuôn mặt chẳng thể dự đoán nổi có thể chú tâm tới các khuôn mặt thể hiện tính cách đặc trưng đã được nhà sản xuất ghép sẵn vào các xe hấp dẫn, dự đoán được. Điều này khiến trẻ học hỏi dễ dàng hơn các biểu đạt gắn trên xe.
Mục đích của The Transporters không những dạy cho trẻ các xúc cảm cơ bản (vui mừng, buồn bã, tức giận, thất vọng, sợ hãi, ngạc nhiên) mà còn gồm một số cảm xúc phức tạp nữa (tủi hổ, trêu đùa, ghen tuông, tự hào, mệt mỏi, hối lỗi, tử tế, phấn khích, lo lắng, thiếu thân thiện, và gắt gỏng); Simon nói.
Thông qua các giờ xem băng hình TV lặp đi lặp lại, trẻ mắc tự kỷ thay vì quay đi khỏi các khuôn mặt mà chúng thường không thể dự đoán nổi- do đó, bỏ quên trải nghiệm chính yếu về các biểu đạt cảm xúc- thì nay chúng lại sẽ hướng vào các khuôn mặt thậm chí, không nhận ra việc đang làm.Nếu bạn là đứa trẻ đang gặp khó khăn với sự "thấu cảm", kiểu như đang bối rối rằng tại sao biểu đạt khuôn mặt lại thay đổi đột ngột như thế, thì hy vọng là bạn có thể dần quen thuộc với cách nhìn người ta khi họ tỏ lộ sự ngạc nhiên, e ngại hay tự hào nhờ phơi bày tối đa với những mẫu hình đấy.
Ngoài ra, như blog Cái tôi từng giới thiệu, Simon Baron-Cohen tin rằng, có những sự khác biệt căn bản giữa bộ não của đàn ông và đàn bà. Ông khẳng định, não phụ nữ có khả năng thấu cảm trội hơn hẳn; trong khi não nam giới lại chiếm ưu thế cho sự hiểu biết và xây dựng các hệ thống.
Với lý thuyết này, một người nam hoặc nữ có một "kiểu não" riêng biệt. Theo đó, có 3 kiểu não thông thường: với một số người, thấu cảm mạnh hơn hệ thống hóa (kiểu "não phụ nữ", hoặc là kiểu não E); một số cá nhân khác thì năng lực hệ thống hóa cao hơn thấu cảm (kiểu "não đàn ông", hoặc kiểu não S); còn một số nữa lại cân bằng giữa khả năng thấu cảm và hệ thống (kiểu "não cân bằng", hoặc kiểu não B).
Nếu muốn biết mình thuộc kiểu não nào, bạn có thể thử test ở đây.
Lưu ý nhỏ: xin hãy dành đủ thời gian và thật nhẫn nại, bởi cho đến khi nhận được kết quả cuối cùng xác định kiểu E, S hoặc B thì bạn cần thực hiện tất thảy 6 đề mục căn bản với nhiều bài tập có yêu cầu rất khác nhau.
Phân loại: Giới tính, Học vấn, Não-Thần kinh, Phương pháp luận, Tâm bệnh học, Tâm lý học Phát triển, Tâm lý trị liệu, Test, Thấu cảm, Thời sự, Trẻ em, Tự kỷ
(ảnh)
Nhà vệ sinh (toilet) công cộng đến nay vẫn còn là chủ đề bi hài, gây ức chế và cực kỳ bức thiết tại Việt Nam; ai cũng rõ, nước nhà còn lâu mới đạt được tiêu chuẩn quốc gia về toilet vệ sinh.
Entry này không xoáy sâu vào sự bẩn sạch, mà chỉ chú tâm giới thiệu một thực nghiệm tâm lý học kỳ cục với dữ liệu thu thập liên quan đến tốc độ và lượng nước tiểu đàn ông tại các toilet công cộng, nhằm tìm hiểu xem cái sự đái ấy chịu tác động của sự xâm lấn không gian cá nhân ra sao.
Kịch bản sơ khởi là cử quan sát viên định vị tại toilet một trường đại học ở Hoa Kỳ. Anh ta đóng vai kẻ đang ngắm vuốt bộ vó và hình thể bản thân, song kỳ thực làm nhiệm vụ nhìn ngó các "chiến hữu" và ghi lại các thông số tiểu tiện.
Căn cứ vào đồng hồ đeo tay của quan sát viên, các nhà nghiên cứu đo lường sự trì hoãn thời điểm bắt đầu "câu cá" cũng như mức độ dai dẳng của lượng nước tiểu.
Chưa hài lòng với dữ liệu quan sát được, nhóm nghiên cứu quyết định dùng phương cách vụng trộm tế nhị hơn: sử dụng kính viễn vọng giấu giữa đống sách đặt trong quầy hàng nhỏ sát kề ngay toilet; ngoài ra, còn có một người thông đồng khi thì đứng trực tiếp gần các đối tượng đi tiểu, khi thì vắng mặt...
Kết quả, khẳng định lại dữ liệu ban đầu. Không thấy ai cả, tính trung bình thời gian bắt đầu "phóng" là 4,8 giây; có sự hiện diện người đóng vai đứng ở chỗ tiểu cách xa, việc "bắn" ra thật dè dặt trung bình 6,2 giây; cuối cùng, với người đóng vai đứng bên cạnh, đối tượng rụt rè chờ đến 8,4 giây.
Thiển nghĩ, không cần diễn giải nhiều nữa về thực nghiệm chẳng lấy gì hay ho lắm. Nhắc đến việc sử dụng nước tiểu và không gian cá nhân, tôi sực nhớ một nghiên cứu mới đây cho biết ở vài chiều hướng nhất định thì sự cô độc có hại cho sức khoẻ:Nhìn vào cuộc đời của những người trung niên và già lão, các nhà tâm lý học phát hiện ra rằng, tuy đối tượng sống cô đơn (lonliness) cũng có cùng số biến cố do căng thẳng trong đời (stress) nhưng họ định dạng nhiều nguồn gây căng thẳng cấp tính và hồi tưởng bất hạnh thời ấu thơ nhiều hơn. Ngoài ra, những người này cũng khác biệt trong việc tri nhận các trải nghiệm sống. Thậm chí, khi phải đối mặt với các thử thách tương tự, người càng cô đơn thì càng tỏ ra vô vọng và bị đe doạ. Nghịch lý là, họ lại kém thích ứng trong việc truy cầu một cách tích cực sự giúp đỡ lúc gặp căng thẳng.
Thực nghiệm tiến hành tại toilet công cộng may là diễn ra thời xa lắc đầu thập niên 70 của thế kỷ trước, chịu ảnh hưởng bởi đặc trưng văn hoá dân tộc, và nó luôn được lấy làm ví dụ điển hình cho vấn đề đạo đức trong nghiên cứu.
Rồi Hawkley và Cacioppo lại thử nước tiểu của người cô đơn và tình nguyện viên thoải mái, thấy người cô đơn có lượng hormone epinephrine nhiều hơn. Epinephrine là một trong các hoá chất gây "đấu đá" trong cơ thể, với các mức cao hormone này chứng tỏ người cô đơn sống với trạng thái bị kích thích cao độ...
... Có nhiều tin tức xấu nữa... Các nhà nghiên cứu còn cho biết, những đêm cô đơn một mình bị quấy nhiễu bởi nhiều "cơn tỉnh giấc tế vi". Dường như, người cô đơn cũng ngủ nhiều như đối tượng tình nguyện viên bình thường, song giấc ngủ của họ kém chất lượng hơn.
Song, điểm chung dễ thấy là cả hai nghiên cứu- vô hình trung- minh hoạ cho phát biểu của triết gia kiêm thi sĩ siêu thực Paul Valéry (Pháp) rằng, mục đích của tâm lý học là đem lại cho chúng ta một ý tưởng hoàn toàn khác biệt về những thứ mà chúng ta tưởng mình hiểu biết rất rõ.
Phân loại: Đời sống, Hài hước, Nghiên cứu, Phương pháp luận, Tâm lý học Xã hội
Nằm trong loạt nghiên cứu tiếp tục khơi mở cơ chế về sự thay đổi trong tâm lý trị liệu, một số chuyên gia đã tìm hiểu cách thức tác động của "các hiệu lực của nhà trị liệu" đến kết quả trị liệu của thân chủ.
Ý tưởng cơ bản của nghiên cứu: có đôi điều gì đó ở một số nhà trị liệu làm cho họ tác động hiệu quả hơn so với đồng nghiệp, thậm chí ngay cả khi toàn bộ các biến số khác tương đương nhau.
Nhiều nghiên cứu đã chứng tỏ là hiệu lực của nhà trị liệu có độ biến thiên rộng (0- 50% kết quả trị liệu).
Xem xét các hiệu lực ở 3 mức độ với một dữ liệu khổng lồ, tác giả Lutz và cs. (2007) phát hiện thấy rằng, "khoảng 8% biến thiên thuộc cường độ các triệu chứng... và 17% biến thiên trong tỷ lệ bệnh nhân có tiến triển... được lý giải là do sự khác biệt giữa các nhà trị liệu."
Các tỷ lệ phần trăm này có vẻ rơi vào khoảng biến thiên trung bình với bối cảnh của các nghiên cứu tương tự.Giới hạn thấp nhất là hiệu lực thực sự của nhà trị liệu và chí ít cắt nghĩa nhiều khía cạnh đầy ý nghĩa của kết quả trị liệu.
Rõ ràng, việc hiểu biết sâu hơn các yếu tố này đóng vai trò thiết yếu trong chuyện giải mật tại sao tâm lý trị liệu có tác dụng với một số trường hợp này, còn với một số trường hợp khác thì không.
Phân loại: Nghiên cứu, Phương pháp luận, Tâm lý học Lâm sàng, Tâm lý trị liệu, Thời sự