
Như bạn có thể đoán ra, bài này tôi đã dự tính cho mục "Đầu tuần một từ" hôm qua, song do bận đi vấn an một bà cụ 86 tuổi- mẹ người bạn vong niên- sắp qua đời nên đành giữ lại viết tiếp...
Hôm nay, trên tờ lịch bàn dẫn lời của G. Wilde: "Ái tình là một bí mật mà người muốn nhận nó thì phải quỳ gối xuống." Có lẽ, đó là lý do tôi cảm thấy đau chân từ hồi tối đến giờ chăng?
Thực tế cho thấy rằng, quan hệ là yếu tố quyết định sự thành bại ở đời, nó tác động quan trọng đến độ sung mãn tâm lý của mỗi người trong thế giới hiện đại.
Một số nhà nghiên cứu thậm chí xác quyết: việc duy trì và khích động niềm đam mê trong những mối quan hệ tốt đẹp, dường như mang ý nghĩa sống còn cho sức khoẻ chúng ta chẳng kém gì thức ăn bổ dưỡng và thói quen tập thể dục đều đặn (Ryff và cs., 2001).
Không những thế, theo nhà dịch tễ học xã hội Richard G. Wilkinson, sức khoẻ của xã hội xem chừng phụ thuộc vào chất lượng của các mối quan hệ.
Tiếc thay, nhiều khía cạnh của cuộc sống cạnh tranh quá phức tạp, đầy toan tính quyền lực và bận rộn vì công ăn việc làm ngày nay đã và đang chống lại các mối quan hệ của chúng ta- xa người thân, lơi lỏng liên kết xã hội và gia đình, dẫn đến tình trạng cách biệt và cô độc.
Vậy, xem xem tâm lý học có thể nói với chúng ta điều gì về những mối quan hệ?
@ Tại sao những mối quan hệ tốt đẹp đem lại lợi ích sức khoẻ tương đương với việc tập thể dục và dinh dưỡng?
Sách báo cho thấy, nhiều người trong xã hội phương Tây hiện đại hầu hết đã thoả mãn các nhu cầu sinh lý cơ bản nên họ tìm kiếm các mục tiêu cao hơn cho sức khoẻ thể chất và tinh thần.
@ Những bí mật cá nhân trong chiếc máy nghe nhạc MP3.
Nghiên cứu của Rentflow & Gosling (2006) phát hiện: âm nhạc là chủ đề trò chuyện thông dụng nhất giữa mọi người; chức năng hữu ích của âm nhạc khi lần đầu tiên ta tiếp xúc với ai đó và loại thông tin mình có thể chiết xuất từ âm nhạc mà kẻ khác thích.
@ Tiến gần nhau hơn: Nghệ thuật của sự tự bộc lộ.
Phân tích hiện tượng: Khi ai đó chỉ mới sơ ngộ đã cảm thấy ta chiếm trọn trái tim họ, thì điều ấy dễ khiến chúng ta bỏ chạy.
@ Bạn phối ngẫu không chung tình. Câu hỏi là Tại sao.
Kiểu quy buộc ta hình thành về hành vi của bạn phối ngẫu sẽ tác động quan trọng, bất kể ta có khắc phục và vượt qua được hay không những gì họ đã làm với mình. Nó cũng sẽ ảnh hưởng ghê gớm, cho dù ta có thể và muốn gìn giữ mối quan hệ này.
[Tôi nhớ, đã đọc lâu lắm trong một cuốn sổ tay quảng cáo thuốc đại ý rằng, những gì bạn làm cho tôi rồi tôi sẽ quên, những gì bạn nói với tôi rồi tôi sẽ quên, song những gì bạn làm tôi cảm thấy về điều gì đó thì tôi sẽ chẳng thể nào quên.]
@ "Tính nghi ngờ dở hơi" có thể gây ngộ độc quan hệ như thế nào.
Hoài nghi có cái hay của nó, song nếu ngớ ngẩn, lạm dụng quá thì đố ai lường hết nổi hậu quả- một nghiên cứu của Kruger và Gilovich (1999).
Trong lĩnh vực nghiên cứu tâm lý trị liệu, mối quan hệ giữa thân chủ và nhà trị liệu luôn được ưu tiên xem xét và thực tế, giới chuyên môn đã thu được không ít lợi lạc.
Mối quan hệ giữa thân chủ và nhà trị liệu thường được lượng giá thông qua thuật ngữ therapeutic alliance, nhằm chỉ mối gắn bó khăng khít và sâu đậm giữa các đối tác cũng như sự chia sẻ hiểu biết về công việc phải làm và mục tiêu cần đạt được (Bordin, 1976).
Liên minh mang tính trị liệu này trở thành đóng góp chính yếu đối với mục tiêu lâm sàng, bất kể định hướng lý thuyết của nhà trị liệu ra sao (Beutler, Machado, & Neufeld, 1994; Horvath & Greenberg, 1994; Orlinsky, Grawe, & Parks, 1994).
Orlinsky và cs. đã tìm thấy sự kiện chứng thực cho quyền năng của mối quan hệ trị liệu với hơn 1.000 tài liệu tiến trình- thành tựu; trong số đó, những mối liên hệ mạnh mẽ nhất thực sự trở thành viễn tượng đáng xem xét đối với thân chủ (tr.265).
Tự thân liên minh mang tính trị liệu có tác dụng chữa lành và nó càng quân bình càng tốt. Chấp nhận và xem trọng giá trị trải nghiệm của thân chủ là yếu tố cơ bản trong trị liệu. Trong các phương thức trị liệu hôn nhân- gia đình, điều này bao gồm một nỗ lực tích cực nhằm củng cố vững chắc trải nghiệm của mỗi một thành viên theo cách làm tăng trưởng thêm xu hướng tự chữa lành bẩm sinh của thân chủ (tr.310).
Thành phần căn cốt đang bàn tới- liên minh trị liệu hoặc hoạt động liên minh (working alliance)-- là một cấu trúc ngày càng thu hút sự chú ý của giới nghiên cứu về mối quan hệ trị liệu.
Moras & Strupp (1982) kết luận rằng, thông qua mức độ của các mối quan hệ liên nhân cách ngay khi bước vào trị liệu có thể dự đoán mức độ hợp tác, tham gia cực kỳ tích cực của thân chủ trong mối quan hệ trị liệu.
Filak, Abeles, & Norquist (1986) đã khảo sát: cho dù có hay không thái độ trong quan hệ liên nhân cách theo chiều hướng hoà nhập- thù địch-- ngay từ buổi đầu trị liệu-- thì nó cũng đều tác động đến thành tựu trị liệu. Cụ thể, 72% đối tượng có thái độ hoà nhập đã đạt được thành tựu mỹ mãn, trong khi đó, chỉ 38% đạt kết quả vừa phải do tham gia tâm lý trị liệu với thái độ thù địch.
Như vậy, chất lượng của quan hệ trị liệu là mấu chốt cho sự thành công các mục tiêu trị liệu. Một khi chất lượng quan hệ được tạo ra và đang hiện diện, thì cả thân chủ và nhà trị liệu đều biết điều ấy. Ngược lại, họ đều cùng nhận ra mối quan hệ không cảm thấy hài lòng hoặc nông cạn.
Do đó, nhà trị liệu cần chú ý đúng mức vấn đề này. Đôi lúc, nhà trị liệu cố lãng tránh việc nêu vấn đề về mối quan hệ với hy vọng là, tuần tới nó sẽ khá lên.
Mong mỏi lưu tâm một cách trực tiếp vấn đề với thân chủ là tạo cơ hội và tiềm năng hoàn thiện mối quan hệ. Như ví dụ dưới đây chẳng hạn.
Nhà trị liệu (T): Chúng ta đã cùng nhau làm việc được một vài liệu trình rồi, và giờ đây tôi thực lòng muốn nhận biết về thái độ xa cách giữa chúng ta. Tôi tự hỏi cô đang cảm nhận ra sao về nó...
Thân chủ (C): Vâng, như ông vừa lưu ý đấy thôi, cảm giác nó khá căng thẳng.
T: Xem chừng là nhờ nói về chuyện này, chúng ta có thể phát hiện ra vấn đề và thoát khỏi vướng mắc.
Nhà trị liệu trong ví dụ trên đang nhấn mạnh đến vấn đề cốt yếu là mối quan hệ trị liệu. Nếu không làm thế, có thể nhà trị liệu phải làm việc rất khó khăn và thân chủ không nói gì dù nhận ra điều ấy.
Nói tóm lại, chúng ta biết được một số điều sau:
1. Mối liên minh kết hợp với sự đổi thay mang tính trị liệu, được trải khắp các tình huống, bối cảnh và điều trị.
2. Mối liên minh khởi từ những tính cách và hành vi của thân chủ; tương quan một cách tích cực với các tính cách đáng mong đợi và tiêu cực với các hành vi kém mong đợi hơn.
3. Các tính cách của nhà trị liệu (thấu cảm, nồng nhiệt, v.v...) gắn kết chặt chẽ với những mối liên minh.
4. Mối liên minh có thể được dự đoán qua kết quả trị liệu.
5. Có một tập hợp các công cụ có thể đo lường một cách đáng tin cậy mối liên minh.
Tuy vậy, còn một số điều khác chúng ta cần phải tiếp tục tìm hiểu thêm nữa:
1. Khuynh hướng nhân quả của mối liên minh.
Liệu một mối liên minh chặt chẽ tạo ra các kết quả tốt đẹp, hay các kết quả tốt đẹp sinh thành từ một liên minh chặt chẽ?
2. Các mô hình lý thuyết khác biệt nhau giải thích mối liên minh là quan trọng ra sao.
3. Nhiều thực nghiệm hỗ trợ về mặt kỹ thuật để củng cố và sửa chữa mối liên minh.
4. Nhiều hiểu biết hơn về các cơ chế làm sản sinh ra một mối liên minh bền chặt.
5. Cách thức mối liên kết phát triển và thay đổi thông qua tiến trình trị liệu.
6. Tăng cường kiến thức về những yếu tố thay đổi này cho thân chủ dựa trên những nền tảng khác biệt nhau.
Phân loại: Kỹ năng sống, Nghiên cứu, Phụ nữ, Quan hệ, Tâm bệnh học, Tâm lý trị liệu, Thấu cảm, Thời sự
Bài đăng Mới hơn Bài đăng Cũ hơn Trang chủ