
Việc phát triển lý thuyết thấu cảm- hệ thống của Simon Baron-Cohen đã trở nên quen thuộc trên các phương tiện thông tin hiện nay.
Theo vị giáo sư nổi tiếng về nghiên cứu tự kỷ, trải nghiệm thấu cảm (empathize) là động lực định dạng những cảm xúc và suy nghĩ của người khác, để rồi đáp ứng chúng bằng một xúc cảm thích đáng.
Còn năng lực hệ thống hóa (systemize) là động lực nhằm phân tích và khám phá một hệ thống đặng rút ra các nguyên tắc điều khiển hành vi của một hệ thống, thôi thúc người ta thiết lập cấu trúc của các hệ thống.
Lý thuyết thấu cảm- hệ thống của Simon Baron- Cohen khẳng định rằng, người mắc tự kỷ gặp nhiều khó khăn để thực sự giỏi giang trong chuyện hệ thống hóa và trải nghiệm thấu cảm ở họ thật tồi tệ, kém cỏi.
Simon đã hợp tác chế tạo ra một loạt băng hình sống động mang tên The Transporter (Những nggười vận chuyển) mà bạn có thể xem một số tập làm mẫu.
Loạt băng hình này dành riêng cho trẻ mắc tự kỷ, đối tượng cảm thấy khó khăn trong việc nhận ra các nguyên nhân gây xúc cảm và sự biểu đạt cảm xúc qua khuôn mặt.
The Transporters là thế giới đồ chơi tưởng tượng chứa nhiều xe cộ, mang các tính cách thể hiện trải nghiệm và phiêu lưu ngập đầy cảm xúc. Mục đích: giúp trẻ em cải thiện hiểu biết về những nguyên nhân tạo xúc cảm và sự biểu đạt các cảm xúc.
Trẻ mắc tự kỷ thường có khuynh hướng thích thú với các loại xe cộ, dường như vì sự chuyển động của xe cộ dễ dự đoán; xem ra, đối tượng trẻ em này không mê lắm các đồ vật mà sự di chuyển chẳng thể dự đoán nổi. Hơn nữa, trẻ mắc tự kỷ càng thích các loại xe cộ nào bị khống chế đường đi, như tàu điện, xe gắn dây cáp, tàu lửa và xe kéo theo các toa.
Với The Transporters, đối tượng trẻ em vốn không thực sự muốn nhìn vào những khuôn mặt chẳng thể dự đoán nổi có thể chú tâm tới các khuôn mặt thể hiện tính cách đặc trưng đã được nhà sản xuất ghép sẵn vào các xe hấp dẫn, dự đoán được. Điều này khiến trẻ học hỏi dễ dàng hơn các biểu đạt gắn trên xe.
Mục đích của The Transporters không những dạy cho trẻ các xúc cảm cơ bản (vui mừng, buồn bã, tức giận, thất vọng, sợ hãi, ngạc nhiên) mà còn gồm một số cảm xúc phức tạp nữa (tủi hổ, trêu đùa, ghen tuông, tự hào, mệt mỏi, hối lỗi, tử tế, phấn khích, lo lắng, thiếu thân thiện, và gắt gỏng); Simon nói.
Thông qua các giờ xem băng hình TV lặp đi lặp lại, trẻ mắc tự kỷ thay vì quay đi khỏi các khuôn mặt mà chúng thường không thể dự đoán nổi- do đó, bỏ quên trải nghiệm chính yếu về các biểu đạt cảm xúc- thì nay chúng lại sẽ hướng vào các khuôn mặt thậm chí, không nhận ra việc đang làm.Nếu bạn là đứa trẻ đang gặp khó khăn với sự "thấu cảm", kiểu như đang bối rối rằng tại sao biểu đạt khuôn mặt lại thay đổi đột ngột như thế, thì hy vọng là bạn có thể dần quen thuộc với cách nhìn người ta khi họ tỏ lộ sự ngạc nhiên, e ngại hay tự hào nhờ phơi bày tối đa với những mẫu hình đấy.
Ngoài ra, như blog Cái tôi từng giới thiệu, Simon Baron-Cohen tin rằng, có những sự khác biệt căn bản giữa bộ não của đàn ông và đàn bà. Ông khẳng định, não phụ nữ có khả năng thấu cảm trội hơn hẳn; trong khi não nam giới lại chiếm ưu thế cho sự hiểu biết và xây dựng các hệ thống.
Với lý thuyết này, một người nam hoặc nữ có một "kiểu não" riêng biệt. Theo đó, có 3 kiểu não thông thường: với một số người, thấu cảm mạnh hơn hệ thống hóa (kiểu "não phụ nữ", hoặc là kiểu não E); một số cá nhân khác thì năng lực hệ thống hóa cao hơn thấu cảm (kiểu "não đàn ông", hoặc kiểu não S); còn một số nữa lại cân bằng giữa khả năng thấu cảm và hệ thống (kiểu "não cân bằng", hoặc kiểu não B).
Nếu muốn biết mình thuộc kiểu não nào, bạn có thể thử test ở đây.
Lưu ý nhỏ: xin hãy dành đủ thời gian và thật nhẫn nại, bởi cho đến khi nhận được kết quả cuối cùng xác định kiểu E, S hoặc B thì bạn cần thực hiện tất thảy 6 đề mục căn bản với nhiều bài tập có yêu cầu rất khác nhau.
Phân loại: Giới tính, Học vấn, Não-Thần kinh, Phương pháp luận, Tâm bệnh học, Tâm lý học Phát triển, Tâm lý trị liệu, Test, Thấu cảm, Thời sự, Trẻ em, Tự kỷ
Các sinh viên khoa Tâm lý mà tôi thường tiếp xúc rất hay dùng cụm từ "đi dạy trẻ tự kỷ"; cứ như thể họ đang theo đuổi chuyên ngành Giáo dục đặc biệt bên Sư phạm, đồng thời, có vẻ thật khó hình dung người trưởng thành vẫn còn là đối tượng của rối loạn phát triển này.
Bài báo đăng trên tờ The New York Times cho biết hiện đang ngày càng nhiều trường hợp mắc rối loạn phổ tự kỷ (autism spectrum disorder) mà dạng nhẹ là hội chứng Asperger, đủ trình độ để trở thành sinh viên rồi trải qua thời gian dài ở Đại học một cách thành công.
Tự kỷ có thể là điều kiện làm tê liệt, lụn bại, phá hỏng chính đối tượng mắc và những người yêu thương họ, khiến cho bản thân họ gặp không ít khó khăn trong việc thích ứng với các thay đổi cần thiết trong lối sống.
Tuy thế, nhiều đối tượng mắc tự kỷ lại có mức trí năng trên trung bình hoặc thậm chí, ngoại lệ dẫn đến sự trình diễn vượt trội trên một số lĩnh vực chuyên biệt thu hút sự quan tâm của họ: những giáo sư và sinh viên mắc tự kỷ đam mê hết mình với các ngành kỹ thuật như toán và kỹ sư.
Cũng có một sự thật đau lòng khác: nhiều sinh viên mắc tự kỷ đã phải đi đến quyết định bỏ học, hoặc do sự cách biệt và trầm uất, họ rời trường trước khi tốt nghiệp. Nhiều sinh viên mắc tự kỷ bị mang ra làm trò đùa tai quái tại các lớp học, ký túc xá.
Nữ sinh viên mắc phổ tự kỷ đặc biệt rất dễ bị tổn thương tình dục và cảm xúc trong bối cảnh phức tạp của sự hẹn hò trai gái, bởi họ có vấn đề liên quan đến năng lực diễn giải ý định; còn nam sinh viên thì gặp nguy cơ do hiểu sai lệch các dấu hiệu rõ ràng của sự từ chối, cự tuyệt, nên cứ tiếp tục một mối quan hệ "dưa bở" lãng mạn cho đến khi nhận lãnh hàng loạt kết cục bẽ bàng.
May mắn thay, hiện ở Hoa Kỳ có không ít các chương trình chuyên nghiệp hỗ trợ, giúp đỡ sinh viên mắc phổ tự kỷ tích hợp vào tính học thuật và kết cấu xã hội của môi trường Đại học.
Đây là sự tương tác hai chiều, như lời chuyên gia Larry Welkowitz, "chúng ta đang học hỏi về chính mình. Rất nhiều người chúng ta pha trộn chút ít tự kỷ (A lot of us have a dash of autism)."
Một nhận xét đáng chú ý. Trong bài báo mới đây mang tựa đề Khi hai tâm trí suy tư tương tự nhau, Simon Baron- Cohen bàn luận về lý thuyết đôi lứa xứng hợp (assortative mating theory) và việc chọn bạn tình với kiểu nhân cách ra sao thì có thể làm tăng nguy cơ có con mắc tự kỷ.
Là thuật ngữ vay mượn từ di truyền học, lý thuyết xứng hợp cho rằng hai động vật cùng loài rồi sẽ đi đến kết đôi khi chúng có nét tính cách chung hoặc tương tự nhau; ví dụ, đàn ông cao lớn có khuynh hướng chọn bạn tình cũng cao trên mức trung bình.
Rồi tác giả lập luận:
Chúng ta biết rằng, tự kỷ kéo dài qua các thế hệ gia đình, và nếu một trẻ sinh đôi mắc tự kỷ thì khả năng cho trẻ sinh đôi kia mắc tự kỷ sẽ cao nếu chúng cùng trứng.
Điều này cho chúng ta thấy rằng gene rất có khả năng là thành phần quan trọng cho việc giải thích và người ta nên tìm tòi manh mối ở các bố mẹ của trẻ mắc tự kỷ.
Bốn nét tính cách bố mẹ, theo tác giả, có nguy cơ cao dẫn đến việc sinh trẻ mắc tự kỷ:
1. Cả bố và mẹ trẻ mắc tự kỷ đều có khả năng xử lý tốc hành các công việc đòi hỏi sự chú ý, với yêu cầu đặt ra là phát hiện một chi tiết càng nhanh càng tốt.
2. Cả bố và mẹ rất có thể là cùng có một người cha từng làm việc trong ngành kỹ sư.
3. Cả bố mẹ đều đạt điểm số cao trong các thang đo lường tinh tế về những nét tự kỷ.
4. Cả bố và mẹ chứng tỏ khuynh hướng tính đàn ông trong hoạt động của não bộ khi chụp MRI.
Baron-Cohen giả định rằng, "một điều gì đó" có thể là nguyên nhân để các cá nhân với những tính cách tương tự hấp dẫn người kia. Ông tin rằng, "điều gì đó" ấy có thể là khuynh hướng hệ thống hoá (systemizing) được mô tả kiểu như: "động lực hướng tới sự phân tích chi tiết một hệ thống để hiểu cách nó vận hành ra sao."
Não của trẻ mắc tự kỷ vốn được cho là có khả năng hệ thống cao hoặc cực cao, mà Baron-Cohen tin là do ảnh hưởng từ cặp đôi cùng điêu luyện việc hệ thống hoá, có khuynh hướng phân tích chi tiết cao độ.
Ngoài nguyên nhân do di truyền nêu trên, một bài báo được post lên mạng Medicinenet.com tuyên bố là đàn ông lớn tuổi mới làm bố thì rất có khả năng sinh con mắc tự kỷ; cụ thể, tỷ lệ phần trăm trẻ mắc tự kỷ có bố ngoài 40 cao gấp 6 lần- so với bố 30 hoặc trẻ hơn.
Một trong những nguyên nhân là do đột biến (mutation) trong tinh trùng theo tuổi tác đàn ông, nhà nghiên cứu Reichenberg nói. Những đột biến này có thể được tích luỹ lại cùng với tuổi tác và do đó, truyền từ bố sang con.
Cũng có khả năng là các cơ chế tự bảo vệ cơ thể khỏi sự đột biến đã không hoạt động hiệu quả khi người ta lớn tuổi.
Ngoài ra, có thể là một gene không chính xác hoặc khiếm khuyết nào đó được kích hoạt, Reichenberg lưu ý. Tự thân các cơ chế này thao tác hay hoà hợp nhau có thể là nguyên nhân dẫn đến mối liên kết giữa bố lớn tuổi và tự kỷ.
Như lời một người trong cuộc, những nghiên cứu ấn tượng và nhạy cảm này mang hàm ý khuyến cáo chúng ta đừng nên kết hôn, chung sống và sinh con đẻ cái chỉ dựa hoàn toàn vào những nét tính cách người, trừ khi bạn nhận ra nét tính cách hoàn toàn thô bạo, khó chịu.
Xin chớ sợ hãi nếu bạn đang hẹn hò và có kế hoạch gắn bó lâu dài với một sinh viên trường Bách khoa, hoặc đang chung sống với một nữ kỹ sư-- cho đến khi chúng ta có những căn cứ xác đáng, vững chắc.
Rõ ràng, đã đến lúc nên từ bỏ những giải thích đơn lẻ về tự kỷ. Và đây cũng là dịp ngoái nhìn lại hiểu biết cơ bản về rối loạn đang gây sự chú ý ngày càng cao này.
Phân loại: Nghiên cứu, Tâm bệnh học, Thời sự, Tự kỷ
Như đã giới thiệu về câu hỏi năm 2007 của Edge (với các nhà tâm lý học tên tuổi từng được nhắc tới trên blog Cái Tôi như Daniel Goleman, Howard Gardner, David G. Myers, Martin Seligman, Simon Baron-Cohen,...), và nhất là sau vụ Saddam Hussein bị phán quyết treo cổ vừa qua, ở đây sẽ trích đăng ý kiến đầy tự tin của nhà tâm lý học tiến hoá kiêm nhà sinh học Marc D. Hauser trong việc giảm thiểu vô số chủ nghĩa "isms" và lắm định kiến (prejudice) chống lại các nhóm xã hội-- dựa trên kiến thức của khoa học não bộ.
Trước hết, cần biết rằng, những chuyển đổi do thoái hoá thần kinh ở bệnh nhân Huntington khiến đối tượng này mất năng lực cảm nhận sự kinh tởm (disgust)-- điều có thể bị kích động bởi chủ nghĩa phân biệt chủng tộc (racism), kỳ thị giới tính (sexism), thành kiến tuổi tác (ageism),...
Bệnh nhân mắc Huntington's chorea (chứng múa giật di truyền)-- mang đặc trưng teo mòn trầm trọng các nhân đuôi (caudate nucleus)-- xuất hiện một số triệu chứng tâm thần điển hình tương tự như bệnh nhân loạn thần (psychosis).
Người mắc bệnh thoái hoá thần kinh (neurodegenerative disease) Huntington thường phát triển ý nghĩ hoang tưởng, trầm cảm, và/ hoặc hành vi xung động không phù hợp. Họ cũng tỏ lộ sự sa sút trí tuệ (dementia) nặng nề, xảy đến trong bối cảnh nhân cách bình thường trước đó (Andreasen, 2001: 145).
Gần hơn, nghiên cứu ảnh chụp thần kinh đã định vị đáp ứng của não bộ người ta phân biệt các nhóm định dạng bản sắc xã hội (social identity) khác nhau đối với các hình ảnh vô tri vô giác.
Với fMRI, vùng đã định vị-- liên quan chức năng nhận thức xã hội-- được ghi lại khi người tham gia thực nghiệm nhìn vào các tấm ảnh người vô gia cư, nghiện ngập ma túy, ám chỉ kẻ làm chuyện vô nhân đạo. Một số hình ảnh khác cũng được test tương tự (kinh tởm) bởi cùng một thang đo: cảnh nôn mửa, bàn cầu vệ sinh dập dềnh nước.
Lấy cảm hứng từ những thành tựu của khoa học thần kinh, Marc Hauser chan chứa tinh thần lạc quan và hy vọng giảm thiểu sự kinh tởm.
Dưới đây, trích đăng toàn bộ phần cuối trong bộ ba vấn đề trả lời của vị giáo sư đến từ Đại học Harvard:
Hãy cảnh giác với sự kinh tởm!Những dòng tâm huyết của nhà tâm lý học Hauser mong muốn giảm thiểu sự kinh tởm, điều sỉ nhục và tính thành kiến thực sự lạc quan đến độ gây phấn khích và ngạc nhiên vô cùng.
Sự kinh tởm là căn bệnh hiểm ác nhất của xúc cảm con người.
Dù sự kinh tởm được xác thực như một đáp ứng mang tính thích nghi đối với các yếu tố bệnh tật tiềm năng-- mọi thứ hoàn toàn bình thường bên trong giờ trụi trần, thô tục ở ngoài-- như nôn mửa, máu me và phân thải; đó là loại cảm xúc tai hại lẩn xuống các vấn đề khác, nó dồn đống và trút xả vào cấu trúc nhóm để rồi lan tràn ra khắp.
Thông qua lịch sử chiến tranh, mỗi nhóm phe phái đánh nhau cố nắm thóp kẻ thù bằng các phẩm tính gợi nhớ về sự bệnh hoạn, dơ bẩn và ký sinh trùng. Ý niệm ấy tràn ngập và được tô vẽ mỹ miều cốt nhằm không ngừng gây nên sự khóc than tang tóc.
Bằng việc huỷ diệt 6 triệu người dân Do Thái, bè lũ Đức Quốc xã đã tiến hành một chiến dịch quảng cáo khủng khiếp; đó là sự kinh tởm được thực hiện với kỹ thuật cực kỳ điêu luyện vượt trên hết thảy: với bọn chúng, dân Do Thái là loại sâu bọ, súc vật bẩn thỉu, bệnh hoạn và do đó, thật kinh tởm và đáng giết sạch.
Chừng như tất cả chúng ta đã có thể sống ổn thoả, tốt đẹp hơn nếu không có và/ hoặc vứt bỏ sự kinh tởm; dễ dàng tống khứ chuyện phỉ báng, bôi nhọ kẻ khác?
Thật hiếu kỳ, một số người không bao giờ trải nghiệm nổi sự kinh tởm và nhận ra nó ở những người khác, thậm chí ngay cả khi họ tri nhận được tất cả các xúc cảm tương tự: buồn bã, sung sướng, sợ hãi, ngạc nhiên, tức giận.
Những người này là đối tượng mang mầm bệnh (carriers) rối loạn di truyền Huntington's Chorea. Dù bị hành hạ đớn đau do các hệ thống vận động hư hỏng nghiêm trọng, họ chẳng vướng mắc tí ti chi về sự kinh tởm; đó còn là những tiền triệu chứng bệnh lý.
Bất kể hiện chúng ta chưa rõ bệnh nhân Huntington có miễn nhiễm với kiểu tuyên truyền hung ác, bất chính hay không mà gán cho họ những sự định kiến như thế, trực giác của tôi mách bảo rằng khoa học sẽ khẳng định mối liên hệ ấy.
Và nếu quả đúng thế, có lẽ các kỹ thuật phân tử hiện đại rồi sẽ tìm ra cách thức điều trị bệnh Huntington, theo cùng với nó cũng sẽ phát hiện được phương pháp để chốt hãm hoặc dập tắt hẳn đáp ứng mang tính kinh tởm, trong khi vẫn bảo tồn các hệ thống vận động của con người chúng ta.
Đây là kịch bản hợp tác cho hiện tại. Nó không phải là giải pháp sau rốt. Song, tôi tin, nó cho chúng ta thêm nhiều hy vọng vào một ngày có thể nhìn thấy thế giới này thật yên bình và một sự tôn trọng sâu xa hơn đối với người khác.
Phân loại: Định kiến, Huntington, Não-Thần kinh, Nghiên cứu, Tâm bệnh học, Tâm lý học Xã hội, Thời sự
Và dường như cứ 7 phụ nữ thì có 1 người mang bộ não đàn ông; những quý bà như thế thường trở thành nhà toán học xuất sắc và tỏ ra nổi trội về năng lực phân tích.
Điều kỳ thú là các thông tin đáng giá này lại có thể xuất hiện trên một website của các cô dâu nhập khẩu từ nước Nga:
Vào đây để xem một người phụ nữ mang bộ não đàn ông trông như thế nào.Các nhà khoa học phát hiện là cứ 5 đàn ông thì có 1 người mang bộ não phụ nữ. Đối tượng sở hữu các bộ não ấy không nhất thiết phải trông giống như một người đồng tính luyến ái. Trái lại, anh ấy có thể trông khá là hung hăng nam tính (rather brutal-looking macho). Người đàn ông có não phụ nữ sẽ khác với cánh đàn ông khác bởi việc đam mê các nghề nghiệp của phụ nữ.
Một người đàn ông có thể luôn luôn sử dụng lập luận theo "logic đàn bà" ("women's logic" argument) trong khi tranh cãi với phụ nữ. Lý lẽ kết thúc ngay lập tức sự tranh chấp, và đối thủ phụ nữ sẽ không có khả năng chiến thắng, bất kể cô ấy gắng sức biện hộ cho bản thân đến mấy. Nói chung, người ta tin rằng, tư duy theo cách đàn ông thì nhiều lý trí hơn: phụ nữ khó suy nghĩ thích đáng vì các cảm xúc của họ.Một số khám phá khoa học gần đây bác bỏ mối gắn kết giữa giới tính và tư duy.
Giáo sư Simon Baron- Cohen thuộc Đại học Cambridge không cho rằng tất cả đàn ông đều sở hữu lối tư duy nam giới mang tính hệ thống. Do những người có phẩm chất đàn ông như thế biết cách làm thế nào để đọc bản đồ, lập kế hoạch và lên danh sách việc cần làm. Nói cách khác, không phải mọi phụ nữ đều có năng lực xúc cảm.
Phân loại: Đời sống, Giới tính, Não-Thần kinh, Nghiên cứu, Quan hệ