(ảnh)
1. Thấu cảm (empathy) là thành phần cơ bản của trí tuệ xúc cảm (Goleman, 1996); đa chiều kích, tiến trình tri thức luận (epistemology) phức tạp, và là cách thức am hiểu cả hệ thống cảm xúc lẫn nhận thức của người đời (Bohart & Greenberg, 1997; Duan & Hill, 1996; Feschbach, 1997).

Theo các nhà lý thuyết tâm lý học phát triển,
thấu cảm là năng lực hình thành từ lúc mới sinh và biến chuyển qua thời gian khi các hệ thống nhận thức và xúc cảm của con người chín muồi.

Edward Titchner-- đồ đệ trung kiên nhất của Wilhelm Wundt (1832- 1920)-- đã chuyển dịch thuật ngữ "empathy" từ tiếng Đức einfuhlung: "cảm nhận theo cách thức của người" ("feel one's way into"). Đó là lối dùng nguyên thủy trong Mỹ học Đức, mang nghĩa tiếp cận để hiểu một tác phẩm nghệ thuật đặc thù.

Về sau, thấu cảm được
Rogers (1965, 1975) và Kohut (1971, 1977) sử dụng cho việc mô tả cách hướng tới người khác nhằm tăng cường khả năng chữa lành trong tâm lý trị liệu.

Theo các tác giả
de Vignemont & Singer (2006), có hai xu hướng trong tài liệu nghiên cứu về thấu cảm.

Thứ nhất, định nghĩa bao quát: thấu cảm xảy ra khi một đáp ứng xúc cảm nhiều thích đáng hơn với người khác. Thứ hai, định nghĩa thấu cảm thu hẹp lại- được Vignemont & Singer ưa thích-, thỏa mãn các yêu cầu sau:

@ Bạn cảm thấy một trạng thái cảm xúc riêng biệt;

@ trạng thái này cảm nhận tương đồng đối với bạn và "mục tiêu" thấu cảm của bạn, dù do những nguyên nhân khác nhau;

@ thấu cảm xuất phát từ việc bạn giám sát hoặc tưởng tượng về trạng thái xúc cảm của mục tiêu;

@ bạn nhận ra trạng thái xúc cảm của mình là kết quả của sự thấu cảm.

De Vignemont & Singer (2006) khẳng định rằng, định nghĩa này cho phép phân biệt giữa thấu cảm và cách tiếp cận nhận thức.

Các định nghĩa về thấu cảm vừa nêu dựa trên giả thuyết về cách thức chúng ta kiểm soát sự thấu cảm của bản thân.

Mỗi cá nhân khác biệt nhau, song nhìn chung thì chúng ta hành động thấu cảm theo vô thức cùng những đối tượng xung quanh, hay còn bao gồm một số phụ trội khác nữa? Mô hình tiến trình đánh giá khẳng định chắc chắn rằng, có nhiều mức độ hành động vô thức đối với quy trình xúc cảm.

Theo lý thuyết này, các thành phần tri giác có thể dẫn trực tiếp, và hoàn toàn vô thức, vào các tiến trình đánh giá, rồi từ đó tạo ra đáp ứng xúc cảm.

Báo cáo khoa học thần kinh của de Vignemont & Singer (2006) hỗ trợ cho giả thuyết này. Nhiều nghiên cứu phát hiện, khi người ta nhìn những kẻ hoàn toàn xa lạ đang trải qua đau đớn, thì não của họ kích hoạt đáp ứng theo kiểu thấu cảm đặc trưng (
Morrison, Lloyd, di Pellegrino & Robert, 2004).

Song như de Vignemont & Singer (2006) chỉ ra, sự thấu cảm không phân biệt này phải được điều chỉnh bởi các yếu tố môi trường, nếu không thì đời sống xúc cảm của chúng ta có thể là một thứ hỗn độn bất tận.

Tương tự thế, mô hình tiến trình đánh giá không chỉ dựa vào tri giác như đầu vào duy nhất cho các đáp ứng xúc cảm, mà nó còn xem xét đến "những sự trình diễn được kích hoạt liên quan khác" và "những nội dung của tiêu điểm nhận thức".

Thứ nữa, và điều này rất quan trọng đối với mô hình tiến trình đánh giá, de Vignemont & Singer (2006) khẳng định rằng, thấu cảm có thể là "nhanh chóng và hàm ý". de Vignemont & Singer (2006) cũng khẳng định, một tập hợp phân loại có thể giúp lý giải tại sao nhiều người chúng ta thấu cảm với người khác trong một số bối cảnh này nhưng lại không thấu cảm ở những bối cảnh khác:

@ Các yếu tố xúc cảm nội tại, ví dụ, một số xúc cảm có thể được nội tâm thật dễ dàng để thấu cảm cùng;

@ Các yếu tố quan hệ; như lý thuyết đánh giá của de Vignemont & Singer (2006) chỉ ra: mối quan hệ giữa người thấu cảm và mục tiêu sẽ có một hiệu ứng thiết yếu;

@ Sự khác biệt cá nhân;

@ Các yếu tố tình huống.

Mô hình tiến trình đánh giá xác quyết một mẫu thức sớm của sự đánh giá. Điều này nghĩa là, cả dấu hiệu xúc cảm lẫn bối cảnh đều được minh định bởi các tiến trình đánh giá trước khi một đáp ứng xúc cảm được tạo ra.

Sự biến đổi khác là một mô hình muộn, bao gồm liên kết trực tiếp từ một dấu hiệu xúc cảm tới một đáp ứng xúc cảm, do đó, đi vòng quanh các tiến trình đánh giá. De Vignemont & Singer (2006) cho thấy, hiện tại có rất ít bằng chứng phân biệt giữa hai cách thức trên.

Bất kể tiến trình tạo thấu cảm ra sao, điều rõ ràng là thành phần cốt tử của chức năng hiệu ứng xã hội. Ngay cả sự cốt tử thế nào còn là đối tượng gây tranh cãi chưa thôi. Nhiều nhà nghiên cứu đề nghị, thấu cảm làm tăng hành vi hướng đến xã hội. De Vignemont & Singer (2006) khẳng định rằng, thấu cảm làm tăng sự thấu hiểu xã hội và tương tác xã hội; ngược lại, thiếu vắng thấu cảm tạo nên hành vi xung hấn và chống đối xã hội.

Thực tế nghiên cứu từ 1940 đến nay cho thấy, không ít lý thuyết gia nhìn thấu cảm như là kỹ năng quan hệ cơ bản. Để truyền thông liên nhân cách diễn ra, đòi hỏi một mức độ thấu cảm nào đó nhằm hiểu người khác chí ít ở mức độ căn bản nhất.

Tuy vậy, có nhiều tầm mức hiểu biết khác nhau và nhiều kiểu loại tiến trình thấu cảm khác nhau.

Một người có thể biết kẻ khác nhờ nắm được ý nghĩa trí năng của anh/ chị ấy và bởi việc thấu hiểu các giá trị, thế giới quan, mục tiêu và mục đích của anh/ chị ấy; song để thực sự thấu cảm, sự hiểu biết này cần được định hình bởi sự biết hoặc hiểu cách thức các sự việc tác động đến người khác về mặt xúc cảm như thế nào.

Cảm xúc của người đời tỏ lộ sự quan trọng hoặc ý nghĩa của các sự kiện đối với họ; do đó, để hiểu và biết người khác, ta phải đáp ứng đầy xúc cảm với họ.

2. Với Carl Rogers, thấu cảm là một trong ba điều kiện căn cốt nhà trị liệu dành cho thân chủ trong tâm lý trị liệu.

Hai điều kiện kia là trung thực, thích đáng (congruence), và tôn trọng tích cực vô điều kiện (unconditional positive regard) hoặc thái độ không đánh giá (nonjudgmental stance) về người khác.

Rogers không nghĩ rằng người ta có khả năng thấu cảm tràn đầy và hoàn bị với kinh nghiệm của kẻ khác, nếu ai đó lượng giá họ một cách tiêu cực.

Hơn nữa, như quan sát của các nhà lý thuyết phát triển, dường như người ta càng không thể thấu cảm thực sự nếu anh/ chị ta cảm nhận thù địch hoặc tức giận hướng đến người khác (Feschbach, 1997).

Do đó, để thấu cảm mang tính trị liệu, thấu cảm cần xảy ra trong một khí hậu đồng cảm, an toàn và không đánh giá mà ở đó thân chủ cảm thấy được xem trọng. Ngoài ra, điều quan trọng là nhà trị liệu phải tỏ ra trung thực, thích đáng khi họ trải nghiệm sự thấu cảm.

Rogers (1965) định nghĩa thấu cảm như là khả năng tri nhận một cách chính xác khung tham chiếu nội tại của người khác, tức là các ý nghĩa và các cấu thành cảm xúc của họ.

Định nghĩa này nhấn mạnh thấu cảm ở cả hai mặt tiến trình xúc cảm và nhận thức. Rogers xem thấu cảm như khả năng nhìn thấy thế giới thông qua con mắt của kẻ khác đến độ cảm được nỗi đớn đau, phiền muộn và nhận ra nguồn xúc cảm của họ y như cách thức họ cảm nhận.

Bằng sự tôn trọng này, ông phân biệt cẩn thận tính đồng nhất và sự thấu cảm: đồng nhất cho thấy sự thiếu vắng các ranh giới khi ai đó chấp nhận quan điểm thực tiễn của người khác.

Một cách để Rogers khẳng định nhà trị liệu có thể biểu lộ sự thấu cảm, là thông qua nỗ lực phản ánh các xúc cảm của thân chủ. Tuy thế, hoạt động này thường bị hiểu nhầm chỉ là việc lặp lại như con vẹt những từ ngữ và điều sau rốt thân chủ nói (Rogers, 1975).

Quan điểm như thế phản ánh cách hiểu sai lệch về sự đáp ứng thấu cảm- là cách thức hiện diện vô cùng tinh tế và phức tạp cùng với thân chủ.

Lắng nghe một cách thấu cảm là sự thực tập đòi hỏi kiên nhẫn và nặng nhọc; có như thế, mới chạm đến điểm mấu chốt trong những truyền thông của thân chủ, và mới chắt lọc được từ các thông điệp của thân chủ yếu tính quan trọng nhất.

Nghiên cứu chứng tỏ, thấu cảm mang tính trị liệu có tương quan với mức độ nhận thức phức hợp của nhà trị liệu. Chú tâm lắng nghe để nhận ra các sắc thái trong các câu chuyện kể của thân chủ là bài luyện tập tinh tế về sự giải cấu trúc chính yếu mà mỗi khoảnh khắc đòi hỏi tập trung ghê gớm.

Trong bài báo ấn tượng năm 1975, Rogers trở lại chủ đề thấu cảm và gắng định nghĩa nó chính xác hơn: ông xem thấu cảm như tiến trình, chứ không phải trạng thái sống. Do vậy, đó là nỗ lực không ngừng bước vào thế giới riêng tư, chủ quan của người khác, cùng lúc đấy phải thật nhạy cảm nhằm nắm bắt những thay đổi đầy ý nghĩa đủ để theo dấu họ một cách xác đáng.

Tiến trình cố gắng thấu hiểu thế giới chủ quan của người khác được thực hiện với sự chú ý cẩn trọng, để phát hiện các sắc thái ý nghĩa của cảm xúc mà chủ thể xem chừng không nhận thức thật đủ đầy. Dẫu thế, điều này không có nghĩa là tiết lộ hoặc báo cáo về các cảm nhận người ta đã không nhận thức được.

Đúng hơn, gắng hiểu những gì thân chủ đang nói luôn luôn là tiến hành mang tính thử nghiệm và không ngừng kiểm tra lại chúng. Thân chủ vẫn mãi là người có thẩm quyền tối thượng, bất kể nhà trị liệu đã hiểu họ thật đúng đắn hoặc nắm bắt được điều họ đã không nhận ra đủ đầy.

Rogers (1975) xem thấu cảm như là cách thức gợi lên sự tự thay đổi trực tiếp và trao quyền hành cho con người. Do đó, ông đã bỏ công sức nhằm không hiện diện trước thân chủ với tư cách chuyên gia trong trị liệu đủ để thân chủ có thể đảm nhận trách nhiệm cho những tiến trình và thay đổi hành vi của chính họ, và tiến tới nhìn nhận bản thân họ như là người quyết định sáng giá, đúng đắn nhất về những cảm xúc và nhu cầu riêng tư của chính mình.

3. Sau giả thuyết cơ bản của Rogers về ba điều kiện cần và đủ để sự thay đổi mang tính trị liệu xảy ra (thấu cảm, tôn trọng tích cực vô điều kiện và thích đáng), hai công cụ thông dụng nhất đã được cải tiến để đo lường thấu cảm là Accurate Empathy Scale (Truax & Carkhuff, 1967) và Relationship Inventory (Barrett- Lennard, 1962).

Rất nhiều nghiên cứu đã tìm hiểu về mối quan hệ giữa thấu cảm và kết quả trị liệu; và không có nghiên cứu nào chỉ ra quan hệ tiêu cực giữa chúng; ngược lại, đa phần các nghiên cứu cho thấy mối quan hệ tích cực giữa hai biến số này (Gladstein, 1977; Gurman, 1977; Orlinsky và cs., 1994). Không ít nghiên cứu gắng định dạng mối tương quan giữa hành vi và thấu cảm (Barkham & Shapiro, 1986; Barrington, 1961; Bergin & Jasper, 1969; Caracena & Vicory, 1969; D'Augelli, 1974; Gardner, 1971; Heabe & Tepper, 1972; Truax, 1966; Westerman, Tanaka, Frankel, & Khan, 1986), thông qua 4 lĩnh vực khác nhau có liên quan với sự truyền thông thấu cảm: hành vi không lời của nhà trị liệu, đặc trưng phát ngôn của nhà trị liệu, phương thức đáp ứng của nhà trị liệu, và tính cách cá nhân của nhà trị liệu.

Gần đây hơn, các nhà nghiên cứu Boston (2007) đã
dùng công nghệ để đo lường thấu cảm giữa nhà trị liệu và bệnh nhân của họ.

Theo các nhà tâm thần học Harvard, thì đây là nghiên cứu đầu tiên về sinh lý học của việc chia sẻ cảm xúc trong suốt các lần trị liệu. Và họ đã khám phá ra bằng chứng về nền tảng sinh học của những mối kết nối thấu cảm.

Rằng, nghiên cứu của họ khẳng định: các nhà trị liệu tri nhận như là người nhiều thấu cảm hơn thì càng có nhiều trải nghiệm cảm xúc tích cực với các bệnh nhân. Rằng, sự thiếu vắng thấu cảm là dấu chỉ lớn nhất về kết quả tồi tệ cho bệnh nhân trong tâm lý trị liệu; tuy thế, thấu cảm không phải là toàn bộ câu chuyện, nó chưa đủ để quyết định kết quả trị liệu.

Điều mà các nhà nghiên cứu trên không nêu ra trong báo cáo đã công bố là việc họ cho biết thêm: mức độ hòa hợp sinh lý giảm đi ít nhiều khi nhà trị liệu nói thay vì lắng nghe. "Điều này khẳng định rằng, thật là khó khăn để các nhà lâm sàng thấu cảm khi họ đang nói."

Vậy, có thể hữu ích việc thân chủ sử dụng điều này như là cơ chế phản hồi sinh học giúp cho các nhà lâm sàng tăng cường khả năng thấu cảm của họ. Và dĩ nhiên, cần ghi nhớ là khi chúng ta nói chúng ta trở nên kém thấu cảm.

Trong trị liệu, một số kiểu đáp ứng thấu cảm đã được định hình, gồm: đáp ứng hiểu biết thấu cảm; khẳng định thấu cảm; gợi nhớ thấu cảm; khám phá thấu cảm; và ước đoán thấu cảm (Greenberg & Elliot, 1997; Greenberg và cs., 1993; Watson và cs., 1998).

Và dưới đây trích
bài báo cho thấy chỉ cần hít nhanh chất Oxytocin có thể cải thiện khả năng thấu cảm của bạn:

Nó không những là hormone chính hiệu mà còn là hormone đọc được tâm trí nữa. Hít mạnh oxytocin- chất làm nền tảng gắn kết xã hội giữa các loài động vật- giúp cho đàn ông tăng cường khả năng đọc cảm xúc của người khác.

Hai năm trước, các nhà nghiên cứu báo cáo rằng, oxytocin tăng cường sự tin cậy. Giờ đây, đội ngũ nghiên cứu do Gregor Domes của Đại học Rostock- Đức đứng đầu đã khám phá một trong các thành phần cơ bản của sự tin cậy: nhận thức xúc cảm.

Các nhà nghiên cứu xịt oxytocin lên mũi của 30 đàn ông và kiểm tra họ có thể đọc xúc cảm từ các bức ảnh chụp đôi mắt tốt trong những tình huống thực tế như thế nào. 20 người trong số họ đã thể hiện giỏi hơn hẳn sau khi hít oxytocin.

Dome khẳng định rằng, hormone oxytocin có thể được dùng để điều trị người mắc tự kỷ- đối tượng nỗ lực đọc cho được cảm xúc của người khác.
Nhân đây, cũng cần biết rằng, nhiều nghiên cứu về bắt chước cung cấp thêm bằng chứng các cá nhân mắc rối loạn phổ tự kỷ (Autism Spectrum Disorders: ASDs) phải chịu đựng sự thiếu hụt trong việc xử lý xúc cảm theo bản năng, dù họ hoàn toàn có khả năng bắt chước một cách ý thức các xúc cảm.

Điều này tương hợp với
các nghiên cứu thực hiện đối với người không có khả năng diễn đạt hoặc định dạng cảm nhận xúc cảm (alexithymia), những đối tượng cũng gặp vấn đề xử lý vô thức về xúc cảm, dù họ có thể mô tả cảm xúc một cách rõ ràng ở bình diện trung tâm ý thức.

* Tóm lại, như phát biểu của Jeane C. Watson, để thực sự thấu cảm tràn đầy, nhà trị liệu phải nhận thức về những gì đang xảy ra ở từng khoảnh khắc một trong mối liên hệ của họ với thân chủ, và hiểu biết về logic xúc cảm của thân chủ.

Fiedler (1950) phát hiện thấy rằng, những nhà trị liệu mới vào nghề hiểu biết thân chủ một cách trí năng mà không theo hướng xúc cảm; họ nghĩ ngợi thật khó khăn để hướng theo các dòng suy tư của thân chủ.

Theo ý bà Watson, hiểu biết một cách trí năng là thấu hiểu trên bề mặt ý nghĩa những gì thấu chủ đang tỏ lộ. Thấu cảm đủ đầy thu góp ý nghĩa, cảm xúc, và yếu tính những trải nghiệm của thân chủ. Nó đòi hỏi nhà trị liệu hòa trộn bản thân vào trải nghiệm của người khác- nếm, ngửi, cảm nó nhằm thu hẹp, gom góp lại các bờ vực và khía cạnh hàm ẩn của nó.

Nhà trị liệu- bà Watson nói- cần có khả năng đáp ứng thật hòa hợp với thân chủ và hiểu họ ở mặt xúc cảm lẫn mặt nhận thức.

Khi thấu cảm được khai triển ở cả 3 mức độ- liên nhân cách, nhận thức và xúc cảm- thì nó là một trong những công cụ đầy quyền lực mà nhà trị liệu tùy ý sử dụng nhằm đem lại lợi lạc cho chính thân chủ của mình.

----------
Tài liệu tham khảo chính:

Humanistic Psychotherapies- Handbook of Research and Practice, (2001), pp.445- 471.

Bài đăng Mới hơn Bài đăng Cũ hơn Trang chủ