(The Savages, 2007)
Bộ film hay, The Savages; về gia đình nhà Savage, và về những con người hoang dã (nghĩa đen của từ "savage"), khắc khoải sống trong nỗi sợ hãi mơ hồ vượt ngoài sự kiểm soát của bản thân khiến họ ngày này qua tháng khác, dính chùm với nhau để rồi muốn tự làm hại chính đời mình.
Sự cố ông bố già bị mất trí nhớ (dementia) buộc hai anh em nhà Savage phải tạm dừng nhịp điệu riêng tư quen thuộc, đồng thời lại tạo điều kiện cho họ có đủ thời gian và tâm thế lắng nghe những thầm thì khác chẳng hề xa lạ.
Xem bản film đẹp, diễn viên thể hiện sắc sảo mối liên hệ thân- tâm, cảnh quay tiết chế hợp lý vừa buồn cười vừa muốn khóc, nhạc nền cùng các ca từ lọt ra như ở chốn lặng yên không người, khán giả càng nhận ra khoảng cách giữa thái độ và hành vi: lý giải tại sao chúng ta nói một đằng, lại làm một nẻo-- ngay cả với những ý định tốt đẹp nhất.
Theo nghiên cứu xa xưa của La Piere (1934), tất cả phụ thuộc vào cách người ta đặt vấn đề và những mẫu rập khuôn đang tưởng nghĩ tới khi đưa ra câu trả lời.
Có thể nói, ở một số phương thức nhất định, thái độ ứng xử thì tựa như cú bắt chụp của chiếc máy ảnh- định kiến tương ứng với ký ức dội lên tại thời điểm họ bị hỏi han.
Các nhân vật trong film, dù xuất hiện đều đặn xuyên suốt hay chỉ nghe nhắc tới (bà mẹ, và vợ người tình của cô em gái), là thành viên chính thức của nhà Savage (3 bố con) hay chỉ liên hệ khoan nhặt (người tình theo chủ nghĩa nữ quyền của người anh trai) tất tật họ đều qua tuổi hoa niên từ lâu.
Một đặc điểm chung khác là họ luôn cố tỏ ra cực kỳ tự tin và mạnh mẽ, nỗ lực gồng sức bảo vệ cái tôi; hậu quả, cơ thể phải gánh chịu.
Bi kịch thay, đối tượng hay bộc lộ lòng tự trọng mong manh dễ vỡ này thường cảm thấy lắm mối cứ chực đe dọa đâu đây.
Nếu xem film, bạn sẽ hiểu ít nhiều nguyên do hai anh em nhà Savage ăn vô tư, không hề bỏ bữa; ví dụ, cảnh hai người nhấm nháp bánh pizza (?) trong lúc anh trai phải chườm nước đá và dùng băng cố định để giữ đầu sau vụ bị trật vai, còn cô em thì mới nhận được thư tín.
Quả thật, xem chừng 'người tự tin cao nghĩ rằng, họ có thể ăn một cách lành mạnh bất kể chuyện gì xảy đến hay trong tình huống nào-- buồn chán, cuống cuồng, mệt mỏi, lúc đi nghỉ dưỡng hay khi ở bàn tiệc',...
Phát hiện vừa nêu góp phần chứng thực hiện tượng thừa cân hoặc béo phì, đặc biệt ở phụ nữ lớn tuổi: liên quan tới sự tự tin thấp.
Mất trí nhớ tuổi già (dementia) gồm một tập hợp không rõ ràng những khiếm khuyết trong diễn tiến của hệ thần kinh, nó có thể biểu hiện là chính tình trạng mất trí nhớ hoặc có thể là bằng chứng của một bệnh lý rộng hơn như Alzheimer hoặc Parkinson.
Điều đáng buồn, mặc dù mỗi năm có hàng ngàn toa thuốc liên quan đến căn bệnh mất trí nhớ, song nghiên cứu gần đây cho thấy không có loại nào khẳng định đặc hiệu trong điều trị.
Bộ fim The Savages kết thúc trong cảnh chạy bộ như một hình thức tập thể dục hướng tới niềm vui sống.
Vì còn có ngày mai, nên xem xong film rồi tôi liền tự nhủ mình phải chú tâm hơn nữa vào huyệt Lao cung.
Phân loại: Định kiến, Động cơ, Film, Hôn nhân-gia đình, Kỹ năng sống, Mẫu rập khuôn, Não-Thần kinh, Phụ nữ, Quan hệ, Sự tiên đoán tự thực hiện, Thuốc men

Một câu chuyện thương tâm.
Thật khốn khổ khi phải nhập viện điều trị tập trung (ICU); vì thế, các bác sĩ từ tâm luôn cố sức giúp cho trẻ khỏi trải nghiệm ấn tượng nặng nề đó.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, dù ý định là thiện lành, song thực sự việc dùng thuốc an thần có khả năng tạo ra nguy cơ lớn hơn của hội chứng rối loạn stress sau sang chấn (PTSD).
Tiến sĩ Colville đã tiến hành thăm khám 102 trẻ sau hai tháng nằm ở phòng ICU.
Đáng kinh ngạc, nhận thấy 32 cháu có các ký ức hoang tưởng kết hợp với một số ảo giác ghê rợn.
Số trẻ này ghi nhớ một cách lệch lạc lắm cơn sợ kinh hoàng-- kiểu như mấy con bọ cạp bò lổn nhổn trên da--, còn hơn cả số mũi kim tiêm và các cô y tá, điều dưỡng nghiêm nghị.
Hậu quả, khiến chúng dễ tiến triển hội chứng PTSD; thậm chí ngay cả khi nhóm nghiên cứu khống chế những tổn thương trầm trọng.
64 cháu biểu lộ khả năng nhớ chính xác, đúng thực tế các chi tiết, song các ký ức này-- thường hay bị bóp méo-- lại không làm nảy sinh nguy cơ PTSD.
Dường như, vấn đề mà các bậc cha mẹ và bác sĩ nên tập trung chính là những ký ức hoang tưởng.
Tiến sĩ Colville xác định rõ rằng, mối tương quan ý nghĩa nhất về các ký ức hoang tưởng xảy đến trong khoảng thời gian trẻ sử dụng thuốc an thần và giảm đau; thấy tỷ lệ các hoang tưởng lập tức tăng vọt sau 2 ngày liền dùng biệt dược giảm đau.
Tâm trí người trưởng thành trải nghiệm đủ đầy tổn thương do sang chấn; nghiên cứu của tiến sĩ Colville chứng tỏ họ còn có thể gặp nhiều nguy cơ bị PTSD từ các loại thuốc tạo nên những hoang tưởng ám ảnh.
Người lớn cũng dễ bị ảo giác khi dùng thuốc an thần, song họ thừa khôn ngoan để chẳng thèm chú ý tới các ký ức khó tin đó.
Đặc biệt, với đối tượng trẻ em thì hoặc chỉ cho chúng dùng ít thuốc an thần thôi, hoặc cần sàng lọc các ký ức hoang tưởng nhằm giúp cho trẻ không phải chịu đựng âm thầm những hình ảnh khủng khiếp.
Phân loại: Ảo giác, Hoang tưởng, Loạn thần, PTSD, Tâm bệnh học, Thuốc men, Trẻ em

Chẩn đoán ung thư thường khiến người ta lo lắng cao độ. Phần vì đối đầu với cái chết, mặt khác họ phải chọn một phương pháp điều trị và chấp nhận các tác dụng phụ đi kèm.
Hóa trị liệu (chemotherapy)-- giết rất nhiều tế bào lành mạnh cùng với các tế bào ung thư- bị nghi ngờ là phá hoại cả tâm trí lẫn cơ thể bệnh nhân.
Vì thế, nhiều đối tượng báo cáo các trục trặc xảy ra cho suy nghĩ và trí nhớ như là tác dụng phụ về mặt nhận thức mang tên là 'não hóa trị liệu' (chemo brain)-- mất tập trung, khó xử lý việc phức tạp, quên những điều vốn rất quen thuộc,...
Danh xưng nhiều khi không phản ánh sự thật, và hai nghiên cứu đăng tại Hội nghị thường niên Viện Thần Kinh Hoa Kỳ (AAN) đã hé lộ đôi chỗ về hiện tượng này.
Các nghiên cứu trước dường như xác quyết rằng, hóa trị liệu là nguyên nhân gây nên sự sa sút về mặt nhận thức.
Hai nghiên cứu gần đây của TS. Michael J. Boivin & TS. David G. Darby đã chỉ ra rằng, sự sa sút thực sự thích hợp với cơn đau và nỗi lo lắng hơn là bởi tính ác nghiệt của hóa chất.
Nhóm nghiên cứu thiết lập các trắc nghiệm nhận thức với 30 phụ nữ trước và sau một số vòng hóa trị liệu.
Kết quả, có 03 phụ nữ thể hiện sự giảm sút trong tốc độ xử lý thông tin, song những biểu hiện giảm sút này là các thiếu hụt không mấy ý nghĩa-- có thể được tìm thấy khi so sánh phụ nữ trước lúc tham gia điều trị đối với cộng đồng chung.
Thực chất, còn có một số điều không thuộc hóa trị liệu quấy nhiễu luồng suy nghĩ của bệnh nhân ung thư.
Rõ ràng không loại trừ khả năng rằng hóa trị liệu là một trong những nguyên nhân gây ra sự thiếu hụt, khiếm khuyết tâm thần tức thời, song ta nên xem xét, lắng nghe các sự kiện vặt vãnh với thái độ hoài nghi, bởi vì không có mối tương quan nào giữa các báo cáo cá nhân về thiếu hụt trong tri giác với sự thiếu hụt thực sự.
Chẳng có ai trong số 3 phụ nữ- kết quả test rõ ràng tồi tệ-- lại cảm thấy chính họ suy nghĩ tồi tệ hơn so với người thường.
TS. Boivin giải thích khả năng thiếu hụt ban đầu trong nghiên cứu của ông.
Theo đó, Boivin tập trung thành 3 nhóm phụ nữ: những người mới đây được chẩn đoán là ung thư vú song chưa bắt đầu tham gia hóa trị liệu; những người mà sinh thiết của họ chứng tỏ lành tính, và những người điều trị sống sót cũng như có dấu hiệu thuyên giảm trong vòng một năm.
Các thành viên của mỗi nhóm được kiểm tra qua bộ công cụ Lượng giá Trạng thái Tâm lý- Thần kinh và một số loại trắc nghiệm đánh giá tâm trạng khác nhau như Thang đo Chất lượng Cuộc sống Bệnh nhân Ung thư vú mang tên HOPE.
Trái ngược với ước đoán của Boivin, những phụ nữ trước khi hóa trị liệu có điểm số thật kém cỏi trong các trắc nghiệm về nhận thức hơn là các phụ nữ sau điều trị.
Sự thể hiện kém cỏi này liên quan chặt chẽ với mức độ khó khăn và sợ hãi trong đời sống.
Điều đó chứng tỏ rằng, không phải do điều trị hóa chất mà chính sự căng thẳng tinh thần (stress) khiến tâm trí u ám.
Đây là phát hiện quan trọng giúp bệnh nhân lên tinh thần, bởi vì vấn đề thực sự chính là hiểu biết sai lệch về các nguy cơ của hóa trị liệu có thể làm tăng thêm mức độ stress.
Các nhà tham vấn chuyên nghiệp và công tác hỗ trợ xã hội là thành phần quan trọng góp phần trong tiến trình chữa trị bất cứ bệnh tật thể lý cơ bản nào, vì nó có thể giúp giảm nhẹ gánh nặng nhận thức dường như là nguyên nhân tạo ra sự giảm sút.
Phân loại: Sợ hãi, Stress, Tâm lý học Lâm sàng, Thuốc men

Năm ngoái, một nữ thân chủ mắc trầm cảm, 34 tuổi, đã bỏ dở khi chúng tôi chỉ vừa mới tiến đến liệu trình tâm lý thứ ba.
Ngay trong buổi gặp đầu tiên, cô ấy tỏ ra nôn nóng muốn bằng mọi cách chóng khỏi bệnh, đồng thời khẳng định rằng mình sẽ không bao giờ bỏ thuốc (theo chỉ định của bác sĩ mà cô thăm khám dịch vụ mấy tháng nay); vì "có thuốc, em còn làm được đôi việc này nọ; thiếu nó, em cảm thấy bứt rứt khó chịu, chân tay buồn buồn, không thoải mái..."
Tôi nhớ lại trường hợp trên vì gần đây, tờ NYT giới thiệu bài viết đề cập thói quen sử dụng thuốc chống trầm cảm dần dần lan rộng.
Theo đó, người mắc trầm cảm hầu như sử dụng thuốc vào lúc tuổi còn nhỏ rồi kéo dài liên tục một thời gian.
Thực tế, thuốc chống trầm cảm đã cứu sống họ, song nó cũng gợi ra câu hỏi về ảnh hưởng đến sự phát triển tâm lý và cốt lõi nhân cách của chính người dùng.
Chúng ta còn chưa biết thật đầy đủ về tác động của thuốc chống trầm cảm, chẳng hạn, khi sử dụng điều trị 15-20 năm từ giai đoạn vị thành niên hoặc trẻ con.Nói thêm bên lề, hiện cũng chưa có nhiều nghiên cứu dài hạn đáng tin cậy, thậm chí với thuốc như Ritalin vốn được dùng rộng rãi cho trẻ em.
Vấn đề nằm ở cách thức thuốc men được thử nghiệm và xác nhận.
Để được cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) chấp thuận, phải đè bẹp thuốc vờ (placebo) trong hai cuộc thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên với hàng trăm đối tượng tham gia điều trị tại một số giai đoạn liên quan đến căn bệnh, thường vào khoảng 4- 12 tuần.Như thế, thuốc được chấp thuận dựa trên các nghiên cứu ngắn hạn, trong khi sẽ sử dụng chúng thời gian dài hơn-- lắm khi là miên viễn-- trong thực hành lâm sàng.
Nghiên cứu theo dõi lâu nhất-- một trong loại thuốc chống trầm cảm thế hệ mới-- là Effexor cũng chỉ được tiến hành có 2 năm, đã chứng tỏ tác dụng vượt trội thuốc vờ trong việc ngăn chặn sự tái phát chứng trầm cảm.
Lời cuối, nếu bạn từng trải nghiệm hoặc hiểu biết chuyện sử dụng thuốc, xin thoải mái chia sẻ cùng.
Phân loại: Tâm lý trị liệu, Thời sự, Thuốc men, Trầm cảm
(Không thể đùa với tài mà)
Câu chuyện hành hạ con mình đăng tải hôm nay, cũng như vô vàn chi tiết phản ánh việc tự làm hại bản thân của người nghiện ma túy không quá xa lạ với cộng đồng.
Blog Cái tôi từng đề cập đến lối nghĩ giản dị hóa phần nào trong cách tiếp cận vấn đề.
Tới thời điểm này, người ta đã biết rõ rằng sử dụng cần sa/ tài mà (cannabis: dầu gai) thúc đẩy thêm nguy cơ-- tuy lần hồi bé nhỏ song luôn đầy ý nghĩa-- các biểu hiện loạn thần.
Chẳng nổi tiếng như hoạt chất tetrahydrocannabinol (THC), người anh em cannabidiol (CNB, tham khảo danh sách) xem chừng chưa phải chịu trách nhiệm cho cảm giác 'mê tơi' dù thực chất nó thường trực trong cây dầu gai.
Dùng kỹ thuật chụp ảnh cộng hưởng từ (MRI) phát hiện ra, kích họat cần sa chứa THC sẽ khiến suy giảm chức năng của thùy não trước (frontal lobe)-- chịu trách nhiệm xử lý những đáp ứng cảm xúc và hành vi bất hợp lý, nơi vẫn thường được cho là quyết định các suy nghĩ cao cấp, lập kế hoạch, hình thành mục tiêu.
Giới nghiên cứu đã tích lũy được bằng chứng CNB có tác dụng chống loạn thần, CNB hứa hẹn kiềm chế các ảnh hưởng tăng loạn thần của THC.
Tùy loại chế phẩm cần sa mà đặc tính CNB khác biệt, chẳng hạn CNB ít nhất khi chơi 'skunk' -- loại ma túy nặng đô này hầu như loại trừ CNB để ưu tiên nuôi dưỡng hàm lượng cao THC.
Một nghiên cứu tài tình mới đây chú tâm kiểm tra mẫu tóc của các nhóm chơi cần sa để đánh giá mức độ dung nạp CNB.
Theo đó, các nhóm nào có mức độ CNB thấp nhất thì thường hay trải nghiệm các trạng thái tương tự loạn thần.
Ngược lại, dùng đồ chơi chứa chủ yếu CNB thì hiếm hoi lắm mới trải nghiệm giống như loạn thần-- cùng mức độ với nhóm so sánh chẳng phát hiện thấy các hoạt chất cần sa ở những người giả định không hút.
Lưu ý tí chút: đối tượng thuộc nhóm trên đều toàn là người mới tham gia từ một nghiên cứu với dân chơi ketamin (chất làm tăng nguy cơ loạn thần), vì thế nghiên cứu sẽ còn phải tiến hành với những ai chỉ dùng duy nhất cần sa để chắc chắn rằng, tác dụng không phải do tương tác riêng biệt giữa hai loại ma túy vừa kể.
Rốt cục, khi tự thân CNB dường như không có tác dụng gây mê sảng thì hy vọng trong tương lai kẻ sản xuất sẽ gắng sức để tối đa hóa hàm lượng CNB, nhằm góp phần giảm thiểu nguy cơ tàn phá sức khỏe tâm thần của các tay chơi ma túy.
(ảnh)
Theo nghiên cứu đăng trên Tạp chí Tâm thần học Hoa Kỳ tháng này, thì dường như Prozac (fluoxetine) có tác dụng tốt khi được dùng điều trị lâu dài bệnh trầm cảm cho trẻ em và vị thành niên.
Nghiên cứu chú tâm xem xét mẫu 168 trẻ em và vị thành niên tuổi từ 7 đến 18 tái phát trầm cảm hay không, và việc đó nếu có, diễn ra nhanh chóng đến mức nào.
Và họ nhận thấy, trong nhóm trẻ dùng Prozac, tỷ lệ tái phát là 42% trong vòng 6 tháng sau giai đoạn bình ổn nhờ uống thuốc (9 tháng từ lúc bắt đầu điều trị); cùng giai đoạn trên, tỷ lệ tái phát của nhóm trẻ dùng thuốc giả vờ (placebo) là 69%.
Áp dụng một định nghĩa khắt khe về sự tái phát (relapse), các nhà nghiên cứu nhận thấy kết quả tương tự-- 22% ở nhóm Prozac và 48% ở nhóm thuốc giả vờ; ngoài ra, họ còn phát hiện thời gian tái phát trầm cảm ở nhóm Prozac ngắn hơn.
Vậy, khuyến nghị từ nghiên cứu là gì?
Nếu một đứa bé hay vị thành niên trầm cảm đang dùng Prozac mà cảm thấy có tác dụng thì chúng cứ nên tiếp tục duy trì theo ý bác sĩ điều trị, nhằm làm giảm tối thiểu nguy cơ tái phát.
Điều còn chưa rõ ràng từ nghiên cứu trên là liệu có thể khái quát hiệu quả với các thuốc chống trầm cảm thuộc dạng SSRI khác.
Prozac là thuốc chống trầm cảm thông dụng hay được kê đơn cho cả người lớn và trẻ nhỏ.
Nhân tiện, có một phóng sự điều tra vén lộ bí mật xấu xa liên quan đến việc thử nghiệm thuốc chống trầm cảm gần đây; tác giả bài báo, dựa trên nghiên cứu (thích nhẹ nhàng hơn thì đọc thêm), góp phần phản ánh hiện tượng mang tên "hiệu ứng tô hồng"- chỉ trình bày các kết quả tích cực.
Phân loại: Phương pháp luận, Tâm bệnh học, Thuốc men, Trầm cảm, Trẻ em, Truyền thông
[Bức tranh Những Người Đang Ăn Khoai Tây của Vincent Van Gogh]
Tối 27.2 trời đất tê tái, lục tìm đọc lại lời thề Hippocrates, rồi tình cờ thấy bài viết của ông Bộ trưởng Bộ Y tế Việt Nam về Danh y Hải Thượng Lãn Ông; ngoài hai ý tưởng cơ bản-- hết mình cứu chữa cho người bệnh và sống đời trong sáng--, cá nhân tôi nhận ra phầm chất đáng quý cần gìn giữ đối với những ai hành nghề này: chấp nhận, tôn trọng sự khác biệt.
Cuộc sống nhân quần nơi nơi còn rất nhiều khốn khó, điêu đứng trước lắm hoàn cảnh đói rét, ốm đau, dịch tật, tai ương, bất công, chết chóc.
Đâu cứ gì tuổi 40, trẻ nhỏ đã sớm phải chịu cảnh bỏ học để chẳng mấy chốc lao theo dòng đời, bươn chải kiếm kế mưu sinh.
Tôi nhớ tờ giấy mang gam màu lạnh tô nguệch ngọac của cô bé lớp 5 mới vẽ chiều hôm kia tại phòng trị liệu (hai cái cây lưa thưa lá, một con gà cúi đầu và cô bạn thân không có mặt rõ ràng); theo lời bố em, cô bé uống thuốc chống trầm cảm theo toa thuốc của bác sĩ tâm thần từ 6 tháng nay.
Nỗi niềm u buồn, uất hận, thống khổ đậm chất hiện sinh thực chất ẩn chứa trong căn bệnh trầm cảm-- đề tài thời thượng quen thuộc.
Dưới góc độ chuyên môn lẫn đời thường, người ta hay phân chia trầm cảm do nguyên nhân "sinh học" hoặc khởi phát bởi "hoàn cảnh", đối lập giữa trầm cảm "lâm sàng" và "không lâm sàng",...
"Trầm cảm hiện sinh" xem chừng kết cục nảy nở vì những trăn trở, thao thức khôn nguôi, chẳng thể hài lòng về ý nghĩa cuộc đời, sự sống, cái chết,... dần dần đưa đối tượng chìm hẳn vào trầm cảm.
Trầm cảm hiện sinh có thể xảy đến khi người ta đối đầu với các kiểu dạng phức tạp thuộc loại vấn đề liên quan tới sự sống, cái chết, ý nghĩa ở đời,... (người yêu giã biệt mãi mãi, mất việc làm,.. hoặc chẳng xảy ra sự cố gì ghê gớm cả) của chính họ.
Là một trường phái, trào lưu triết học nổi tiếng, chủ nghĩa hiện sinh (existentialism) nhấn mạnh rằng con người ta được thúc đẩy bởi việc sống ý nghĩa đời mình chứ không phải bị quyết định từ Thượng đế, thánh thần hay các lực lượng ngoại giới.
Theo quan điểm chủ nghĩa hiện sinh, con người thì hoàn toàn tự do, và do đó, hoàn toàn chịu trách nhiệm về niềm hạnh phúc hay sự khốn khổ của chính mình. Mỗi một sinh thể người tự tạo ý nghĩa động cơ sống của bản thân, bất kể là thông qua công việc, sở thích, làm từ thiện, tôn giáo, quan hệ, con cái, gia đình, hay điều gì đấy khác.
Trầm cảm hiện sinh xem chừng được đặc trưng như là trạng thái tuyệt vọng độc nhất, thể hiện cảm nhận rằng đời chúng ta thực sự vô nghĩa lý. Nên biết, người mắc trầm cảm lâm sàng thông thường cũng có thể trải nghiệm các vấn đề hiện sinh dính dáng tới ý nghĩa đời họ- trong tiến trình trị liệu tâm lý nhằm chữa trị căn bệnh trầm cảm.
Thuốc men tỏ ra không hiệu quả bằng trị liệu tâm lý trong các trường hợp mắc trầm cảm hiện sinh. Nhân tiện, khám phá của các nhà nghiên cứu Anh quốc thật đáng ngạc nhiên: dữ liệu thuốc chống trầm cảm chứng tỏ nó không hiệu quả như ta vẫn tưởng lâu nay.
Và các cách thức giúp người mắc rối loạn lưỡng cực (bipolar) hồi phục, tìm lại trạng thái cân bằng là tha thứ, biết ơn và minh triết; câu chuyện sinh động của một phụ nữ Canada xứng danh anh hùng.
... Nỗi trầm buồn hiện sinh. Không biết bạn ra sao, tôi thì chưa từng nói rằng đời mình tốt hơn những thân phận nêu trên.
Bởi sống một cuộc sống có mục đích, đầy ý nghĩa luôn là thách thức lớn lao, đòi hỏi chúng ta ngẫm nghĩ thêm về các quyết định đã tiến hành, nhìn nhận xem hiện tại ta đang định vị nơi nào; quan trọng hơn nữa, nó thách thức chúng ta ra quyết định đôi lúc ở những bước chuyển đổi cực kỳ giá trị, nhằm duy trì ý nghĩa cuộc sống mà ta mưu cầu.
Và nỗi buồn đau hiện sinh trong cơn trầm cảm đọa đày nhiều khi giúp người ta nhận ra rằng, hành trình là trị liệu.
Phân loại: Hội họa, Phụ nữ, Tâm bệnh học, Tâm lý học Lâm sàng, Tham vấn Tâm lý, Thuốc men, Tơ tưởng J., Trầm cảm, Trẻ em

Prozac (Fluoxetine) là loại thuốc quen thuộc, vốn hay dùng cho người mắc trầm cảm; nay cơ quan FDA (Hoa Kỳ) còn cho phép hãng dược Eli Lilly sử dụng Prozac dưới dạng viên nén tẩm mùi vị thịt bò nhai được để điều trị chứng lo hãi chia ly (separation anxiety) ở loài chó.
Đáng chú ý, sản phẩm Prozac dành cho chó này đã giành vị trí thứ 2 trong Giải thưởng 101 sự vụ kinh doanh đình đám, dở hơi nhất (101 Dumbest Moments in Business) do tạp chí Fortune danh tiếng bình chọn vào dịp kết thúc năm 2007 vừa rồi.
Nói thêm, xếp liền kề trong bảng xếp hạng là câu chuyện quý bà Leona Helmsley di tặng 12 triệu USD cho cún cưng yêu dấu; ngoài ra, nếu thích thư giãn, bạn thử lướt đôi dòng chú thích về những chiếc toilet kỹ thuật cao xem sao.
Cuối cùng, "tiếng lành đồn xa..." như bạn biết, một số thứ hàng hóa sản xuất từ Trung Quốc (đồ chơi, thực phẩm, mũ lưỡi trai bóng đá,...) được Fortune đánh giá là quán quân.
Phân loại: Hài hước, Kinh tế, Ô, Tâm lý học Dân tộc, Tâm lý học Quản lý, Thuốc men
(ảnh: WFMH)
Theo thông tin từ một website, ước tính khoảng 450 triệu người trên khắp hành tinh đang phải chịu đau đớn bởi một rối loạn hành vi hoặc tâm thần; trong đó, chỉ một phần nhỏ được tiếp cận điều trị cơ bản nhất.
Rằng, cứ 10 người thì có 4 người trở nên tàn tật do nguyên nhân bệnh tâm thần. 14% gánh nặng bệnh tật toàn cầu thuộc các rối loạn tâm thần. Chi phí chữa trị cho bệnh tâm thần chiếm 1% ngân sách quốc gia. Ở các nước thu nhập thấp, 2 triệu dân mới có 1 bác sĩ tâm thần; so sánh đó, ở các nước thu nhập cao là 1/10.000 dân.
Tại các nước đang phát triển, hầu hết thành viên mắc các rối loạn tâm thần nghiêm trọng chẳng khác gì đối tượng bị bỏ rơi, họ đành tự giải quyết với những gánh nặng riêng tư như trầm cảm, mất trí nhớ tuổi già, tâm thần phân liệt, và lạm dụng chất. Vì bệnh tật, nhiều người thành vật hy sinh, là đích nhắm nhục mạ và phân biệt đối xử tàn tệ.
Truyền thống Ngày Sức khỏe Tâm thần Thế giới (World Mental Health Day) bắt đầu vào 10.10.1992; chủ đề năm ngoái 2006 nhấn mạnh đến việc nâng cao nhận thức nhằm giảm thiểu nguy cơ tự tử-- như là hậu quả thảm hại của chẩn đoán và điều trị các bệnh tâm thần nghiêm trọng.
Năm nay, người ta đặt vấn đề sức khỏe tâm thần trong bối cảnh thế giới đang biến chuyển: sự tác động của văn hóa và tính đa dạng.
Thêm một lần nữa, hễ có dịp là blog Cái tôi lại tranh thủ điểm tin liên quan đến tâm thần phân liệt.
Tình hình xem ra khả quan cho người mắc tâm thần phân liệt?
Dù có rất nhiều tiến bộ trong việc định dạng và điều trị tâm thần phân liệt vài thập niên gần đây, câu trả lời dường như là Không.
Hai nghiên cứu gần đây cho thấy, người mắc tâm thần phân liệt không có vẻ được tốt như chúng ta mong đợi, mặc cho bao điều kiện chăm sóc thuận lợi đối tượng mắc rối loạn này.
Tâm thần phân liệt (TTPL, Schizophrenia) là một rối loạn tâm thần suy nhược nghiêm trọng, tấn công đa phần vào thanh niên mới ở giữa độ tuổi 20 hoa niên.
Đặc trưng bởi trải nghiệm hoang tưởng hay ảo giác (hoặc cả hai), TTPL rốt cục tạo nên một thời kỳ cực kỳ khốn khổ khi phải đương đầu với các hoạt động hàng ngày.
Người mắc TTPL thường nhọc nhằn trần ai cùng các tiến trình suy nghĩ bình thường, như chuyện tuân theo danh sách "việc cần làm" hay phải tập trung vào một nhiệm vụ tại bất kỳ giai đoạn đầy ý nghĩa nào đó. Các nhà tâm lý học nhìn vấn đề này như là trải nghiệm "thiếu hụt nhận thức."
Nghiên cứu thứ nhất do Goldberg và cộng sự tiến hành, dựa trên giả thuyết rằng các loại thuốc chống loạn thần đời thứ hai sẽ có cải thiện đáng kể nhận thức (ví dụ, suy nghĩ có sắp xếp, tổ chức) của bệnh nhân TTPL.
Goldberg và cs. đi đến ý tưởng trên sau một loạt thử nghiệm lâm sàng đã công bố khẳng định điều này xảy ra, song không một thử nghiệm lâm sàng nào thiết kế để test riêng mỗi vấn đề như thế mà thôi.
Thật không may cho người mắc TTPL, các nhà nghiên cứu đã khám phá thấy là các loại thuốc chống loạn thần đời gần nhất, mới nhất thực sự hỗ trợ rất ít cho việc suy nghĩ của họ. Nói cách khác, các hiệu ứng tích cực được các nghiên cứu trước đây chỉ ra chính vì phương thức thiết kế giả tạo, chứ không phải tự thân hiệu ứng của thuốc.
Giới khoa học có nhiều cách để đo lường sự cải thiện, tốt hơn của một người so với kẻ khác trong xã hội.
Kinh tế gia thực hiện qua thu nhập, phí tổn tiêu thụ và điều kiện sống; nhà giáo dục thì nhìn vào cách nhiều người tại một đoạn đời sau khi tốt nghiệp phổ thông hoặc đại học; còn các nhà tâm lý học sẽ phải xem xét các yếu tố cảm xúc và mức độ hạnh phúc. Bác sĩ phẫu thuật hay chú ý tới tỷ lệ tử vong để quyết định, dẫu cho đồng nghiệp của họ có tỷ lệ tử vong chấp nhận được với một quy trình quen biết hay không.
Nghiên cứu thứ hai kiểm tra tỷ lệ tử vong của người mắc TTPL từ 37 nghiên cứu đã công bố, thuộc 25 quốc gia trong khoảng thời gian 26 năm trở lại (tính tới 01.01.2006).
Dù dịch vụ sức khỏe tâm thần vài thập niên gần đây có nhiều đổi mới, song các nhà nghiên cứu vẫn chưa rõ nguy cơ tử vong với TTPL thay đổi hay không.
Thay vì nhìn thấy tỷ lệ tử vong của người mắc TTPL thuyên giảm theo thời gian-- như tỷ lệ tử vong trong cộng đồng chung--, các nhà nghiên cứu thực ra lại phát hiện tỷ lệ tử vong tăng lên. Nói cách khác, người mắc TTPL hiện đang chết nhiều hơn so với quá khứ.
Các nhà nghiên cứu quy lỗi này phần lớn do người mắc TTPL không được hưởng lợi bao nhiêu từ các tiến bộ, đổi mới nói chung trong việc chăm sóc sức khỏe-- người mắc TTPL hoặc là chẳng cố tìm kiếm để được chăm sóc sức khỏe, hoặc là họ không nhận được cùng một mức độ chăm sóc sức khỏe phù hợp như với đa số dân chúng.
Điều đó một phần liên quan tới chính bản thân bệnh tật, như các nhà nghiên cứu lưu ý:
Đối với TTPL, tình trạng dồn dập cấp tính của căn bệnh có thể đưa đến cả một loạt yếu tố thuộc lối sống không lành mạnh, làm tăng thêm nguy cơ mắc các bệnh thực thể và hậu quả, tăng nguy cơ tử vong.
Người mắc TTPL thường bị cho là có khuynh hướng ít khi kiếm tìm chăm sóc sức khỏe, hiếm được chăm sóc y tế, tham gia vào các hành vi nguy cơ cao, và thiếu tuân thủ liệu trình điều trị.
Các nhà nghiên cứu cũng khẳng định, có thể là một số yếu tố gene hoặc môi trường đặt người mắc TTPL vào nguy cơ cao hơn, đặc biệt là từ viễn tượng sức khỏe nói chung.
Các loại thuốc chống loạn thần không điển hình thường tỏ ra tồi tệ, vì (a) chúng dường như đem đến nguy cơ tăng cân và các hội chứng chuyển hóa (metabolic syndrome) nhiều hơn, và do đó (b) khả năng kém bền vững tỷ lệ tử vong của người mắc TTPL.
Mọi thứ không phải như thế là xong xuôi, đủ đầy; câu chuyện về người mắc TTPL thật dài dòng, phức tạp và khổ đau khôn cùng.
Chỉ nghĩ đến người mắc TTPL ở Việt Nam đã cảm nhận ít nhiều rằng, diễn tiến vẫn chưa thực sự thấy sáng sủa, tốt đẹp hơn lên.
Phân loại: Đời sống, Sức khỏe tâm thần, Tâm bệnh học, Tâm lý trị liệu, Tâm thần phân liệt, Thời sự, Thuốc men

Tầm cả tuần nay, ngoài thảm nạn tại công trình xây dựng cầu Cần Thơ, rồi đến lũ dâng cao ngay sau cơn bão Lekima (số 5) vừa dứt thì có lẽ, hai sự kiện gần đây thu hút sự chú ý của giới trẻ nhiều nhất là trò chơi truyền hình tạo cảm hứng gây cười và đêm hội thả đèn trời, với mục đích ủng hộ nạn nhân sập cầu kèm dịp vui đùa đông đúc.
Một thông tin thời sự cũng rất đáng chú ý; tuy phạm vi, đối tượng hẹp và tế nhị hơn, song câu chuyện bao cao su thủng nghe đâu đã khiến các điểm thử máu tại thủ đô chen chúc người.
Vì thế, đề cập đến chuyện phụ nữ mắc trầm cảm trước lúc có bầu, suốt thời kỳ mang thai và sau khi có em bé thật hợp lý!
Thường, việc đẻ đái cùng những biểu hiện phức tạp, rắc rối của các bà bầu hay được dân gian lưu tâm chủ yếu vào thời kỳ hậu sản. (Chắc giai đoạn thăm khám, dưỡng thai, kiêng cữ và lâm bồn thì đã có giới chuyên môn-- bác sĩ, bà mụ-- sắp xếp chu toàn rồi chăng?)
Có thể hiểu, trầm cảm sau khi sinh là chứng bệnh điều trị khỏi, với các dấu hiệu cảm xúc đặc trưng như buồn phiền, thờ ơ, kiệt sức và lo hãi diễn ra sau khi sinh em bé.
Một nghiên cứu cho thấy, cứ 7 phụ nữ Mỹ thì có trên 1 người mắc trầm cảm trước lúc có bầu 9 tháng, trong thời gian mang thai và sau khi sinh em bé; đồng thời, kết quả phát hiện thêm: hơn một nửa số phụ nữ trầm cảm hậu sản (postpartum depression) cũng từng trải qua cơn trầm cảm trước khi có bầu và trong suốt thời gian mang thai.
Nghiên cứu vừa nêu thật có giá trị, bởi gợi ý lâm sàng và thực tiễn đời sống hàng ngày rằng, cần quan tâm, chú ý đến trầm cảm trước khi người phụ nữ có thai.
Hơn nữa, nghiên cứu còn góp phần lý giải vì sao cả giới chuyên môn lẫn công chúng hướng kỹ hơn đến trầm cảm hậu sản: khoảng cách quá lớn giữa niềm mong đợi ngập tràn niềm vui của người vừa làm mẹ với trạng thái vắt ép nặng nề do trầm cảm mang lại.
Như lời TS. Evelyn Whitlock khuyến cáo:
Tin tức quan trọng nhất ở đây là chúng ta cần xem xét trầm cảm như một bệnh lý mãn tính ở phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ, chứ đừng giả định rằng trầm cảm chỉ là trạng thái tạm thời-- bất kể nó khoét sâu hay vơi bớt đi khi người ta mang thai hoặc sinh con.Là dạng rối loạn cảm xúc thông thường, trầm cảm hậu sản dễ khiến các bà mẹ cảm thấy suy sụp, bị khống chế hoàn toàn bởi cơn trầm cảm; họ luẩn quẩn nghĩ rằng mình là người mẹ không đủ tốt, và chẳng hề nảy sinh ước muốn tương tác hoặc thậm chí, nhìn đứa con mình mới sinh ra nữa.
Phụ nữ với tiền sử trầm cảm nên được theo dõi thật cẩn thận tình hình biểu hiện các triệu chứng bệnh lý suốt thời kỳ trước khi sinh và chăm sóc hậu sản về sau.
Đây là câu chuyện của một bà mẹ vừa giết con gái mới 7 tháng tuổi; người phụ nữ từng được điều trị rối loạn lưỡng cực (bipolar disorder) và đã phải nhập viện sau khi được chẩn đoán là trầm cảm hậu sản này, lập tức gọi điện 911 ngay sau lúc dìm chết bé gái và báo cáo những gì đã làm.
Nhân đây, cũng cần biết sự thật là việc nạo phá, sẩy thai xem chừng liên quan rất thấp đến nguy cơ mắc trầm cảm-- tính cả các yếu tố tác động của giáo dục, thu nhập và quy mô gia đình của đối tượng.
Và theo điều tra, tính trung bình trong đời một người đàn ông Mỹ ngủ với 7 phụ nữ, còn chị em thì lên giường với 4 nam giới.
Phân loại: Hôn nhân-gia đình, Phụ nữ, Sex, Sức khỏe tâm thần, Tâm bệnh học, Tâm lý học Lâm sàng, Tâm lý trị liệu, Thời sự, Thuốc men, Trầm cảm

Chiều qua, xem Little Women (1994, từ tiểu thuyết cùng tên) tại rạp Fansland; đặc tả đường đời, tính cách và sự gắn bó quyến luyến ruột thịt của 4 chị em gái sống cùng bà mẹ tuyệt vời đề cao lối giáo dục nhân văn nên từ đầu đến cuối, film tràn ngập không khí gần gũi âu yếm, dịu dàng ôm ấp và vỗ về yêu thương.
Điều tôi lẩn thẩn tự cười thầm là, film về thế giới ngày thường của phụ nữ chung đụng từ sáng đến tối dưới một mái nhà, song tuyệt nhiên chẳng hề thấy đạo diễn đề cập- dù chỉ chút xíu thoáng qua nào- về những nội tiết tố tạo nên tâm trạng cũng như sự tưởng thưởng riêng có đối với quý bà, quý cô già trẻ lớn bé (!)
Có thể vì ý đồ chuyển tải mang tính xã hội lớn lao và cách xử lý nghệ thuật cao siêu trong film đoạt nhiều giải Oscar, còn thực tế dung tục, đố chị em mô thoát khỏi chu kỳ kinh nguyệt hàng tháng.
Estrogen và progesterone không chỉ là những hormone tính dục dính dáng chuyện rụng trứng và sinh sản, mà chúng còn tác động lớn lao tới các chức năng nhận thức và cảm xúc nữa.
Nghiên cứu hình ảnh chụp cắt lớp não gần đây cho thấy, sự thay đổi nội tiết tố trong suốt chu kỳ kinh nguyệt thực sự tác động ra sao đến cảm nhận của phụ nữ về khoái lạc và sự tưởng thưởng.
Việc Estrogen và progesterone biến động lên xuống làm ảnh hưởng sự đáp ứng tưởng thưởng (reward response) xảy ra trong một vùng gọi là mesencephalon thuộc não giữa.
Hệ thống tưởng thưởng có liên quan tới sự gây nghiện và kiếm tìm lạc thú. Trong thực nghiệm việc đánh bạc, các nhà nghiên cứu xem xét não bằng kỹ thuật fMRI đã phát hiện ra rằng, suốt giai đoạn tiền rụng trứng (hoặc giai đoạn nang/ follicular phase) của kỳ kinh, những vùng đảm nhận xử lý cảm xúc của não được kích hoạt nhiều hơn, và mức độ estrogen lớn hơn làm tăng thêm quá trình dẫn truyền dopamine và khoái cảm.
Người ta lý giải: điều này quan hệ với chuyện sinh sản nhờ làm tình, sự mong đợi về nó càng khiến cho nỗi niềm lạc thú nồng nàn hơn và được ưu tiên trước sự rụng trứng và thụ thai.
Dĩ nhiên, sức khoẻ phụ nữ và những gì liên quan đến nội tiết tố thần kinh (neuro-endocrinology) của chị em vốn vô cùng phức tạp. Ở đây, chỉ gắng nêu vài kết quả nghiên cứu liên quan gián tiếp đến vấn đề đang bàn.
Các rối loạn cảm xúc có mối gắn bó bền chặt với chu kỳ kinh nguyệt, đặc biệt là PMS và PMDD (premenstrual dysphoric disorder), tuy rối loạn lưỡng cực xem chừng cũng bị tác động.
Mãn kinh (menopause) thì liên quan với trạng thái trầm cảm ở phụ nữ chưa từng mắc rối loạn cảm xúc nào, song một nghiên cứu về rối loạn lưỡng cực ở nữ giới cho thấy 68% đối tượng này trải qua ít nhất một giai đoạn trầm cảm suốt thời kỳ mãn kinh, với tần suất ngày càng cao so với các giai đoạn sinh sản trước đây.
Một số báo cáo còn gây nhiều tranh cãi thì chỉ ra ảnh hưởng của chu kỳ kinh nguyệt với tiến trình rối loạn lưỡng cực (BD), không kể tới các sự kiện sinh sản chính yếu như có em bé hoặc mãn kinh. Một số đã báo cáo về mối tương quan với vòng kinh nhanh chóng (rapid cycling), trong khi một số nghiên cứu khác thì không tìm thấy bất kỳ sự kết nối nào.
Tin tốt lành là: có vẻ phụ nữ mắc BD dễ dàng cảm thấy bình ổn khi sử dụng thuốc thì cũng ít bị hành hạ bởi các triệu chứng liên quan đến kỳ kinh.
Một nghiên cứu của Thổ Nhĩ Kỳ kết luận, "với hạn chế nhất định, các kết quả nghiên cứu xác quyết rằng việc điều trị bình ổn tiến triển có thể tạo nên tác nhân dự phòng chống lại sự thay đổi các triệu chứng kinh nguyệt ở phụ nữ đang đáp ứng điều trị BD."
Những nghiên cứu khác cũng cho thấy kết quả tương tự khi dùng Lithium và Valproate (Depakote/ Epival), dù Valproate gây nguy cơ mắc hội chứng đa u nang buồng trứng (polycystic ovary), và nguy cơ bị khuyết tật trong sinh nở cao; do đó, cần cẩn trọng khi sử dụng thuốc.
Phụ nữ trải nghiệm PMDD có thể cảm thấy bớt đau nhức khi dùng Sertaline (Zoloft), dù trong việc đơn trị (monotherapy) các rối loạn lưỡng cực bằng một loại thuốc chống trầm cảm người ta không giới thiệu nó, bởi vì thuốc Sertaline có thể làm hưng trầm cảm thêm.
Cuối cùng, là trường hợp một phụ nữ có "tiền sử 30 năm điều trị bệnh liên quan đến rối loạn kinh nguyệt- đầu tiên là vòng kinh nhanh rối loạn lưỡng cực kiểu II, trầm cảm ở giai đoạn tiền rụng trứng và giai đoạn tiền kinh nguyệt (hoàng thể/ luteal phase) thì xuất hiện các triệu chứng hưng phấn cao độ (mood elevation)" đã giảm đau một cách ngoạn mục nhờ dùng Lamotrigine (Lamictal).
[Tuy không rõ là Lamotrigine tác động ra sao đến các hormones hoặc các cơ chế não có tương kết với nhau như thế nào, song với những phụ nữ chịu đau đớn bởi các rối loạn cảm xúc liên quan đến kỳ kinh thì đây có thể là một lựa chọn nên chú ý khi trao đổi với bác sĩ.]
... Tôi không khỏi nghĩ tới một nữ thân chủ là học sinh phổ thông mắc trầm cảm đã có dấu hiệu mất kinh (amenorrhea)-- một triệu chứng thể lý có vẻ đặc trưng nhất trong các kiểu rối loạn kinh nguyệt (menstrual disturbances) thường gặp.
Và trong nguồn mạch liên tưởng, xem film xong, tôi còn kịp nhớ tới cái gọi là đồng bộ kỳ kinh (menstrual synchrony), một thuật ngữ của Barbara McClintock (1971), khi phát hiện trong ký túc xá trường đại học hiện tượng các bạn gái chung phòng ngày càng đồng bộ trong kỳ kinh (có kinh cùng một ngày).
Đây là vấn đề khá thú vị, ít nhất với sinh viên năm thứ nhất khoa Tâm lý, khi cần phải tìm ví dụ về yếu tố xã hội làm thay đổi yếu tố sinh học!
Phân loại: Film, Não-Thần kinh, Nghiên cứu, Phụ nữ, Tâm bệnh học, Thời sự, Thuốc men, Trầm cảm
@ ngày...: * vào bà gặp cái bình đẹp (mới mua) bày trên bàn thờ, nó là của chú, mình nghĩ đến việc nếu nó bị vỡ thì chú sẽ quát hay là đánh và mình có 1 tí tị tì ti sợ mình sẽ làm vỡTrên đây là những dòng nhật ký được trích lại nguyên văn (cả lỗi chính tả) của một nữ học sinh phổ thông trung học đã mắc tâm thần phân liệt gần 3 năm nay.
* em trường rủ đi xem đường mới làm (đạp xe) mình cũng muốn đi nhưng nghĩ đến việc xe cộ đi đường nhỡ làm sao thì chết nên thôi để nó đi kệ nó, mình ở nhà không trách nhiệm
@ ngày...: mình kêu không đỡ, bố cứ bảo dần dần làm mình hơi khó chịu (không đỡ thì chống chế bảo dần dần).
@ ngày...: * ngày hôm nay 2 lần mình lên cơn bực tức chán đời vì mãi không đỡ nhưng giờ thì đã trở lại bình thường
* mình phát hiện ra khi chưa gặp 1 ai đó mình có nhiều chuyện muốn nói nhưng khi gặp thì lại ít
@ ngày...: Hôm nay đi ăn cỗ, cỗ thật là ngon.
Cô gái thổ lộ mình "sợ linh tinh", chẳng hạn:
- Sợ mình làm cái gì sai, chào chú cũng sợ sai; đêm đang ở nhà bà, nghe tiếng xe máy chú về tim đã đập rộn lên. (Nói về chú: "luôn đúng, nghiêm khắc, hay lườm, hay mắng, cẩn thận, tốt bụng; có uy").
- Sợ viết sai, diễn đạt không đúng ý mình.
- Dường như mọi thứ thay đổi theo môi trường (ý nghĩ, tình cảm).
- Sợ không đối xử tốt như họ đối với mình.
- Khi giữa đám đông, sợ mọi người nghĩ là mình đần.
- Bố mẹ chuẩn bị một cái lễ (đoán bác sĩ báng bổ)...
Thực tế, tôi không gợn chút ý nghĩ gì như thế; hơn nữa, bản thân đã đọc Thần, Người và Đất Việt:
...Điều đó không lạ vì ANC (phần viết thế kỉ XV) cho biết rằng "(Ở Giao Chỉ) người có mối lo, tai biến thì nhảy đồng, chạy thầy cúng." Sách cũng ghi lại các sự kiện "lạ lùng hơn hết" ở các vùng bên ngoài trung châu như chuyện ma lai rút ruột ở châu Gia Hưng, chuyện ma trành hoá hổ ở châu Ái, phép thư ở huyện Tú Mang. Vụ Lê Văn Thịnh hoá hổ chụp Lí Nhân Tông ở Hồ Tây (1096) có lẽ loan truyền từ sự kiện ông có người gia nô gốc Đại Lí (Vân Nam) giỏi pháp thuật và điều đó chứng tỏ các tập đoàn dễ tiếp cận nhau trong các tin tưởng đồng dạng. Trong các buổi lễ, cũng theo ANC, có thầy pháp giết gà, hướng về phía rừng mà tế, đánh thanh tre, dây nỏ ra tiếng từng chặp để đuổi thần hổ; có thầy pháp bôi mực đỏ trên mặt bệnh nhân, đọc chú, "...đợi quỷ thần ăn xong cả nhà xúm lại ăn, cho đấy là hết lòng kính trọng" (13)... (tr.111)Bố của thân chủ bảo con gái mình về tình cảm thì tỉnh tuyệt đối như người bình thường; "bệnh gì kỳ lạ."
Và đây là cảm nhận của nữ thân chủ về diện mạo bề ngoài của mình:
1. Về hình thức, tôi nghĩ mình xinh.Ngoài lề. Cứ xem đơn thuốc do bác sĩ tâm thần Việt Nam kê, tất cảm thông với ưu tư của các nhà nghiên cứu nước ngoài đã và đang muốn tìm hiểu làm thế nào mà toàn thể ngành Y lại có ý nghĩ sai lạc rằng, các thuốc chống loạn thần càng đắt tiền như Zyprexa, Seroquel và Risperdal (mỗi năm Hoa Kỳ chi phí cho thuốc chống loạn thần 10 tỷ dollars) thì càng hiệu quả hơn.
2. Tôi đáng yêu khi cười.
3. Hình thức của tôi đẹp và hấp dẫn.
4. Da của tôi xấu xí.
5. Tôi xấu hổ về chân.
6. Tôi hãnh diện về dáng người, khuôn mặt.
7. Tôi không được hấp dẫn khi xấu tính.
8. Nếu có thể thay đổi mạo diện, tôi sẽ thay đổi làn da.
9. Ước gì tôi có được da trắng.
10. Cái hay nhất của tôi là hình thức.
11. Cái dở nhất của tôi là bàn chân.
12. Giọng nói của tôi tàm tạm.
13. Bạn tôi muốn tôi khỏi bệnh.
Và nếu bạn vẫn còn hứng thú vì những điều lạ mà quen, thì xin mời đọc câu chuyện này để phần nào cảm thấy quen mà lạ.
Phân loại: Đọc sách, Loạn thần, Nghiên cứu, Tâm thần phân liệt, Thời sự, Thuốc men, Tơ tưởng J.
Bạn có thể đã nghe nói quá nhiều về Seduxen- một loại thuốc giải lo âu, gây ngủ; dù vậy, không phải ai cũng nhận ra rằng đó là tên biệt dược của Diazépam, và nó còn có tên gọi khác là Valium.
Tuy vậy, hiện tại thì Valium, Seduxen, Diazépam đều đang bị thay thế bởi sự thoả mãn tao nhã của nhóm SSRI.
Riêng hôm nay, tôi chợt nghĩ nhiều đến Ritalin (Méthylphénidate) và Prozac (Fluoxétine) trong thời gian tham dự đợt sinh hoạt khoa học Việt-Pháp 2006: Tâm bệnh- Tâm kịch-- Chẩn đoán và trị liệu các rối loạn ADHD và rối loạn cảm xúc lưỡng cực tổ chức tại Bệnh viện Tâm thần ban ngày Mai Hương ở Hà Nội.
Theo nhà Tâm thần học Nguyễn Minh Tuấn trong cuốn Các rối loạn tâm thần-- chẩn đoán và điều trị. (2002, Hà Nội: Nxb. Y học, tr.88, tr.199, tr.221, tr.233), thì Méthyphénidate (Ritalin) là một chất kích thích thần kinh trung ương, tỏ ra có hiệu lực (tăng chú ý, giảm xung động, làm cho hoạt động có mục đích hơn). Thường dùng cho trẻ em 6 tuổi trở lên.
Còn Fluoxétine (Prozac) là thuốc chống trầm cảm thế hệ mới (không 3 vòng, không IMAO) có tác dụng hoạt hoá và an dịu.
Giới thiệu sơ qua như thế, ý tôi muốn nhấn mạnh rằng, thời chúng ta đang sống là thời của vô vàn biểu hiện rối loạn tăng động giảm chú ý (ADHD: Attention Deficit and Hyperactivity Disorder) và trầm cảm đủ loại (Depression).
Và có lẽ, bạn cũng như tôi, chúng ta không khỏi rúng động khi nghĩ đến viễn cảnh các nhà nhân chủng học (anthropologists) tương lai sẽ nhận xét ra sao...
Wow, lúc này tôi tạm thời quên đi mọi chuyện chỉ để tiếp tục cung cấp thêm tí chút thông tin về Ritalin (hình như vẫn chưa được chỉ định dùng ở Việt Nam?)
Nghiên cứu gần nhất kết luận là an toàn cho trẻ trước tuổi đi học (dưới 6 tuổi) mắc ADHD "trầm trọng" ("severe") khi sử dụng thuốc kích thích thần kinh thông dụng (popular stimulant) Ritalin.
Công trình này lập tức gây ra làn sóng tranh luận sôi nổi trên các phương tiện truyền thông đại chúng, cũng như trong cộng đồng các nhà tâm thần học và tâm lý học.
Vấn đề trải dài từ niềm lạc quan vừa phải cho đến sự tổn thương đạo đức; và toàn bộ câu chuyện, suy cho cùng, tập trung chú ý vào cách chẩn đoán và điều trị tâm lý.
Dưới góc độ an toàn, câu hỏi rất cần đặt ra về những lợi ích tài chính gắn với các công ty dược, cũng như một số tác dụng phụ trong sự phát triển lâu dài của trẻ (chậm phát triển chiều cao và tăng cân, cùng một số khía cạnh liên quan đến mặt nhận thức).
Còn có thể là câu hỏi đạo đức: có nên chỉ định thuốc kích thích thần kinh như thế cho trẻ còn quá nhỏ vì rối loạn ADHD này?
Thậm chí, nổi lên thắc mắc rằng phải chăng ADHD là một rối loạn "thực sự" ("real" disorder) cần phải dùng thuốc; rằng đây là một cách thức thiết lập việc bệnh hoá (pathologize) vùng ảnh hưởng của hành vi "bình thường" (a range of "normal" behavior)?
Mấy năm gần đây, có vẻ chẩn đoán và điều trị ADHD vẫn tiếp tục diễn ra quá độ.
Rất nhiều thông điệp pha trộn liên quan đến ADHD.
Tìm hiểu kỹ thêm, sẽ thấy chuyện chẳng có gì lạ: đó là loại thuốc "thông minh."
Ritalin được sử dụng trong tâm lý trị liệu để cải thiện một vài chức năng tâm thần; nhất là khi nó có khả năng nâng cao thành tích học tập của trẻ tăng động, và cũng có tác dụng tương tự với trẻ bình thường.
Dễ suy đoán, nhiều trẻ khoẻ mạnh sẽ được bố mẹ, thầy cô giáo và bác sĩ học đường cho phép sử dụng Ritalin vì mục tiêu xem ra có vẻ vô cùng quan trọng đối với họ.
Do đó, ngăn chặn sự lạm dụng thuốc này là câu chuyện nhiều kỳ lắm chương-- nếu muốn biết kết cục thế nào, xin cứ xem xong hồi sau sẽ rõ...
Lời cuối, cá nhân tôi, đọc chùm tin liên quan đến trẻ mắc ADHD và việc sử dụng thuốc Ritalin ở các nước phát triển, một lần nữa càng ngậm ngùi và lo lắng cho tình hình chăm sóc sức khoẻ trẻ em Việt Nam; đặc biệt, tôi thực sự quan ngại khi nghĩ tới thực tiễn chẩn đoán và trị liệu trẻ mắc ADHD cũng như trẻ bị tự kỷ (autism).
Phân loại: ADHD, Nghiên cứu, Tâm bệnh học, Thuốc men, Trẻ em, Tự kỷ
Sáng nay, trong bệnh viện, giữa bao khuôn mặt âu sầu đứng ngồi lo lắng, tôi thấy nhiều chị em ôm hoa hớn hở.
Rồi cô bạn cùng lớp (hôm qua còn ậm ừ, nhăn nhó đau họng) giờ đang gọi đâu đó ngoài thế giới dài rộng kia thì gắng giấu sự sốt ruột qua điện thoại: "Thế không nói gì thêm nữa à..."
Ơn Trời, dù không mất trí nhớ tạm thời chưa rõ nguyên nhân như một nam thân chủ đang theo dõi rối loạn phân ly (dissociative disorder), song thú thực tôi chẳng để ý lắm đến cái lễ kỷ niệm ngày thành lập Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam 20.10 này.
Khởi động vội vã, tôi bước vào ngày làm việc cuối tuần trong tâm trạng lơ mơ, thiếu tập trung do hậu quả hồi đêm ngủ chưa đủ giấc cùng với thời tiết nóng ẩm cuối thu.
Buồn bã vì chất lượng tiếp xúc tức thì giảm sút không ngờ. May mà kịp nhận ra tình hình nên lặng lẽ kết thúc sự vụ và xin phép biến đi.
Niềm vui đọng lại với lời chào hỏi mau mắn của một nữ thân chủ mắc rối loạn cảm xúc lưỡng cực (bipolar affective disorder); cô gái mới ngoài 30 sẽ xuất viện thứ Hai tới, rộn ràng xin số điện thoại (là dân kỹ thuật, tốt nghiệp Đại học Giao thông Vận tải nên các con chữ viết cực đẹp) để "em mời anh đi uống café tại quán Phố Cũ ở Hàng Bông ngon lắm cơ."
... Thôi thì, phần tiếp theo của bài viết sẽ giới thiệu tóm tắt vài ba kết quả nghiên cứu liên quan đến chị em và đối tác của họ-- như là chút quà tặng khác lạ góp vui vinh danh đàn bà nước Nam 20.10.
1- Sau một thời gian dài chú mục vào thân thể phụ nữ, gần đây đến lượt cánh đàn ông được các phương tiện truyền thông tăng cường tiếp thị.
Hai thập niên trước, hằng hà sa số quảng cáo tung toé khắp nơi về hình ảnh đàn ông gồm các đặc điểm thể lý: vai rộng (broad-shouldered), eo thon (narrow-waisted), rắn chắc (fat-free) và vạm vỡ (muscle-sheathed male).
Bây giờ, các phương tiện truyền thông không chỉ tập trung vào kích thước và và hình dáng; hiện tràn ngập trên tranh ảnh và màn hình cái gọi là "thân thể [đàn ông] thực thụ" ("real-body"): lông tóc (hair), mồ hôi (sweat), khiếm khuyết bụi bặm (blemishes), mùi cơ thể (smells).
Bậc thầy truyền thông George Gerbner cho rằng, những gì chúng ta nhìn thấy trên TV và tạp chí dần trở thành tiêu chuẩn thực tế và ham muốn của chúng ta; thiếu hụt, không đạt được chúng, người ta cảm nhận bị thất bại.
Kết quả điều tra của các nhà tâm lý học: việc xem các chương trình TV vào giờ vàng và băng video ca nhạc, đọc tạp chí thể thao và sức khoẻ,... không chỉ làm cho đàn ông bất mãn về chính bản thân mình, mà còn khiến họ nảy sinh nhiều vấn đề liên quan đến tình dục và hành vi nguy cơ (như từng gây cảm giác tồi tệ về hình thể và dẫn đến nhiều hành vi lệch lạc ở phụ nữ).
2- Một tin an ủi cho những ai khốn khổ vì hội chứng tiền kinh nguyệt (PMS: premenstrual syndrome): chị em có thể sử dụng các loại thuốc chống trầm cảm (anti-depressant medication).
Các nhà nghiên cứu Đại học Liên bang Virginia (Virginia Commonwealth University) cho biết là với liều thấp Sertraline dùng trong vòng 2 tuần lễ trước kỳ kinh có thể là cách điều trị hiệu quả và êm dịu cho chị em nào phải chịu đựng PMS từ mức trung bình đến đau đớn.
Sertraline (Zoloft) thuộc nhóm SSRI (selective serotonine reuptake inhibitor) được sử dụng điều trị trầm cảm (depression) và lo hãi (anxiety), cũng như rối loạn bồn chồn tiền kinh nguyệt (PMDD: premenstrual dysphoric disorder)-- dạng trầm trọng của PMS.
Đây là nghiên cứu đầu tiên lượng giá việc dùng liều thấp thuốc chống trầm cảm cho phụ nữ bị PMS (các triệu chứng: cáu gắt, trầm uất, lo hãi và tâm trạng năm nóng năm lạnh/ mood swings). Số liệu cho hay, có tới 60% chị em mắc PMS, trong khi số bị PMDD chỉ chiếm 5%.
3. Trichotillomania là tên hội chứng đặc trưng bởi việc kéo giật tóc mang tính cưỡng bức (compulsive hair pulling).
Đa phần gặp ở phụ nữ, nhiều người mắc chứng này đã kéo tóc đến độ tróc cả mảng da đầu; họ thường chơi đùa và/ hoặc ngậm tóc trong miệng.
Điều thú vị là giới nghiên cứu tìm thấy một số bằng chứng về một gene liên quan đến Trichotillomania.
Không có thuốc đặc trị chứng này, dù đôi khi sử dụng các thuốc chống trầm cảm và lo hãi đem lại thành công.
4. Tin cuối cùng lại dính tới đàn ông. Đó là chuyện họ cũng khốn khổ với hội chứng cưỡng bức mua sắm (compulsive buying disorder)-- đôi khi còn được gọi là hội chứng cưỡng bức shopping (compulsive shopping disorder).
Khoảng 5% đàn ông Hoa Kỳ thổ lộ là họ không thể tránh được việc mua sắm lắm thứ hàng mà họ thực sự chẳng mong muốn hay cần dùng đến.
Cái nhìn truyền thống về sự phiền muộn của chị em mắc chứng cưỡng bức mua sắm chắc chắn là kết quả của hầu hết các nghiên cứu được tiến hành trên đối tượng chủ yếu là phụ nữ.
Phụ nữ thừa nhận là họ mắc chứng cưỡng bức mua sắm hơn so với đàn ông. Đáng chú ý, những người thu nhập thấp lại khốn khổ vì chứng này nhiều hơn so với những người thu nhập cao.
Đối tượng mắc hội chứng cưỡng bức mua sắm lấy làm thích thú với cảm giác tới lui đủ chốn shopping và nhặt nhạnh, săn tìm hàng độc-- họ trải nghiệm một sự cao cấp, sành điệu ('hight') từ nó.
Những người mắc chứng này bị hành hạ bởi stress và cảm giác nuối tiếc, ân hận khi nhận ra rằng tiền bạc vung vãi vào lắm thứ mà họ chẳng bao giờ dùng tới.
Hội chứng cưỡng bức mua sắm khá thịnh hành như nhiều rối loạn tâm thần khác. Một nghiên cứu mới đây của Trung tâm Y khoa thuộc Đại học Standford cho thấy là thuốc Citaopram (nhóm SSRI) được dùng như thuốc chống trầm cảm, có thể làm giảm thiểu cơn mê tốn kém tiền bạc và thời gian vừa nêu.
Phân loại: Nghiên cứu, Phụ nữ, Tâm bệnh học, Thời sự, Thuốc men
Phát hiện này có thể mở đường cho các nhà nghiên cứu xác định một số lớn bệnh nhân tâm thần phân liệt không cần phải dùng thuốc.
Một tin quá vui, không cho riêng người mắc tâm thần phân liệt! Với riêng tôi, việc chứng kiến cảnh đồng loại mình nằm ngồi thờ thẫn, đi đứng vật vờ, môi vệu vạo, mắt lờ đờ vì thuốc tăng liều hoặc dose quá mạnh là một điều cực chẳng đã.
Trợ lý giáo sư John Bola làm việc tại trường USC- University of Southern California, Hoa Kỳ về Công tác xã hội vừa đăng công trình nghiên cứu trên Tập san bệnh Tâm thần phân liệt/ Schizophrenia Bulletin số tháng 4.2006; theo đó, ông không tìm thấy cơ sở khẳng định rằng, nếu không dùng thuốc vào những giai đoạn mới khởi phát bệnh tâm thần phân liệt (TTPL) thì sẽ để lại nguy hại lâu dài/ long-term harm cho bệnh nhân và ông Bola cũng biểu lộ sự nghi ngờ về việc phải dùng thuốc ngay lập tức trong vòng một năm một khi mắc bệnh này.Vấn đề là chúng ta có nên vội vã điều trị cho các bệnh nhân ở giai đoạn khởi phát ban đầu bằng các thuốc chống loạn thần/ anti-psychotics, thường trước khi một dấu hiệu chẩn đoán được xác định rõ ràng.
Ông John Bola còn nói rằng những phát hiện là hệ trọng vì việc sử dụng thuốc để điều trị bệnh TTPL có thể để lại những tác dụng phụ trầm trọng/ serious side-effects trong gần một nửa số người mắc bệnh, từ biểu hiện tăng cân khủng khiếp và bồn chồn không yên cho đến những chuyển động chẳng có chủ đích và gây nên bệnh tiểu đường ở người trưởng thành/ adult-onset diabetes.
Phát hiện gây tranh cãi này có thể giúp các nhà nghiên cứu xác định một số lớn bệnh nhân không phải dùng thuốc nhằm cải thiện điều kiện cho họ.
Điều quan trọng là tìm kiếm người không dùng thuốc để ngăn ngừa việc phơi nhiễm quá độ/ overexposure đối với khả năng chịu các tác dụng phụ. Trong 25 năm qua, có rất ít nỗ lực để tuyển chọn 25-40% những người có xu hướng hồi phục nhờ trị liệu tâm lý xã hội/ psychosocial treatment và không cầnÔng Bola phân tích 6 công trình nghiên cứu đã được xuất bản từ 1950 đến nay với đối tượng đa số mắc TTPL ở giai đoạn đầu tiên hoặc thứ hai.
dùng thuốc.
Thuốc thích hợp để giúp đỡ hầu hết bệnh nhân nhưng không phải ai cũng cần phải dùng nó. Thiếu vắng một sự kiện mang phẩm chất đáng tin cậy để hỗ trợ cho kết luận rằng hậu quả nguy hại kéo dài là do việc ngừng thuốc ngắn hạn trong giai đoạn khởi phát bệnh TTPL. Một sự ngăn cấm tuyệt đối những nghiên cứu như thế cần được xem xét lại.”
Hiệp hội Tâm thần học Hoa Kỳ/ American Psychiatric Association khuyến cáo sử dụng thuốc chống loạn thần ít nhất một năm sau khi được chẩn đoán mắc TTPL. Việc hướng dẫn điều trị thuốc tức thời cho sự cố lần đầu mắc TTPL ngăn chặn việc tiến hành nghiên cứu quan trọng về những người tuyển lựa sử dụng thuốc và điều trị theo tâm lý xã hội.
"Bola khiêu khích mọi người chú ý đến một vấn đề quan trọng trong việc điều trị sớm bệnh TTPL", Nina Schooler của trường Đại học Georgetown, một trong 6 người đăng kèm bình luận với bài báo của Bola trong Tập san.
Thomas H. McGlashan, giám đốc Viện Tâm thần học trường Đại học Yale, cũng tham gia bình luận. Nhân vật này đã nghiên cứu bệnh TTPL từ những năm 1970 và là một trong các tác giả có bài nghiên cứu được Bola trích dẫn.
"Tôi khẳng định là sự ngu dốt của chúng ta vẫn sâu xa như vậy sau 29 năm, và việc làm sáng tỏ những bí ẩn của bệnh TTPL tiếp tục đòi hỏi sự quan sát về nó dưới các điều kiện tự nhiên, chẳng hạn, không dùng các loại thuốc chống loạn thần," McGlashan tuyên bố. "Mặt khác, thuốc đã cách mạng hóa việc điều trị bệnh loạn thần, và là điều hoàn toàn bắt buộc trong một số hoàn cảnh nhất định."
TTPL hiện còn là một trong những chẩn đoán tâm thần gây nhiều bàn cãi nhất.
Theo tiến trình thời gian, các cuộc tranh luận nhấn mạnh vào chuyện có thực sự tồn tại hay không một trạng thái bản năng của bệnh TTPL/ a distinct state of schizophrenia, liệu bệnh này là do gene hay khởi từ môi trường, và nên sử dụng trị liệu bằng thuốc/ drug therapy, ECT- chữa bệnh bằng xung điện hay dùng nhiều hơn các cách tiếp cận tâm lý- xã hội.
Để chẩn đoán TTPL, theo tiêu chuẩn của DSM-IV-TR (APA 2000) thì phải xuất hiện từ 2 triệu chứng trở lên trong các biểu hiện dưới đây, được phân phối thời gian đầy ý nghĩa trong giai đoạn một tháng:
*Hoang tưởng/ delusions
*Ảo giác/ hallucinations
*Cấu trúc ngôn ngữ, nói năng hỗn loạn/ disorganized speech: thường xuyên “trật đường rầy”/ derailment hoặc thiếu mạch lạc, khó hiểu/ incoherence.
*Hành vi hỗn loạn một cách bẩn thỉu, thô tục/ grossly disorganized hoặc mắc chứng giảm trương lực cơ/ catatonic behaviour
*Các triệu chứng âm tính/ negative symptoms: cảm xúc cùn mòn/ flattened mood, mất khả năng nói (thần kinh trung ương)/ alogia, không có ý chí/ avolition.
Yêu cầu có một trong các triệu chứng kể trên nếu các hoang tưởng là kỳ quái/ bizzarre hoặc ảo giác bao gồm giọng nói không ngừng bình luận về các hành vi và ý nghĩ của người ta, hay bao gồm hai hoặc nhiều hơn các giọng nói đàm thoại, trao đổi với kẻ khác.
Một tiêu chuẩn thứ hai là hậu quả của các triệu chứng gây nên hư hỏng, suy kém đáng quan tâm/ significant impairment.
Bốn thể phụ của bệnh TTPL mà trong đó có các triệu chứng nổi bật được xác định như sau:
-Hỗn loạn/ disorganized: trong kiểu này, sự hỗn loạn nói năng và hành vi, cũng như trạng thái cảm xúc cùn mòn hoặc không thích hợp là các dấu hiệu chủ đạo.
-Hoang tưởng bộ phận/ paranoia: kiểu bệnh TTPL thường dễ gặp nhất, mang đặc trưng ảo giác cố định, dạng paranoia. Các ảo thính có thể giúp sức cho các niềm tin hoang tưởng này. Những xáo trộn cảm xúc hoặc ngôn ngữ, nói năng rồi và các triệu chứng giảm trương lực cơ không phải là dấu hiệu cơ bản.
-Giảm trương lực cơ/ catatonic: đặc trưng bởi những xáo trộn tâm vận động rõ rệt/ marked psychomotor disturbances. Tình trạng biến chuyển giữa các phấn khích cao độ/ extreme excitement, sững sờ/ stupor và sự linh họat bóng sáp/ waxy flexibility, trong đó cá nhân ở mãi một tư thế và lưu giữ như vậy hàng giờ liền. Họ cũng làm bằng chứng tự nguyện vâng lời, dễ bảo/ automatic obedience. Những cá nhân này có thể trải qua một trạng thái tựa như mơ với các ảo giác sống động đi kèm. Thể này bây giờ hiếm thấy xuất hiện tại các nước công nghiệp.
-Di chứng/ residual: đặc trưng bởi sự thiếu vắng các hoang tưởng chủ đạo, ảo giác, nói năng hỗn loạn, hoặc hành vi mất trật tự một cách thô tục hay giảm trương lực cơ. Tuy vậy, tiếp diễn bằng chứng về trạng thái xáo trộn, ngụ ý bởi sự có mặt của các triệu chứng âm tính hoặc hai hay nhiều hơn các triệu chứng chính làm giảm bớt sức mạnh của dạng thể.
Dưới đây là một vài triệu chứng cấp tính thường xuyên của bệnh TTPL
- Mất khả năng thấu hiểu sự thật nội tâm/ lack of insight: chiếm 97% trường hợp/ case;
- Các dạng ảo thính: 74% case;
- Các ý tưởng ám chỉ/ ideas of reference: 70%;
- Cảm xúc cùn mòn/ flattened affect: 66%;
- Tính đa nghi/ suspiciousness: 66%;
- Hoang tưởng về hành hạ, quấy rối: 64%;
- Ý nghĩ xa lạ, kỳ dị: 52%.
[Paul Bennett. (2003) Abnormal and clinical psychology-An introductory textbook. Great Britain: Open University Press, pp.124-129].
Phân loại: Nghiên cứu, Tâm bệnh học, Tâm thần phân liệt, Thuốc men