Hồi tối khuya đêm qua, khi đang kiên nhẫn chờ đợi sự kết thúc tình trạng đường truyền phập phù rớt mạng internet, tôi vội vàng bực tức nghĩ ngay đến hiện tượng ùn tắc, kẹt cứng chẳng có đường đi.
Và rồi tôi dễ dàng nhận thấy, mình cũng khó tìm ra nổi chút xíu thoải mái nào với kiểu đùa bôi bác về đội mũ bảo hiểm "Nâng niu đầu lâu...", từ thói quen phát tán tin nhắn offline; đầy mơ hồ băn khoăn lẫn nghi ngại ghê gớm về vô số dự án đào tạo tiến sĩ, tin học, xây dựng và quy hoạch đô thị cực kỳ hoành tráng,...
Đã nhắc tới chủ đề giao thông, vì quá chán ngán thực trạng ô nhiễm môi trường hết sức trầm kha, nên tôi sẽ tranh thủ trích dẫn những con số tai nạn khốc liệt:
Là vậy đấy; cho dù liên tưởng cả chiến dịch mới và cũ bên ngành Giáo dục, tệ đưa "phong bì" trong bệnh viện, thông cảm nỗi niềm bạn trẻ thì bài viết này vẫn cơ bản tập trung vào khía cạnh tâm lý học: tự chính bản thân mình nói "Không!".Thượng tá Trần Sơn nhấn mạnh, năm 2006, bình quân mỗi tháng cả nước có hơn 1.000 người chết, mỗi ngày có gần 35 người chết do TNGT. Tính sơ, số người chết do TNGT trong một năm ở VN bằng số người chết trong 120 cơn bão, bằng hậu quả của 53 cuộc chiến tranh kéo dài trên thế giới ngày nay.
“Hoặc so sánh theo một cách khác: Đem số người chết trong năm 2006 do TNGT chia bình quân thì mỗi tháng số người chết do TNGT ở VN bằng số thiệt mạng do khoảng 3 vụ nổ máy bay loại lớn. Trong ASEAN, VN đứng thứ 4 về phương tiện cơ giới đường bộ, đứng thứ 6 về số người dân trên một phương tiện cơ giới đường bộ nhưng lại đứng thứ 2 (chỉ sau Thái Lan) về số người chết và bị thương do TNGT!” - Thượng tá Trần Sơn nói.
Ông cũng cho biết thêm, theo thống kê của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), tổn thất vật chất hàng năm ở VN do TNGT khoảng 885 triệu USD. Con số này còn cao hơn cả giá trị tiền thuốc sử dụng cho cả 84 triệu dân VN trong năm 2005 (817 triệu USD). Nếu so sánh với tổng thu ngân sách cả nước vừa được báo cáo tại Quốc hội thì con số 885 triệu USD chiếm hơn 5,5% tổng thu ngân sách cả nước/năm. Và nếu so với tổn thất toàn cầu do TNGT đường bộ khoảng 518 tỷ USD/năm (số liệu của Tổ chức Y tế thế giới, WHO) thì con số tổn thất gần 1 tỷ USD/năm của VN là quá nghiêm trọng.
Vâng, một câu chuyện quá cũ xưa và rất đời thường. Làm/ không làm; tiếp tục duy trì hoặc dứt khoát thôi hẳn; nói hay đừng; chiến đấu, từ bỏ, đầu hàng, chấp nhận,...
Mỗi cá thể người liên tục đặt để các dấu hỏi tương hợp, và câu trả lời cho chúng hình thành chất lượng sống, thậm chí, bề dài cuộc đời riêng chung.
May mắn thay, đa phần chúng ta đều hiểu biết và cảm nhận rõ ràng rằng, những quyết định nhanh chóng, gánh gồng kiểu "cố (đấm ăn xôi) lên", thuộc dạng "rã đám" hoàn toàn như thế có thể tồn đọng hậu quả, dây dưa về sau.
Điều bất ngờ thú vị: dẫu khá nhiều nghiên cứu của Khoa học Thần kinh xem xét những động thái ẩn bên dưới các chọn lựa (hành động X/ hành động Y), song chỉ có một số công trình chú mục nhìn sâu vào bộ não người ta khi quyết định thực hiện hoặc ngừng huỷ hành động cụ thể nào đó mà họ đã từng cân nhắc, lập kế hoạch (làm việc A hay không).
Như những gì sắp trình bày, kết quả nghiên cứu chỉ ra: năng lực vụt ngắt, tạm dừng (halt) một hành động đã dự tính, chí ít phụ thuộc phần lớn ở dải vỏ não (a band of cortex) của một số chúng ta hoạt động tốt hơn-- so với những người khác.
Hai tác giả Brass và Haggard đã đơn giản hoá sự tự kiểm soát (self-control) bằng một hành động (nhấn một cái nút bấm) và một dạng thức cũng rất dễ làm (liên quan đến cái nút bấm trên).
Sử dụng hình ảnh chụp ảnh não bằng kỹ thuật cộng hưởng từ chức năng (fMRI), mỗi lần thử nghiệm các chủ thể được dành 3 giây làm quen việc bấm nút; họ quyết định bấm trong khi xem một mặt đồng hồ đơn giản với sự lướt qua một giây đo lường thời gian trôi đi; dù có quyền nhấn nút bất kỳ trong khoảng 3 giây này, song họ được yêu cầu lưu ý vị trí mặt đồng hồ đeo tay khi họ quyết định bấm.
Với một số thử nghiệm, các đối tượng trên cũng được đề nghị dừng tay (không bấm nút), tự họ khả dĩ chấm dứt liền tức thì.
Nghiên cứu cho thấy, chuyện làm quen ban đầu của một hành động tự phát đã kích hoạt vùng vận động hỗ trợ (supplement motor area: SMA) có liên quan tới việc lập kế hoạch suốt thời gian thử nghiệm, do chính bản thân các đối tượng nhấn hoặc ngừng ngay việc bấm nút.
Phát hiện này khẳng định giả thuyết của hai tác giả là SMA đã thiết lập hành động mang tính bổ sung, hỗ trợ-- trong cả hai loại thử nghiệm làm/ không làm.
Dĩ nhiên, đáng quan tâm hơn là câu hỏi: cái gì được kích hoạt lúc người ta tự mình ngừng lại không bấm nữa, sau khi họ đã quen việc đó rồi-- so với khi họ cứ thế mà nhấn nút?
Việc "treo" hành động làm kích hoạt phần vỏ não thuộc lưng trán trung gian (dFMC: dorsal fronto-medial cortex, còn gọi là diện 9 Brodmann) khiến não sốt sắng hơn cả SMA, cũng như với vỏ thuỳ não.
Các tác giả kết luận rằng, dFMC là cội nguồn của dấu hiệu ức chế, hỗ trợ sự tranh chấp này bằng hai phân tích tương quan khác biệt nhau.
Thứ nhất, họ nhận thấy một chủ thể càng có khả năng kích hoạt vùng này, anh ta/ chị ta càng dễ kiềm chế dự tính hành động ban đầu; thứ hai, càng kích hoạt vùng trán trong một thử nghiệm cho trước, vùng vận động càng ít bị kích hoạt nhằm thực hiện các hành động.
Với vỏ thuỳ não cũng bị kích hoạt trong thử nghiệm tự kiểm soát thì sao? Vốn liên quan tới trải nghiệm xúc cảm của cơ thể, ở đây nó phản ánh cảm giác nội tạng của sự hụt hẫng hoặc "cụt hứng" ("let-down") xảy đến trong thời khắc cuối cùng huỷ bỏ hành động.
Hơn nữa, nghiên cứu của hai tác giả Brass và Haggard còn chỉ ra: dFMC-- vùng não gắn kết việc tự kiểm soát-- có sự liên hệ khác nhau với các vùng dính tới những hành động ban đầu, và với các vùng dễ ức chế hơn đáp ứng tự động nhiều kích thích, khi tích tắc hoặc thoáng lưỡng lự đột ngột hành động.
Phân biệt trên thật quan trọng. Ta thử đánh giá một trường hợp cần thiết lập hệ hình tự kiểm soát: ai đó đang gắng kháng cự thói quen chơi ma tuý có thể gợi anh ta nghĩ tới chuyện chụp lấy ví tiền, xỏ vội áo quần rồi đi nhanh tới góc phố có điểm bán lẻ thuốc.
Việc nhấn một cái nút dường như khá đơn giản và chẳng để lại hậu quả gì lắm, so với mấy biểu hiện vừa nêu.
Thực chất, cả hai đều là các hành động tự phát, bước đầu; và việc kiềm chế hay quyết tâm chống lại-- như nghiên cứu khẳng định-- đòi hỏi sự kích hoạt thích đáng của dFMC; nếu quả thực đòi hỏi sự kích hoạt của dFMC, thì sức lực người ta dùng kiểm soát các xung năng, đa phần dựa vào cách thức vùng não đáp ứng cường tráng ra sao hoặc cần tới bất cứ trợ giúp nào nhằm để kiểm soát xung năng.
Tại sao thật quan trọng việc hiểu biết các hệ thống não thể hiện cho sự tự kiểm soát?
Nhiều rối loạn tâm lý- thần kinh (phụ thuộc, lạm dụng chất; các kiểu rối loạn nhân cách; rối loạn tăng động giảm chú ý/ ADHD,...) đều do thiếu hụt sự tự kiểm soát.
Nghiên cứu cơ bản này giúp ta hiểu biết hơn về các hệ thống đáp ứng các rối loạn kể trên, đồng thời nó cũng chỉ ra nhiều sự khác biệt trong năng lực kiểm soát những xung năng ít mang tính chất xây dựng, tỷ như thôi thúc người ta nói hoặc làm chuyện xấu xa; bởi việc quyết định hành động hay không thường để lại các hậu quả chính yếu, chẳng hạn, có một sự tách biệt rõ ràng giữa dự tính đánh ai đó và hành động thực sự đánh họ.
Công trình trên còn chạm tới vấn đề ý chí tự do (free will). Nếu các tiến trình vật lý trong não là nguyên nhân gây nên hành động của chúng ta, thì liệu có tồn tại ý chí tự do? Chúng ta chịu trách nhiệm về hành vi của chính bản thân mình như thế nào đây? Không lẽ cứ đổ vấy tất cả rằng "bộ não khiến tôi làm chuyện này?"
Tuy không trực tiếp xử lý vấn nạn này, hai tác giả Brass và Haggard đã vén lộ nhiều dấu hiệu quan trọng. Kết quả nghiên cứu của họ minh hoạ một khía cạnh rất thiết yếu về sự kiểm soát hành vi của bộ não: khả năng níu giữ lại hành động sau khi ta đã xúc tiến dự tính thực hiện nó.
Từ viễn tượng bao quát hơn về sự điều hợp bản sắc của chúng ta với tư cách cá thể mang phẩm tính đạo đức miễn trừ khỏi bản sắc chứa các bộ não vật lý, khám phá trên đã đem lại ít nhiều sắc thái thú vị; rằng, bộ não con người không chỉ khiến "chúng ta làm thế" mà chúng còn có những hệ thống chuyên biệt hoá nhằm ngăn chặn không cho chúng ta thực hiện chuyện như vậy.
Chỉ đơn giản là tự chính bản thân mình nói "Không!". Do đó, thiếu thốn, bị thúc ép, căng thẳng, gấp gáp và bận rộn cỡ nào chăng nữa thì rốt ráo ra, mỗi một chúng ta cần thử đôi lần ngẫm nghĩ và luyện tập về kỹ năng này; ví dụ, vào lúc đèn vàng còn đang bật sáng chẳng hạn.
Phân loại: Đạo đức, Giao thông, Học vấn, Khái niệm cái tôi, Kỹ năng sống, Não-Thần kinh, Nghiên cứu, Thời sự
Bài đăng Mới hơn Bài đăng Cũ hơn Trang chủ