Hiển thị các bài đăng có nhãn Rối loạn nhân cách. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Rối loạn nhân cách. Hiển thị tất cả bài đăng


Mắt phải, chân phải, tay phải

Hễ lúc nào rời khỏi phòng là tôi nhìn chăm chăm vào ngọn đèn điện với con mắt phải, trong khi chân phải tôi vẫn còn chưa rời khỏi cửa và bàn tay phải tôi thì đang nắm chặt quả đấm.


Tôi cứ đứng ở đúng vị trí vừa chạm chân tôi như thế để mà mở chúng và đóng cửa 3 lần. Nếu đèn đã tắt thì tôi lại bật sáng lên và cứ tiếp diễn chuyện bật tắt này.

Cuối cùng, tôi phải đóng cửa sau chừng 3 hoặc 7 lần, tùy thuộc trạng thái căng thẳng tinh thần.


Còn bạn, bạn có nghĩ mình từng rối nhiễu?
Một blog bắt mắt và thu hút tâm trí người đọc; càng ấn tượng về những dòng viết ngắn gọn, bởi dù trời vừa đột ngột đổ mưa, sấm nổ đì đùng song chưa kịp xua hết cái không khí bức bối dồn ứ từ trưa hè nóng nực.


Sử dụng biện pháp trừng trị, phạt vạ sẽ đưa tới sự hợp tác chặt chẽ hơn trong các tình huống liên nhân cách?

Bằng thực nghiệm, các nhà nghiên cứu Đại học Harvard khẳng định câu trả lời là Không.

Dùng một phiên bản mô phỏng trò Nghịch lý Tù Nhân (Prisoner's Dilemma)-- một phạm thức (paradigm) cổ điển trong nghiên cứu sự hợp tác-- họ phát hiện ra rằng hành vi trừng phạt nhằm ép buộc người khác hợp tác rốt cục là nguyên nhân làm hành vi hợp tác kém đi, khiến cho bản kết toán của cá nhân về đối tượng giảm thiểu, và chẳng hề hỗ trợ bất cứ lợi lạc nào cho nhóm chung.

Ngoài ra, các nhà nghiên cứu còn nhận thấy những người chơi xếp ở vị trí hàng đầu không có thói quen trừng phạt, thay vào đấy, họ tận dụng chiến lược ăn miếng trả miếng; trong khi đó, những người chơi chiếm thứ hạng thấp nhất lại tốn nhiều tiền cho việc trừng phạt.

Theo các tác giả, trừng phạt có thể tạo ra vòng xoáy trả thù với những hậu quả tiêu cực cho bất cứ ai tham dự.

Vấn đề đáng quan tâm là tại sao lại tồn tại một động cơ hừng hực khiến con người ta muốn trừng phạt khi cùng tha nhân cạnh tranh.

Nghiên cứu trên lý giải, các hành vi trừng phạt phục vụ cho việc thiết lập một hệ thống thang bậc mang tính thống trị hoặc cốt che chắn có lợi cho chủ sở hữu.

Liên quan tới chủ đề này, triết gia John Stuart Mill cung cấp lý thuyết về sự phát triển của các nhân cách kiếm tìm quyền lực:

Một tâm trí năng động và mạnh mẽ, nếu chối bỏ tự do, thì sẽ kiếm tìm quyền lực: phủ nhận mệnh lệnh tự thân sẵn, nó khẳng định nhân cách của chính mình bằng nỗ lực không ngừng kiểm soát những kẻ khác.
Mill, chẳng hạn, như vợ ông, còn đi xa hơn:

Cho phép mình chẳng cần thiết giữ gìn bản sắc riêng mà cứ thích dựa vào kẻ khác là đẩy cao lên cái giá phải trả của việc khuất phục, nương theo mục đích của người.

Ở đâu tự do không còn gì để hy vọng và nhường lối cho quyền lực, ở đó quyền lực trở thành đối tượng ham muốn lớn lao của con người; những kẻ bỏ mặc, không chút đoái hoài hay cảm thấy bị phiền nhiễu bởi chuyện quản lý đời mình sẽ bù trừ, làm đối trọng bản thân-- nếu họ muốn-- thông qua sự can thiệp, chen mục đích riêng vào công việc của kẻ khác.
Điều này chuyển tâm trí ta sang một lý thuyết khác về kiếm tìm quyền lực, chẳng hạn của Adler như ở đây:

Con người ta gắng sức hướng tới quyền lực để nhằm vượt qua và bù trừ cho những cảm giác không tránh khỏi từ thời thơ ấu về phức cảm tự ti, sự bất lực, và phụ thuộc vào những người lớn.
Blog Cái tôi sẽ trở lại chủ đề Quyền lực trong một dịp khác.

Dẫu thế nào đi nữa, kết luận khái quát từ nghiên cứu của Đại học Harvard thật rõ ràng: việc trừng phạt với đầu tư đắt đỏ đã không giúp cải thiện được hành vi hợp tác, và những ai sẵn sàng sử dụng nó thường gây nên tổn thất nặng nề; nói cách khác, trừng trị và tắc tị!

(Không thể đùa với tài mà)

Câu chuyện hành hạ con mình đăng tải hôm nay, cũng như vô vàn chi tiết phản ánh việc tự làm hại bản thân của người nghiện ma túy không quá xa lạ với cộng đồng.

Blog Cái tôi từng đề cập đến lối nghĩ giản dị hóa phần nào trong cách tiếp cận vấn đề.

Tới thời điểm này, người ta đã biết rõ rằng sử dụng cần sa/ tài mà (cannabis: dầu gai) thúc đẩy thêm nguy cơ-- tuy lần hồi bé nhỏ song luôn đầy ý nghĩa-- các biểu hiện loạn thần.

Chẳng nổi tiếng như hoạt chất tetrahydrocannabinol (THC), người anh em cannabidiol (CNB, tham khảo
danh sách) xem chừng chưa phải chịu trách nhiệm cho cảm giác 'mê tơi' dù thực chất nó thường trực trong cây dầu gai.

Dùng kỹ thuật chụp ảnh cộng hưởng từ (MRI) phát hiện ra, kích họat cần sa chứa THC sẽ khiến suy giảm chức năng của thùy não trước (frontal lobe)-- chịu trách nhiệm xử lý những đáp ứng cảm xúc và hành vi bất hợp lý, nơi vẫn thường được cho là quyết định các suy nghĩ cao cấp, lập kế hoạch, hình thành mục tiêu.

Giới nghiên cứu đã tích lũy được bằng chứng CNB có tác dụng chống loạn thần, CNB hứa hẹn kiềm chế các ảnh hưởng tăng loạn thần của THC.

Tùy loại chế phẩm cần sa mà đặc tính CNB khác biệt, chẳng hạn CNB ít nhất khi chơi 'skunk' -- loại ma túy nặng đô này hầu như loại trừ CNB để ưu tiên nuôi dưỡng hàm lượng cao THC.

Một nghiên cứu tài tình mới đây chú tâm kiểm tra mẫu tóc của các nhóm chơi cần sa để đánh giá mức độ dung nạp CNB.

Theo đó, các nhóm nào có mức độ CNB thấp nhất thì thường hay trải nghiệm các trạng thái tương tự loạn thần.

Ngược lại, dùng đồ chơi chứa chủ yếu CNB thì hiếm hoi lắm mới trải nghiệm giống như loạn thần-- cùng mức độ với nhóm so sánh chẳng phát hiện thấy các hoạt chất cần sa ở những người giả định không hút.

Lưu ý tí chút: đối tượng thuộc nhóm trên đều toàn là người mới tham gia từ một nghiên cứu với dân chơi ketamin (chất làm tăng nguy cơ loạn thần), vì thế nghiên cứu sẽ còn phải tiến hành với những ai chỉ dùng duy nhất cần sa để chắc chắn rằng, tác dụng không phải do tương tác riêng biệt giữa hai loại ma túy vừa kể.

Rốt cục, khi tự thân CNB dường như không có tác dụng gây mê sảng thì hy vọng trong tương lai kẻ sản xuất sẽ gắng sức để tối đa hóa hàm lượng CNB, nhằm góp phần giảm thiểu nguy cơ tàn phá sức khỏe tâm thần của các tay chơi ma túy.


Bạo hành gia đình có thể khởi sự khi một bên cảm thấy nhu cầu kiểm soát và thống trị người kia.

Kẻ lạm dụng cảm thấy nhu cầu kiểm soát người bạn tình như thế vì sự tự trọng thấp, ghen tuông quá độ, gặp nhiều khó khăn trong việc điều tiết nỗi niềm giận dữ và những xúc cảm mãnh liệt khác, hoặc khi họ cảm thấy thua kém người kia về trình độ giáo dục và nền tảng kinh tế- xã hội.

Một số đàn ông mang niềm tin truyền thống rằng, họ được quyền kiểm soát phụ nữ, và rằng phụ nữ không bình đẳng với nam giới.


Tính vượt trội, chi phối này thể hiện dưới dạng thức lạm dụng cảm xúc, thể lý và tình dục. Các nghiên cứu khẳng định, hành vi bạo hành thường do bởi sự tương tác giữa nhiều yếu tố tình huống và cá nhân.

Điều đó hàm ý rằng, kẻ lạm dụng tập nhiễm hành vi bạo lực từ gia đình, người sống trong cộng đồng và các tác động văn hóa khác khi họ lớn lên. Biết đâu chừng, họ vốn trông thấy bạo lực thường xuyên, hoặc chính họ là nạn nhân.

Trẻ em làm nhân chứng hoặc là nạn nhân của bạo lực sẽ có thể đi đến niềm tin rằng, bạo lực là phương thức hữu lý để giải quyết xung đột giữa con người với nhau.

Các cậu bé trai học hỏi rằng, phụ nữ không có giá trị hoặc đáng tôn trọng gì, và chúng thấy bạo lực hướng trực tiếp vào phụ nữ thì càng dễ lạm dụng phụ nữ khi lớn lên. Các bé gái làm nhân chứng bạo lực gia đình ở trong chính nhà mình thì về sau dễ trở thành nạn nhân của chồng.

Rượu chè và các lạm dụng chất khác hay bị quy cho hành vi bạo lực. Một kẻ say xỉn, nghiện ngập, hoặc mắc thói vênh váo sẽ ít thích kiểm soát xung lực bạo hành của anh ta/ chị ta.

Tất cả nạn nhân của bạo hành gia đình đều có thể phải hứng chịu các tổn thương xúc cảm và thể xác.

Tuy nhiên, do sự khác biệt giới tính nên phụ nữ thường dễ bị tổn thương thể chất trầm trọng gấp 6 đến 7 lần so với đàn ông.

Một số thống kê ấn tượng về tần suất bị tổn thương thể chất của phụ nữ:

- Bạo hành gia đình là nguyên nhân hàng đầu gây nên các tổn thương ở phụ nữ. Mức độ tác động và phạm vi ảnh hưởng của bạo lực gia đình lớn hơn tất cả các nguyên nhân tạo ra các tổn thương khác đối với phụ nữ.

- Một nghiên cứu báo cáo: 28% phụ nữ bị ngược đãi đã từng tới phòng cấp cứu tại một thành phố lớn yêu cầu được nhập viện vì các tổn thương, và 13% đề nghị điều trị y khoa nghiêm trọng.

Nghiên cứu này phát hiện 40% của mẫu 218 phụ nữ đã tiếp nhận chăm sóc y tế do bị hành hạ gây tổn thương trong quá khứ.

Lạm dụng về mặt cảm xúc không để lại những dấu cắt, vết thâm tím như lạm dụng thể chất; song nó lại hằn sâu hơn nhiều do thật khó khăn để nhận ra và chữa trị.

Dẫu thế, lạm dụng cảm xúc dễ gây nên những vết nhơ nhuốc thành sẹo cho sự lành mạnh tâm lý của nạn nhân.

Đồng thời, lạm dụng cảm xúc còn hay dẫn tới lạm dụng chất, lòng tự trọng thấp, cảm giác bất lực, cô độc, tha hóa, sợ hãi và trầm cảm, cũng như rối loạn stress sau sang chấn (PTSD).

Do phụ nữ dễ trở thành nạn nhân, nên các tổn thương tâm lý của họ cũng đã được phát hiện nhiều hơn.

Nhà tâm lý học Lenore Walker qua nghiên cứu đối tượng phụ nữ là nạn nhân bạo hành, từng mô tả về "hội chứng phụ nữ bị ngược đãi", cho thấy: phụ nữ quen trải nghiệm các lạm dụng thể chất, tình dục hoặc cảm xúc trầm trọng thường có khuynh hướng bị tác động theo các cách thức thông thường, và bắt đầu thể hiện hành vi tương tự.

Dưới đây là các dấu hiệu phụ nữ bị ngược đãi:

- Giảm thiểu hết mức và chối bỏ sự lạm dụng.

- Ngăn chặn các sự vụ lạm dụng khỏi trí nhớ của mình.

- Sợ hãi, lo lắng hoặc hoảng loạn vì trạng thái căng thẳng (stress) liên tục.

- Tự bản thân tê cứng, chết cóng nhằm tránh đối đầu với tình huống.

- Xuất hiện các cơn hồi tưởng lặp đi lặp lại về những giai đoạn bị ngược đãi, hành hạ.

- Có những nỗi sợ hãi đặc trưng và không ngừng cảnh giác với những dấu hiệu sẽ bị làm hại lớn hơn.

(Ảnh: Định mệnh)

Vụ cô gái 21 tuổi phải chịu nhục hình suốt 13 năm trời ngay giữa quận nội thành của Thủ đô khiến thiên hạ choáng váng kêu trời.


Truyền thông trong nước đưa tin kiểm điểm trách nhiệm chính quyền phường, đặt ra những vấn đề pháp luật liên quan đến lao động trẻ em, bảo vệ người đi tố cáo,... về sự vô cảm, đạo đức lối sống,...

Báo
Thiếu niên Tiền phong và Diễn đàn Thế hệ 8X (trang giải trí, kết bạn của giới trẻ Việt Nam)-- không hề thấy nói gì để bày tỏ thái độ chính thức, chia sẻ cảm xúc và suy tư trước cảnh ngộ khốn cùng đọa đày của một bạn gái cùng trang lứa.

Tôi thực sự quan tâm đến đứa con của đôi vợ chồng quán phở kia; chẳng tìm được dòng nào đề cập đến người trong cuộc này cả.

Ai là nạn nhân của những vụ bạo hành gia đình?

Nhiều nghiên cứu đã chứng tỏ, một số người dễ có khả năng trở thành đối tượng bị bạo hành:

- Mang hình ảnh bản thân kém cỏi.

- Tham gia vào hành vi lạm dụng.

- Bị phụ thuộc vào kẻ lạm dụng về mặt kinh tế và xúc cảm.

- Không chắc chắn về các nhu cầu riêng của chính bản thân mình.

- Lòng tự trọng thấp.

- Lưu giữ niềm tin phi thực tế là mình có thể làm thay đổi kẻ lạm dụng.

- Cảm thấy không có quyền hành để chấm dứt bạo lực.

- Tin rằng, ghen tuông là nền tảng của tình yêu.

Trong khi sự lạm dụng xảy đến với bất kỳ ai, thì phụ nữ thường dễ thành nạn nhân nhất và đàn ông hầu như đóng vai trò kẻ lạm dụng.

Một lần nữa, các nạn nhân vốn mang một số đặc trưng cơ bản. Phụ nữ là nạn nhân bạo hành gia đình thường:

- Lạm dụng rượu bia và các chất gây nghiện khác.

- Từng bị lạm dụng trước đây.

- Đang mang thai.

- Nghèo và sự hỗ trợ rất hạn chế.

- Có bạn tình lạm dụng rượu bia và các chất khác.

- Muốn rời bỏ kẻ lạm dụng.

- Yêu cầu một sự kiềm chế để chống lại kẻ lạm dụng.

- Mang niềm tin truyền thống rằng, phụ nữ phải phục tùng đàn ông...

Quá nhiều chia sẻ kiến thức, hướng dẫn kỹ năng, trao đổi chuyên môn, tâm sự nỗi niềm xuất hiện hết sức chi tiết, cụ thể trên vô số hệ thống truyền thông đại chúng-- chủ yếu tập trung đề cập đến mọi mặt đời sống tình dục và thực trạng hôn nhân- gia đình Việt Nam.

[Cho phép tôi miễn tạo các đường dẫn minh họa ý trên.]

Và dường như không ai bảo ai, đa phần nội dung bàn bạc, phân tích, lục lọi nguyên do rốt cục, đều xem chừng dễ dàng đồng ý quy cho mầm mống gieo rắc tệ nạn, gây hiểm họa khôn lường: kỹ nghệ khiêu dâm (porn), cùng kẻ đồng lõa phát tán cực kỳ khủng khiếp: mạng lưới điểm toàn cầu (internet).

Kỹ nghệ khiêu dâm không phải là vấn đề.

Tôi chưa từng tán thành và chẳng bao giờ muốn nói rằng, kỹ nghệ khiêu dâm là ân huệ to lớn, dịp may hiếm có giúp chúng ta được cởi trói, rồi thực hành cởi mở sau bao nhiêu năm tháng, giai đoạn chịu đựng, khổ sở đủ điều vì ẩn ức, dồn nén.

Song thẳng thắn thực lòng, tuyệt đừng hồ đồ kết tội kỹ nghệ khiêu dâm bởi cảnh đổ vỡ các mối quan hệ xã hội; áp lực ghê gớm của chị em phụ nữ, nhằm duy trì những tiêu chuẩn bất khả về ngoại hình cũng như cách thể hiện ở đời; và sự lơ là, thiếu nhiệt huyết, mất hứng thú trong tiến trình ứng xử tình dục bình thường của cánh đàn ông.

Chắc chắn, kỹ nghệ khiêu dâm gây sức ép với nữ giới. Tuy thế, tác động này không
xuất phát một cách trực tiếp từ kỹ nghệ khiêu dâm, hoặc thậm chí, từ phía nam giới.

Xem ra, phụ nữ không những bị *ép buộc* vào tâm thế khó xử, chính xác hơn-- có lẽ-- phải diễn đạt: phụ nữ *muốn* sống tâm thế khó xử.

Tại sao phụ nữ lại muốn như vậy là câu chuyện dấp dính văn hóa; chí ít ở đây, quyết không phải vì đàn ông ra lệnh phụ nữ phải dứt khoát làm thế.

Chắc chắn, đàn ông ưa thích kỹ nghệ khiêu dâm. Phụ nữ muốn sống tâm thế khó xử-- nhất trí thôi; song, tại sao đàn ông cũng muốn bản thân mình tương tự thế nhỉ?

Đồ chừng là, đối tượng sử dụng thường xuyên kỹ nghệ khiêu dâm (bất kể mức độ sát hợp của nó đúng đến như thế nào) dễ gặp phải một số trục trặc để phấn khích cường dương trong các tình huống bình thường hoặc quen tiến hành.

Vẫn còn lý do lớn hơn khác để không thể định lỗi, đổ tội cho kỹ nghệ khiêu dâm được.

Có nhiều mẩu hài hước về chuyện phụ nữ không muốn sex và đàn ông thì ham hố ra sao. Tiếp theo, lại tòi ra kiểu cười cợt trái ngược rằng, phụ nữ rất muốn nó song đàn ông lại chỉ mong cho chuyện ấy thật sớm kết thúc.

Đàn ông trở nên lơ là với bạn gái hoặc bà vợ gắn bó lâu nay. Giọng điệu nghe hài vãi: "Tôi thích thủ dâm hơn, vì tôi không đủ sức làm tình."

Đàn ông luôn sẵn sàng chung đụng với các thể loại phụ nữ trẻ trung, mới mẻ; nhưng rồi, theo thời gian, chuyện ấy cùng bồ bịch xảy ra thế nào?

Cứ thói tục thường thấy thì nó sẽ suy giảm tí chút, song điều khác biệt đáng quan sát: đây là sự lơ là của đàn ông, "kiệt sức", thiếu vắng động cơ thắt chặt mối quan hệ sống động với bạn tình (người yêu/ vợ). Ví von trần trụi: dương vật có thể bung to-- tiếc thay, mọi thứ là đồ bỏ đi.

Hãy thử đối diện: có thể kỹ nghệ khiêu dâm khiến phụ nữ cảm thấy bất xứng, song chị em liệu thoải mái, đủ đầy thế nào đây khi mà bạn trai, ông chồng của họ thích xem TV hơn là lên giường? "Mà anh đang mệt lắm."

Vậy, rõ ràng có 2 phần của vấn đề cần nhấn mạnh.

Phần dễ thấy, chưa lớn lắm là việc truyền thông hoặc kỹ nghệ khiêu dâm đối tượng hóa phụ nữ, và tác động của nó tới cả đàn ông lẫn phụ nữ.

Phần thứ hai, chính yếu hơn nhiều, là sự "bất lực" (mang nghĩa ẩn dụ) và vô cảm của đàn ông. Một lần nữa lưu ý: kỹ nghệ khiêu dâm có thể đã phóng đại, thổi bùng tác động này, song nó không phải là nguyên nhân.

Thậm chí, phải nói thêm rằng, việc đối tượng hóa (và chủ thể hóa) phụ nữ tác động mạnh mẽ đến tinh thần đàn ông hơn-- so với tinh thần phụ nữ; hậu quả, tạo nên hàng loạt nỗi đau tâm lý để rồi sẽ tràn ra thành hành vi bạo lực và lạm dụng.

Thật bực bội khi hình dung kịch bản: ông bố gằm ghè, đe dọa cô con gái với những câu chuyện hiếp dâm kinh hoàng, đòi hỏi cô trở thành "nữ chiến binh Amazon" đầy nam tính, song chính ông lại khuyến khích cậu con trai xem film sex và tìm hiểu các thứ tương tự.

Không còn gì đáng nghi ngờ nữa, kỹ nghệ khiêu dâm là hiện tượng xã hội, khởi đầu tiến trình tàn phá hoàn toàn tinh thần phụ nữ và sẽ thúc đẩy tình hình trầm trọng hơn nhờ tiến bộ công nghệ, như sự phơi bày thật bi thảm trên internet chứng thực.

Bất luận thế nào, việc hạ thấp, nhục mạ giá trị của ai đó hoặc khiến giảm thiểu quyền năng, mức độ kiểm soát cuộc đời mình đều sẽ để lại hiệu ứng tiêu cực thật nặng nề đối với tinh thần người ta.

Kỹ nghệ khiêu dâm góp phần mài mòn sự tín nhiệm của đàn ông đối với phụ nữ.

Đàn ông bị xã hội thúc đẩy làm người chiến thắng, song thực tế chỉ có ít người chúng ta có thể là người chiến thắng, hoặc thỏa mãn hình mẫu người chiến thắng của xã hội.

Do đó, sự tự trọng của đấng nam nhi phải hứng lấy trách nhiệm trả giá; cánh đàn ông đành lẩn tránh, ẩn nấp vào những thứ khác chẳng đáng tin cậy hay chẳng hề vững bền gì như máy tính, chia sẻ thời gian với đám bạn nhậu, xe ô tô,... và đủ điều mà cô gái cặp đôi có thể đòi hỏi.

Rồi cạnh tranh công việc, kết hôn, nuôi dạy con cái, đứng mũi chịu sào làm trụ cột neo giữ mái ấm gia đình...

Kỹ nghệ khiêu dâm thì nhanh gọn, dễ dàng; sự lựa chọn khác lại phức tạp, bất trắc, yêu cầu phải có thời gian, đòi hỏi sức lực và tuyệt đối không đảm bảo thành công lâu dài.

Ngẫm nghĩ, suy xét ý kiến: đàn ông không được thấu hiểu, hỗ trợ, quan tâm mọi nơi, mọi lúc; họ tiêu tốn thời gian vô kể vào máy tính, videogames, công việc,...

Logic buộc phải thừa nhận căn nguyên nằm ở cảm giác bất toàn, thiếu tương xứng của chính đàn ông?

Kỹ nghệ khiêu dâm là triệu chứng phụ, chứ nó ít khi chạm tới được nền tảng của vấn đề.

Và đàn ông mang cái nhìn sai lệch về chuyện thế nào là được yêu thương.

Họ muốn được yêu không phải như họ vốn thế, mà như ai đó nghĩ họ là gì. Những gì họ muốn bạn gái mình nói: "Em yêu anh vì anh thông minh đến nhường này, vì anh rành rẽ chuyện chính trị." Những gì họ không muốn bạn gái thổ lộ: "Em yêu anh vì anh tốt với em."

Lỗi không phải tại kỹ nghệ khiêu dâm; sex không có tội.

Đàn ông đang ngày càng ít quan tâm đến việc thiết lập những mối quan hệ ý nghĩa với tha nhân như một *mục tiêu tối thượng*; thay vào đó, họ ưu tiên *đầu tư* vào các định dạng, bản sắc của chính bản thân mình.

Sẽ không thừa, khi lưu ý bạn đọc rằng, bài viết này tịnh chẳng hề nhắm tới toàn thể đàn ông mà hơi nghiêng sang những người tự mê mình thái quá (
narcissist).

Lời cuối. Chưa điều tra được, song biết đâu chừng, với đối tượng rối loạn nhân cách vừa nêu thì ngay cả sex (giao hợp) cũng chỉ là một sự "thẩm du" mà thôi.

Đó là từ duy nhất lúc này nảy sinh trong tôi về cái vụ Đài truyền hình Việt Nam VTV3 dàn cảnh để cho nữ SV năm thứ nhất Hoàng Thuỳ Linh- người thủ vai chính trong bộ film truyền hình nhiều tập Nhật ký Vàng Anh "nói lời cuối cùng" với sự góp mặt và phát biểu tâm tình của ê-kíp làm film, sau vụ đoạn băng tự quay cảnh làm tình giữa cô gái đủ tuổi lập gia đình và chịu trách nhiệm hình sự này với một người con trai được tung lên mạng.

Mời bạn tham khảo các ý kiến của lứa tuổi 8X đồng trang lứa với Hoàng Thuỳ Linh.

Ngày mai, blog Cái tôi sẽ thể hiện
rõ ràng hơn quan điểm về sự kiện được các báo ở Việt Nam xếp trong chuyên mục Văn hoá nêu trên.

Lúc này, chỉ muốn nói thêm duy nhất đúng một câu rằng: Phơi phới ơi là phơi phới ơi!

Trong quan hệ trị liệu với thân chủ mắc rối loạn nhân cách, quyền hạn, sự tin cậy và an toàn trở thành những vấn đề hệ trọng.

Thân chủ cần được cảm thấy an tâm và sự chân thành, rõ ràng của nhà trị liệu về các ranh giới, cam kết, nguyên tắc và mong đợi trong quan hệ trị liệu thì quan yếu cho chính nhà trị liệu cũng như sự an toàn của thân chủ.

Thân chủ vốn thường cảm thấy mình vô dụng, chẳng ai ưa thích, thiếu khả năng yêu thương và không được chấp nhận sẽ tái tạo lại các kiểu hình quan hệ khiến cho những cảm nhận này được xác quyết và đây là thách thức chủ yếu đối với nhà trị liệu.

Giận dữ, cự tuyệt, mê hoặc và thù địch có thể được thân chủ sử dụng như là các cách phòng vệ chống lại việc trở nên thân mật.

Hiểu biết thấu cảm có thể không tới quá dễ dàng đối với nhà trị liệu. Các trải nghiệm của thân chủ có khả năng rất khó nắm bắt khi họ dường như hời hợt hoặc quá độ.

Vì thế, một khi thân chủ không phản ánh trải nghiệm riêng tư thì có khả năng họ không tri nhận được sự thấu cảm của nhà trị liệu: trải nghiệm thấu cảm hoàn toàn xa lạ đối với anh ta.

Chấp nhận sống cùng một thân chủ như thế có thể là sự đe doạ hoặc thách thức- cả trong và ngoài quan hệ trị liệu; thật không dễ dàng và bất khả, nếu nhà trị liệu chẳng có một mức độ hiểu biết thấu cảm về thế giới của thân chủ.

Nhà trị liệu có thể cảm thấy cực kỳ nguy hiểm khi sống thực tế trong quan hệ với thân chủ rối loạn nhân cách. Để lộ ra toàn bộ con người mình có thể khiến nhà trị liệu cảm thấy tổn thương và dễ bị tấn công hay từ chối.

Thể hiện ước muốn được trung thực, thích đáng có thể làm cho nhà trị liệu nhận ra chính mình phải chịu đựng với kiểu hình quen thuộc của thân chủ-- ở đó, người ta có thể bị lạm dụng hoặc là kẻ lạm dụng, nạn nhân hoặc tên tấn công.

Lưu giữ quan hệ với thân chủ mắc rối loạn nhân cách có thể là cuộc đấu tranh đích thực đối với nhà trị liệu, hoặc đòi hỏi nhà trị liệu phải lèo lái khó khăn giữa ước muốn chấp nhận quan hệ và thể hiện toàn bộ con người mình với nhu cầu bảo vệ bản thân.

Một khi nhà trị liệu còn chưa nhận thức thật đủ đầy về tính dễ bị tổn thương của bản thân và những chuyện cá nhân không kiên quyết được, thì chừng đó nhà trị liệu còn lâm vào trạng thái hoặc là quá dính líu hoặc cố tránh né, sợ liên lụy.

Sự thay đổi mang tính trị liệu rất có khả năng xảy ra, thông qua trải nghiệm của thân chủ về sự nhất quán ((consistency) và bền lâu (durability) của nhà trị liệu trong sự chấp nhận thấu cảm, đem lại cho thân chủ trải nghiệm về con người đáng giá.

Sự thể hiện cởi mở, không hề lạm dụng của nhà trị liệu có thể đem lại cho thân chủ một trải nghiệm mới mẻ về chính mình trong quan hệ, tạo ra một sự nhận thức khác biệt về bản thân anh ta và về những người khác.

Còn hơn cả sự chỉnh sửa hoặc xoá bỏ mức độ tàn phá ghê gớm trước đây đối với cái tôi, thái độ của nhà trị liệu có thể giúp thân chủ tạo ra những mối quan hệ ngày càng thoả mãn hơn và sử dụng các tiềm năng của bản thân để xây dựng chính mình theo một cách thức ngày càng hữu ích, tích cực hơn.

Dưới đây là trải nghiệm của 'Sandy'-- bệnh nhân cách đây khoảng 25 năm theo trường phái trị liệu Orthogenic của Bruno Bettelheim ở Chicago (Hoa Kỳ). Sandy cho chúng ta thấy khả năng anh ta thấu hiểu nội tâm về sự hứa hẹn và đe doạ từ việc được nhà trị liệu giúp đỡ, hỗ trợ. Không nghi ngờ gì là phải cẩn trọng với kiểu thân chủ như thế này.

'Sandy'

Gã có bố mẹ đôi khi dễ thương và đôi khi hết sức khó chịu suy nghĩ rằng, cách thức thế giới là như thế.

Giờ đây, với trường hợp của tôi, thế giới đó đã là ra sao. Vào thời điểm vào trường, tôi nghĩ sự khó khăn-- trong số những điều khác-- là tôi phải đương đầu với Patti (nhà trị liệu của anh ta)-- một con người trong sáng rất hiếm thấy, một con người cực kỳ tình cảm và là một con người tao nhã.

Tôi không có khả năng chấp nhận sự trìu mến, yêu thương mà thậm chí còn tức giận nhiều hơn nữa, bởi vì mọi người muốn chấp nhận sự yêu thương.

Nhưng nếu bạn quy định chính mình không được chấp nhận sự yêu thương bởi vì, nếu chấp nhận nó thì chính bạn cho phép mình tiếp tục gây ra sự suy sụp, một khi chấp nhận nó là bạn đang đặt bản thân vào vị trí bị đòi hỏi phải tiêu diệt con người mình.

Vậy nên, bạn nhận ra chính mình trong một tâm thế không dám hy vọng rằng, tình cảm là đích thực và bạn duy trì việc kiểm tra, thử nghiệm (testing) nhằm khám phá xem tình cảm quả thực như vậy chăng, và đó là tiến trình-- từng bước một-- bạn khám phá xem tình cảm đích xác thế hay không.

Có thể rằng, theo một nghĩa nào đấy, lý giải nhu cầu của cá nhân tôi muốn làm tổn hại những người thuộc kiểu đó, bởi vì tôi cần khám phá xem nếu tôi làm tổn hại họ thì tình cảm yêu thương sẽ còn tiếp tục diễn tiến nữa hay không...

(Bettelheim, 1987: The man who cared for children)

Bất luận chúng ta lý giải những khó khăn của thân chủ như thế nào, thì điều quan trọng nhất là nhà trị liệu theo trường phái Con người- trọng tâm sẵn lòng chấp nhận thân chủ- trước tiên và thiết yếu nhất-- như một con người đang nỗ lực tranh đấu để hiểu về chính đời mình, để chịu đựng cùng những nghịch lý và để sống còn.

Trong cuộc tranh đấu đó, thân chủ có thể gặp nhiều khó khăn với chuyện thông cảm, sợ hãi, ngờ vực, phòng vệ, không thể dự đoán nổi và khó tiếp cận được.

Nhiệm vụ của nhà tham vấn là chấp nhận và tôn trọng thân chủ như chính con người anh ta, tìm cách tạo ra sự tiếp xúc đầy ý nghĩa để hoàn lại cho thân chủ giá trị bản thân và nhường anh ta việc lựa chọn hình thành nên một kiểu tiếp xúc khác biệt so với những gì anh ta từng quen thuộc.

Nếu thân chủ rời khỏi một mối quan hệ như thế với tí chút hy vọng hơn, tí chút tin cậy hơn vào chính mình và vào những người khác, thì điều đó quả thực tác động lớn lao đến đời sống của họ.

Tóm lại, điểm căn cốt trong quan niệm cái tôi của thân chủ mắc rối loạn nhân cách là cảm nhận sâu xa về sự vô dụng. Trung tâm điểm của quan hệ trị liệu là chấp nhận. Nhà trị liệu thường trải nghiệm việc thách thức khả năng bản thân mình để bày tỏ sự chấp nhận; còn thân chủ sẽ bị thách thức trong khả năng trải nghiệm chuyện được chấp nhận.

Nguồn:
Mearns, 2003: 118-120

[Tuần sau, vào 12 & 13.01: Khái lược về phương pháp luận tiền trị liệu thân chủ- trọng tâm (An introduction to client-centred pre-therapy)]

Theo Hướng dẫn đào tạo của APA về rối loạn tâm thần DSM (Reid and Wise, 1989), rối loạn nhân cách (personality disorder) được mô tả là các đặc trưng nhân cách kém thích nghi mãn tính có nguyên nhân từ sự đau khổ chủ quan (subject distress), hoặc do hư hỏng nghiêm trọng năng lực cá nhân như một sinh thể xã hội.

Các đặc trưng này thể hiện trong các kiểu hình tri nhận, liên quan tới và suy tư về chính mình cũng như môi trường. Chúng bao gồm cả những chức năng tạm thời và dài hạn, và phải được lộ ra ít nhất từ giai đoạn đầu trưởng thành.

Thân chủ mắc rối loạn nhân cách có thể diễn đạt các cảm xúc bất mãn với chức năng, nhiệm vụ và quan hệ của bản thân, song họ lại không phàn nàn về chính 'rối loạn' này.

Họ nhìn sự khốn khổ hoặc bất hạnh của bản thân là do nguyên nhân 'mọi thứ trở nên tồi tệ, sai lạc' trong đời họ: thất bại về một số điều gì đấy, mất việc làm, chia tay, mối đe doạ về một phương cách tồn tại ở đời, hoặc những khó khăn lặp đi lặp lại trong các quan hệ.

Nguyên nhân của những đe doạ như thế được tri nhận là nằm ở bên ngoài thân chủ và vượt khỏi sự kiểm soát của anh ấy.

Đại diện rõ nhất cho những thân chủ thuộc dạng này chắc chắn là nhân cách chống đối xã hội (tâm bệnh): người bận trí với những mối quan tâm của chính anh ta, làm tay sai cho thái độ bản thân, bị lôi cuốn, xung hấn hướng tới khuynh hướng có hành vi chống đối xã hội và có khả năng phạm tội.

Tuy thế, tự thân rối loạn nhân cách có thể được thiết lập theo những cách thức khác: thân chủ thuộc nhóm này dường như tự mình mê mải, cảm xúc thái quá, tính tình thất thường, hay ngờ vực và dễ cáu gắt. Họ có thể phàn nàn về các triệu chứng lo hãi và cảm giác trầm uất.

Một dấu hiệu thường thấy ở tất cả các thân chủ mắc rối loạn nhân cách là sự khó khăn dai dẳng để thiết lập và gìn giữ các mối quan hệ thoả mãn lẫn nhau trong đời sống người trưởng thành.


Khái niệm hoá rối loạn nhân cách dưới cái nhìn Con người- trọng tâm trị liệu

Các mối quan hệ đầy ý nghĩa trong thời kỳ đầu đời của thân chủ mang đặc trưng bị bỏ rơi, chểnh mảng hoặc liên tục lạm dụng quyền lực, thể hiện trong nhiều dạng thức khác nhau của sự lạm dụng cảm xúc, thể lý hoặc tình dục, đôi khi bao gồm cả ba.

Môi trường gầy dựng cảm xúc, và có lẽ cả thể lý, rất không an toàn.

Các điều kiện tưởng thưởng được gắn kết với việc thoả mãn lắm thứ nhu cầu khác nhau của đối tượng có quyền: 'Mày sẽ phải thoả mãn mọi nhu cầu của tao- cho dù chúng ra sao đi nữa và vào bất cứ lúc nào tao muốn. Nếu không thế, mày xứng đáng chịu đựng đau đớn...'

Từ chối, phủ nhận hoặc không có khả năng hoàn thành dễ dẫn đến chuyện nổi giận, trừng phạt và lạm dụng. Nếu vâng lời, phục tùng thì có thể được ban thưởng, ưu đãi, chiều chuộng và quan tâm nhất thời.

Song, trong môi trường như thế thì thật khó dự đoán và chắc chắn mọi điều- hôm nay tốt đấy và ngày mai lại tồi tệ. Hậu quả là thân chủ chỉ học hỏi để sống trong chốc lát và thiếu khả năng học hỏi từ trải nghiệm của chính bản thân mình.

Cảm nhận của thân chủ về bản ngã được quyết định bởi việc người khác đối xử với anh ta như thế nào, và anh ta có thể xem xét hậu quả hành vi của anh ta chủ yếu là do chính anh ta gây ra. Anh ta tự bồi bổ mình tương tự: mọi thứ được lượng giá và tri nhận trong khung tham chiếu của chính những cảm giác và trải nghiệm riêng tư.

Quan niệm cái tôi của anh ta, phát triển trong một môi trường dựa trên nhu cầu căn bản là sự tồn còn cơ thể-- nhu cầu có giá trị-- không thể nhất quán được, bởi một cảm nhận cốt yếu sâu xa về sự vô dụng của bản thân.

Đem cảm nhận cốt yếu về sự vô dụng này vào nhận thức thì có thể rất là nguy hiểm. Khi bản thân bị đe doạ phải đương đầu với sự vô dụng đó, con người buộc phải tự vệ bằng cách phóng chiếu trách nhiệm gây ra nỗi đau cho anh ta sang những người khác. Dù thân chủ không thể thừa nhận trải nghiệm về sự xung đột nội tâm-- anh ta vẫn có thể thừa nhận nỗi oan ức và hụt hẫng vì bị tổn thương, làm cho đau đớn hoặc do hiểu nhầm.

Thời thơ ấu và vị thành niên, hệ thống tự vệ này có thể giúp người ta sống còn-- dù theo một cách thức có thể được tri nhận bởi những người khác tới mức như là một kẻ 'thiếu suy nghĩ', 'ích kỷ' hoặc thậm chí 'tội phạm'.

Rồi đến giai đoạn trưởng thành, những sự 'che chở' cho việc không phản ánh trải nghiệm riêng tư của chính mình không những không được người ấy thấu cảm mà còn phóng chiếu trách nhiệm gây nên những phiền muộn, khó khăn của bản thân sang cho những người khác, đến độ rối loạn chức năng trầm trọng.

Con người ấy không có các kỹ năng để trải nghiệm sự chân thành, thân mật và yêu thương lẫn nhau với những người khác.

Người ta có thể đăng ký tham gia trị liệu song, một khi không định vị được nguồn gây ra đau khổ nằm trong chính bản thân mình, thì anh ta có thể cảm thấy rằng, anh ta bị gây áp lực để tìm kiếm sự giúp đỡ, hỗ trợ, và hậu quả là, có thể làm hạn chế động cơ chấp nhận tiến trình trị liệu của chính anh ta.

Nguồn:
Mearns, 2003: 116-118

[Ngày mai, 06.01: Các vấn đề xảy ra trong tiến trình trị liệu thân chủ mắc rối loạn nhân cách.]

Bài đăng cũ hơn Trang chủ