Theo Hướng dẫn đào tạo của APA về rối loạn tâm thần DSM (Reid and Wise, 1989), rối loạn nhân cách (personality disorder) được mô tả là các đặc trưng nhân cách kém thích nghi mãn tính có nguyên nhân từ sự đau khổ chủ quan (subject distress), hoặc do hư hỏng nghiêm trọng năng lực cá nhân như một sinh thể xã hội.

Các đặc trưng này thể hiện trong các kiểu hình tri nhận, liên quan tới và suy tư về chính mình cũng như môi trường. Chúng bao gồm cả những chức năng tạm thời và dài hạn, và phải được lộ ra ít nhất từ giai đoạn đầu trưởng thành.

Thân chủ mắc rối loạn nhân cách có thể diễn đạt các cảm xúc bất mãn với chức năng, nhiệm vụ và quan hệ của bản thân, song họ lại không phàn nàn về chính 'rối loạn' này.

Họ nhìn sự khốn khổ hoặc bất hạnh của bản thân là do nguyên nhân 'mọi thứ trở nên tồi tệ, sai lạc' trong đời họ: thất bại về một số điều gì đấy, mất việc làm, chia tay, mối đe doạ về một phương cách tồn tại ở đời, hoặc những khó khăn lặp đi lặp lại trong các quan hệ.

Nguyên nhân của những đe doạ như thế được tri nhận là nằm ở bên ngoài thân chủ và vượt khỏi sự kiểm soát của anh ấy.

Đại diện rõ nhất cho những thân chủ thuộc dạng này chắc chắn là nhân cách chống đối xã hội (tâm bệnh): người bận trí với những mối quan tâm của chính anh ta, làm tay sai cho thái độ bản thân, bị lôi cuốn, xung hấn hướng tới khuynh hướng có hành vi chống đối xã hội và có khả năng phạm tội.

Tuy thế, tự thân rối loạn nhân cách có thể được thiết lập theo những cách thức khác: thân chủ thuộc nhóm này dường như tự mình mê mải, cảm xúc thái quá, tính tình thất thường, hay ngờ vực và dễ cáu gắt. Họ có thể phàn nàn về các triệu chứng lo hãi và cảm giác trầm uất.

Một dấu hiệu thường thấy ở tất cả các thân chủ mắc rối loạn nhân cách là sự khó khăn dai dẳng để thiết lập và gìn giữ các mối quan hệ thoả mãn lẫn nhau trong đời sống người trưởng thành.


Khái niệm hoá rối loạn nhân cách dưới cái nhìn Con người- trọng tâm trị liệu

Các mối quan hệ đầy ý nghĩa trong thời kỳ đầu đời của thân chủ mang đặc trưng bị bỏ rơi, chểnh mảng hoặc liên tục lạm dụng quyền lực, thể hiện trong nhiều dạng thức khác nhau của sự lạm dụng cảm xúc, thể lý hoặc tình dục, đôi khi bao gồm cả ba.

Môi trường gầy dựng cảm xúc, và có lẽ cả thể lý, rất không an toàn.

Các điều kiện tưởng thưởng được gắn kết với việc thoả mãn lắm thứ nhu cầu khác nhau của đối tượng có quyền: 'Mày sẽ phải thoả mãn mọi nhu cầu của tao- cho dù chúng ra sao đi nữa và vào bất cứ lúc nào tao muốn. Nếu không thế, mày xứng đáng chịu đựng đau đớn...'

Từ chối, phủ nhận hoặc không có khả năng hoàn thành dễ dẫn đến chuyện nổi giận, trừng phạt và lạm dụng. Nếu vâng lời, phục tùng thì có thể được ban thưởng, ưu đãi, chiều chuộng và quan tâm nhất thời.

Song, trong môi trường như thế thì thật khó dự đoán và chắc chắn mọi điều- hôm nay tốt đấy và ngày mai lại tồi tệ. Hậu quả là thân chủ chỉ học hỏi để sống trong chốc lát và thiếu khả năng học hỏi từ trải nghiệm của chính bản thân mình.

Cảm nhận của thân chủ về bản ngã được quyết định bởi việc người khác đối xử với anh ta như thế nào, và anh ta có thể xem xét hậu quả hành vi của anh ta chủ yếu là do chính anh ta gây ra. Anh ta tự bồi bổ mình tương tự: mọi thứ được lượng giá và tri nhận trong khung tham chiếu của chính những cảm giác và trải nghiệm riêng tư.

Quan niệm cái tôi của anh ta, phát triển trong một môi trường dựa trên nhu cầu căn bản là sự tồn còn cơ thể-- nhu cầu có giá trị-- không thể nhất quán được, bởi một cảm nhận cốt yếu sâu xa về sự vô dụng của bản thân.

Đem cảm nhận cốt yếu về sự vô dụng này vào nhận thức thì có thể rất là nguy hiểm. Khi bản thân bị đe doạ phải đương đầu với sự vô dụng đó, con người buộc phải tự vệ bằng cách phóng chiếu trách nhiệm gây ra nỗi đau cho anh ta sang những người khác. Dù thân chủ không thể thừa nhận trải nghiệm về sự xung đột nội tâm-- anh ta vẫn có thể thừa nhận nỗi oan ức và hụt hẫng vì bị tổn thương, làm cho đau đớn hoặc do hiểu nhầm.

Thời thơ ấu và vị thành niên, hệ thống tự vệ này có thể giúp người ta sống còn-- dù theo một cách thức có thể được tri nhận bởi những người khác tới mức như là một kẻ 'thiếu suy nghĩ', 'ích kỷ' hoặc thậm chí 'tội phạm'.

Rồi đến giai đoạn trưởng thành, những sự 'che chở' cho việc không phản ánh trải nghiệm riêng tư của chính mình không những không được người ấy thấu cảm mà còn phóng chiếu trách nhiệm gây nên những phiền muộn, khó khăn của bản thân sang cho những người khác, đến độ rối loạn chức năng trầm trọng.

Con người ấy không có các kỹ năng để trải nghiệm sự chân thành, thân mật và yêu thương lẫn nhau với những người khác.

Người ta có thể đăng ký tham gia trị liệu song, một khi không định vị được nguồn gây ra đau khổ nằm trong chính bản thân mình, thì anh ta có thể cảm thấy rằng, anh ta bị gây áp lực để tìm kiếm sự giúp đỡ, hỗ trợ, và hậu quả là, có thể làm hạn chế động cơ chấp nhận tiến trình trị liệu của chính anh ta.

Nguồn:
Mearns, 2003: 116-118

[Ngày mai, 06.01: Các vấn đề xảy ra trong tiến trình trị liệu thân chủ mắc rối loạn nhân cách.]

Bài đăng Mới hơn Bài đăng Cũ hơn Trang chủ