Chiều qua, xem
Little Women (1994, từ tiểu thuyết cùng tên) tại rạp Fansland; đặc tả đường đời, tính cách và sự gắn bó quyến luyến ruột thịt của 4 chị em gái sống cùng bà mẹ tuyệt vời đề cao lối giáo dục nhân văn nên từ đầu đến cuối, film tràn ngập không khí gần gũi âu yếm, dịu dàng ôm ấp và vỗ về yêu thương.

Điều tôi lẩn thẩn tự cười thầm là, film về thế giới ngày thường của phụ nữ chung đụng từ sáng đến tối dưới một mái nhà, song tuyệt nhiên chẳng hề thấy đạo diễn đề cập- dù chỉ chút xíu thoáng qua nào- về những nội tiết tố tạo nên tâm trạng cũng như sự tưởng thưởng riêng có đối với quý bà, quý cô già trẻ lớn bé (!)

Có thể vì ý đồ chuyển tải mang tính xã hội lớn lao và cách xử lý nghệ thuật cao siêu trong film đoạt nhiều giải Oscar, còn thực tế dung tục, đố chị em mô thoát khỏi chu kỳ kinh nguyệt hàng tháng.

Estrogenprogesterone không chỉ là những hormone tính dục dính dáng chuyện rụng trứng và sinh sản, mà chúng còn tác động lớn lao tới các chức năng nhận thức và cảm xúc nữa.

Nghiên cứu hình ảnh chụp cắt lớp não gần đây cho thấy, sự thay đổi nội tiết tố trong suốt chu kỳ kinh nguyệt thực sự tác động ra sao đến cảm nhận của phụ nữ về khoái lạc và sự tưởng thưởng.

Việc Estrogenprogesterone biến động lên xuống làm ảnh hưởng sự đáp ứng tưởng thưởng (reward response) xảy ra trong một vùng gọi là mesencephalon thuộc não giữa.

Hệ thống tưởng thưởng có liên quan tới sự gây nghiện và kiếm tìm lạc thú. Trong thực nghiệm việc đánh bạc, các nhà nghiên cứu xem xét não bằng kỹ thuật fMRI đã phát hiện ra rằng, suốt giai đoạn tiền rụng trứng (hoặc giai đoạn nang/ follicular phase) của kỳ kinh, những vùng đảm nhận xử lý cảm xúc của não được kích hoạt nhiều hơn, và mức độ estrogen lớn hơn làm tăng thêm quá trình dẫn truyền dopamine và khoái cảm.

Người ta lý giải: điều này quan hệ với chuyện sinh sản nhờ làm tình, sự mong đợi về nó càng khiến cho nỗi niềm lạc thú nồng nàn hơn và được ưu tiên trước sự rụng trứng và thụ thai.

Dĩ nhiên,
sức khoẻ phụ nữ và những gì liên quan đến nội tiết tố thần kinh (neuro-endocrinology) của chị em vốn vô cùng phức tạp. Ở đây, chỉ gắng nêu vài kết quả nghiên cứu liên quan gián tiếp đến vấn đề đang bàn.

Các rối loạn cảm xúc có mối gắn bó bền chặt với chu kỳ kinh nguyệt, đặc biệt là
PMSPMDD (premenstrual dysphoric disorder), tuy rối loạn lưỡng cực xem chừng cũng bị tác động.

Mãn kinh (menopause) thì liên quan với trạng thái trầm cảm ở phụ nữ chưa từng mắc rối loạn cảm xúc nào, song một
nghiên cứu về rối loạn lưỡng cực ở nữ giới cho thấy 68% đối tượng này trải qua ít nhất một giai đoạn trầm cảm suốt thời kỳ mãn kinh, với tần suất ngày càng cao so với các giai đoạn sinh sản trước đây.

Một số báo cáo còn gây nhiều tranh cãi thì chỉ ra ảnh hưởng của chu kỳ kinh nguyệt với tiến trình rối loạn lưỡng cực (BD), không kể tới các sự kiện sinh sản chính yếu như có em bé hoặc mãn kinh. Một số đã báo cáo về mối tương quan với vòng kinh nhanh chóng (rapid cycling), trong khi một số nghiên cứu khác thì không tìm thấy bất kỳ sự kết nối nào.

Tin tốt lành là: có vẻ phụ nữ mắc BD dễ dàng cảm thấy bình ổn khi sử dụng thuốc thì cũng ít bị hành hạ bởi các triệu chứng liên quan đến kỳ kinh.

Một nghiên cứu của
Thổ Nhĩ Kỳ kết luận, "với hạn chế nhất định, các kết quả nghiên cứu xác quyết rằng việc điều trị bình ổn tiến triển có thể tạo nên tác nhân dự phòng chống lại sự thay đổi các triệu chứng kinh nguyệt ở phụ nữ đang đáp ứng điều trị BD."

Những nghiên cứu khác cũng cho thấy kết quả tương tự khi dùng Lithium và
Valproate (Depakote/ Epival), dù Valproate gây nguy cơ mắc hội chứng đa u nang buồng trứng (polycystic ovary), và nguy cơ bị khuyết tật trong sinh nở cao; do đó, cần cẩn trọng khi sử dụng thuốc.

Phụ nữ trải nghiệm PMDD có thể cảm thấy bớt đau nhức khi dùng Sertaline (Zoloft), dù trong việc đơn trị (monotherapy) các rối loạn lưỡng cực bằng một loại thuốc chống trầm cảm người ta không giới thiệu nó, bởi vì thuốc Sertaline có thể làm hưng trầm cảm thêm.

Cuối cùng, là
trường hợp một phụ nữ có "tiền sử 30 năm điều trị bệnh liên quan đến rối loạn kinh nguyệt- đầu tiên là vòng kinh nhanh rối loạn lưỡng cực kiểu II, trầm cảm ở giai đoạn tiền rụng trứng và giai đoạn tiền kinh nguyệt (hoàng thể/ luteal phase) thì xuất hiện các triệu chứng hưng phấn cao độ (mood elevation)" đã giảm đau một cách ngoạn mục nhờ dùng Lamotrigine (Lamictal).

[Tuy không rõ là Lamotrigine tác động ra sao đến các hormones hoặc các cơ chế não có tương kết với nhau như thế nào, song với những phụ nữ chịu đau đớn bởi các rối loạn cảm xúc liên quan đến kỳ kinh thì đây có thể là một lựa chọn nên chú ý khi trao đổi với bác sĩ.]

... Tôi không khỏi nghĩ tới một nữ thân chủ là học sinh phổ thông mắc trầm cảm đã có dấu hiệu mất kinh (amenorrhea)-- một triệu chứng thể lý có vẻ đặc trưng nhất trong các kiểu rối loạn kinh nguyệt (menstrual disturbances) thường gặp.

Và trong nguồn mạch liên tưởng, xem film xong, tôi còn kịp nhớ tới cái gọi là đồng bộ kỳ kinh (
menstrual synchrony), một thuật ngữ của Barbara McClintock (1971), khi phát hiện trong ký túc xá trường đại học hiện tượng các bạn gái chung phòng ngày càng đồng bộ trong kỳ kinh (có kinh cùng một ngày).

Đây là vấn đề khá thú vị, ít nhất với sinh viên năm thứ nhất khoa Tâm lý, khi cần phải tìm ví dụ về yếu tố xã hội làm thay đổi yếu tố sinh học!

Bài đăng Mới hơn Bài đăng Cũ hơn Trang chủ