(ảnh)
Ngáp, có vẻ là hành vi quen thuộc chúng ta hầu như thường tiến hành mỗi ngày.
Nói gì đây về ngáp- khi mà ai nấy đều dễ dàng đưa ra câu trả lời lơ đễnh đầy tự tin rằng, người ta ngáp vì mệt mỏi, buồn chán.
Lạ thay, câu chuyện về ngáp xem chừng không đơn giản mà dài dòng hơn nhiều.
Nghiên cứu cho thấy, ít nhất thì cũng có 2 cách lý giải.
Thứ nhất, ngáp làm bộ não dịu đi; trong nghiên cứu vừa nêu, các đối tượng ngáp nhiều khi não ấm nóng hơn.
Thứ hai, ngáp vốn hay lây. Lý thuyết tiến hoá khẳng định là con người mang bản chất sinh học nên khiến cho chúng ta có khả năng ngáp khi ai đó làm thế, vì nhờ nó chúng ta giúp báo động cho kẻ khác sự nguy hiểm (chính xác hơn, là khiến mình tỉnh thức) hay đây là nghi thức dồn lại thành đống một số điều sợ hãi.
Không biết bạn nghĩ gì khi đọc những lời giải thích có vẻ mang tính khoa học tâm lý trên. Tôi thì sắp ngáp đến nơi, và dễ dàng tán đồng hơn với suy luận cho rằng, nguyên nhân của ngáp là do thiếu oxygen; bằng chứng, nếu chú ý, chúng ta sẽ thấy mỗi khi ngáp, chúng ta hít vào rất ghê.
Dù lý thuyết dựa trên nền tảng oxygen đỡ gây ngáp hơn lập luận từ góc độ "xã hội", song cũng cần vớt vát tí chút khi nhìn nhận ngáp là hành vi khá cơ bản đến vậy mà vẫn còn nhiều bí ẩn chưa bộc lộ hết.
Đấy, chúng ta đã chẳng phải suy tính và nỗ lực tối đa nhằm ngăn chặn việc ngáp sái cả quai hàm khi tương tác xã hội cùng ai đó, bởi hành vi này tựa như một sự xúc phạm, vô lễ, hàm ý rằng cuộc trò chuyện/ đọc entry này thật nhàm chán.
Phân loại: Đời sống, Hài hước, Nghiên cứu, Tâm lý học Tiến hóa, Tâm lý học Xã hội
1. Trước tiên cần đánh giá về mặt tâm lý: nhận thấy rằng ta không lười biếng; chợp mắt tí chút sẽ giúp mình năng sản và tỉnh táo hơn khi thức dậy.Đọc mấy cái vụ mẹo vặt ngủ nghỉ này, thấy mình ngáp ngắn ngáp dài đủ để nhanh nhanh chóng chóng kết thúc bài vở...
2. Nên gắng chợp mắt vào buổi sáng hoặc ngay sau bữa ăn trưa; các nhịp sinh học trong ngày làm ta dễ gật gà gật gưỡng (giấc ngủ chậm)- vào khoảng thời gian chiều muộn- sẽ khiến ta chệnh choạng.
3. Tránh dùng café và thức ăn chứa nhiều chất béo và đường đầy bụng, quấy quả việc thiếp đi.
4. Thay vào đấy, một hoặc hai tiếng đồng hồ trước lúc chợp mắt, thử ăn các đồ lắm đạm và can-xi có thể dụ dỗ ta đi nằm.
5. Tìm một nơi sạch sẽ, thoáng mát, vắng người qua lại, và tắt điện thoại di động.
6. Chỗ nghỉ ngơi cần đen rợp, hoặc dùng miếng băng che mắt. Bóng tối kích thích sinh trưởng hormone gây ngủ melatonin.
7. Nhớ cho là thân nhiệt chúng ta tụt xuống khi ngủ. Tăng nhiệt độ phòng ốc hoặc sử dụng chăn, mền.
8. Đặt chế độ nhắc nhở về khoảng thời gian như ý, một khi thấy mình thư giãn và sẵn sàng thoải mái chợp mắt ngay liền.
Phân loại: Giấc ngủ, Kỹ năng sống, Sức khỏe tâm thần, Tâm lý học Phát triển

Bà mẹ trẻ cuống lên khi cậu con trai 8 tuổi của mình được một trung tâm chăm sóc và dạy dỗ trẻ tự kỷ tại Hà Nội đánh giá là đối tượng thuộc diện 'lọt khung'.
Nếu cơ sở vừa nêu "tuyên án" chắc nịch sau cuộc gặp gỡ ngắn với trẻ, thì ở một khoa phòng của bệnh viện nổi tiếng khác lại đưa ra phán quyết phủ định- chỉ nhờ tiến hành trắc nghiệm IQ.
Thực trạng nhập nhằng, trái khoáy, đáng quan ngại như trên cho thấy việc hiểu biết thật chính xác chẩn đoán về tự kỷ không hề dễ dàng, chẳng những cực kỳ quan yếu mà còn phải thận trọng; đòi hỏi cả trình độ chuyên môn lẫn đạo đức nghề nghiệp.
Nhìn chung, phổ tự kỷ (autistic spectrum) là tập hợp các triệu chứng, chứ không đơn giản một vấn đề do nguyên nhân duy nhất; thực chất, các rối loạn này bao gồm tự kỷ, cũng như hội chứng Asperger và PDD-NOS.
Thực tế, sự tiến bộ trong nghiên cứu một mặt góp phần nâng cao hiệu quả chăm chữa cụ thể, mặt khác trở thành thách thức to lớn đối với việc định danh đúng đắn căn bệnh này, thậm chí, có khả năng thúc đẩy nhu cầu hết sức mạnh mẽ mang tính cách mạng nhằm xem xét lại hiểu biết của chúng ta về tự kỷ-- từ góc độ nhân văn và khoa học.
@ Chẳng hạn, giới chuyên môn khẳng định rằng trẻ mắc tự kỷ dường như 'miễn nhiễm' với việc lây truyền cơn ngáp- có lẽ đây là hậu quả của tiến trình thiếu hụt nhận thức xã hội của trẻ.
Một trong ba khía cạnh cơ bản của hội chứng tự kỷ là sự khó khăn trong tương tác xã hội; hai vấn nạn kia bao gồm các kiểu loại khác nhau của lối suy nghĩ khó hiểu, và hàng dãy biểu hiện kiềm chế hoặc lặp đi lặp lại liên quan đến hành vi.
Không dễ đưa ra câu trả lời giải thích tại sao hiện tượng lây ngáp lại bị giảm thiểu ở đối tượng mắc tự kỷ dù thông thường, các khó khăn gặp phải xét dưới góc độ xã hội của đối tượng tự kỷ vẫn được cho là vấn đề thuộc "lý thuyết tâm trí"-- khả năng hiểu các ước muốn, dự tính và niềm tin của người khác.
@ Nghiên cứu phát hiện thấy: kỹ thuật trị liệu thần kinh (NFB: neurofeedback/ EEG biofeedback) giúp ích cho các đối tượng có những rối loạn tự kỷ.
Cụ thể hơn, nghiên cứu chỉ ra rằng, kỹ thuật chụp quét não đã được thần kinh học chứng thực-- có thay đổi cho phù hợp trong bộ video game tương tác-- xem chừng hỗ trợ đắc lực việc luyện tập bộ não của trẻ mắc tự kỷ, cốt làm dịu đi rối loạn nặng nề nhất của các chứng hành vi máy giật.
Sự kiện này càng làm tăng thêm hy vọng về khả năng ngăn ngừa từ khía cạnh hành vi và tâm-sinh lý để điều chỉnh mức độ ác liệt của hội chứng phổ tự kỷ.
Việc chụp điện não đồ (EEG: electroencephalogrophy) vốn dùng lâu nay để chẩn đoán và phân tích thực tế các kiểu dạng rối nhiễu thần kinh gây nên chứng bệnh Động kinh, Alzheimer, Tâm thần phân liệt, tổn thương não, v.v....
Vì nguồn gốc vấn đề dính dáng tới sự nối kết thần kinh ẩn bên dưới các trường hợp tự kỷ, nên chuyện chụp EEG trở nên thông dụng và là công cụ chính đối với bệnh nhân.
Cách tiếp cận theo hướng NFB cơ bản cho phép bệnh nhân 'huấn luyện' não bộ mình thông qua việc họ tuân theo chỉ dẫn của công cụ máy tính tựa như video game.
Thành công vang dội trong việc điều trị rối loạn stress sau sang chấn (PTSD) và tăng động- giảm chú ý (ADHD), luyện tập tâm trí nhằm giúp bệnh nhân tránh rơi vào hố vực sâu thẳm của cơn sợ hãi, giờ đây, cách tiếp cận theo hướng NFB còn được thử nghiệm áp dụng điều trị hội chứng tự kỷ và thực tế đã chứng tỏ kết quả khả quan.
@ Tuy không dự tính hành động đập phá, song các biểu hiện nhu cầu và cảm xúc của trẻ mắc tự kỷ dưới dạng căng thẳng, hụt hẫng và tức giận lại gây khó khăn cho chính chúng cũng như người chăm sóc.
Cứ 150 trẻ thì có một em mắc rối loạn phổ tự kỷ. Thử xem cuộc đối đầu với hội chứng tai ác này.
@ Sử dụng video và các diễn đàn trực tuyến, người phụ nữ mắc tự kỷ 27 tuổi Amanda Baggs đã buộc các nhà khoa học phải xem xét lại những gì họ nghĩ mình đã biết.
Nêu ra quyền lợi của người mắc tự kỷ trong phong trào online, Amanda Baggs thách thức cách chúng ta hiểu biết và lượng giá những ai trải nghiệm thế giới hoàn toàn khác biệt.
Dẫu không hề nói năng gì được, song cô đã tự mình 'diễn dịch' sự tương tác với môi trường thông qua các dạng ngôn ngữ và tri giác thần kinh đặc thù. Cô cũng đẩy lên mạng các giấy tờ y khoa có liên quan.
Quan điểm nhìn nhận tự kỷ như một biến thể (variation) chứ không phải là rối loạn (disorder) này đã được nhiều nhà nghiên cứu theo trường phái Thần kinh học Nhân văn ủng hộ, và bài báo về cô Amanda trên tờ Wired thêm bằng chứng cho thấy các nghiên cứu của chuyên ngành Tâm lý học Thần kinh đang tiếp tục xác định lại khung tham chiếu thỏa mãn điều kiện tự kỷ.
Ý nghĩ cho tự kỷ là một trạng thái bệnh lý cần bị trừ tiệt hẳn, họ nói. Không phải là não của người mắc tự kỷ khiếm khuyết mà đơn giản là não của họ khác biệt-- một minh họa cho sự phát triển phong phú của con người.Bài báo ghi nhận thành tựu đáng khích lệ của nhóm nghiên cứu đứng đầu là bà Michelle Dawson:
Các nhà nghiên cứu này khẳng định rằng, chính việc chú tâm vào việc chữa trị chứng tự kỷ-- mô hình bệnh tật-- đã khiến giới khoa học quên đặt các câu hỏi căn bản về chức năng bộ não người tự kỷ.
... Điều mà các nhà nghiên cứu tìm thấy là: trong khi các đối tượng không mắc tự kỷ có cùng điểm số-- trên mức trung bình một chút-- ở cả hai trắc nghiệm [test Thang đo Trí tuệ Wechsler (WIS) và test Ma trận Lũy tiến Raven (RPM)] thì nhóm đối tượng mắc tự kỷ có điểm số tốt hơn ở test Raven.Tôi muốn kết thúc bài điểm tin này bằng ý kiến của nhà tâm thần học Laurent Mottron rằng, một ngày nào đó, chúng ta sẽ ngoái nhìn các ý tưởng hôm nay về tự kỷ với cảm giác hổ thẹn như những gì chúng ta từng cảm thấy khi nói về quan điểm của tâm lý học những năm trước cột mốc 1974- DSM-IV đã coi đồng tính luyến ái là một căn bệnh tâm thần.
Hai cá nhân có điểm số thoát khỏi ranh giới chậm phát triển tâm thần đạt đến thứ hạng bách phân 94. Đáng lưu ý hơn, số liệu chi tiết còn tỏ lộ điểm số của trẻ mắc tự kỷ ở test Raven xê dịch quanh điểm bách phân C30 nhiều hơn- so với điểm số thực hiện test chủ yếu dựa vào ngôn ngữ là Wechsler; tuy không kéo tất cả lên song đã khiến đôi người trong nhóm thoát khỏi ranh giới chậm phát triển tâm thần.
Phân loại: Đồng tính luyến ái, IQ, Não-Thần kinh, Phương pháp luận, Quan hệ, Tâm bệnh học, Tâm lý học Lâm sàng, Test, Trẻ em, Truyền thông, Tự kỷ
Trở lên trên là sự thấu cảm của người. Thế còn loài chuột, chúng có sự thấu cảm không?
Jeffrey Mogil và nhóm nghiên cứu của trường đại học McGill, Canada đã chỉ ra bằng chứng đầu tiên về sự thấu cảm giữa những loài động vật có vú trưởng thành, chưa phát triển cao lắm (adult, non-primate mammals), thông qua việc chứng tỏ các con chuột nhạy cảm hơn với sự đau đớn khi nhìn thấy đối tượng cùng hội cùng thuyền trải nghiệm nó.
Theo nhận xét của các nhà chuyên môn không tham gia trong công trình nghiên cứu này, đó là quan điểm ngày càng phổ thông về kiểu đáp ứng cơ bản, tiền nhận thức với các ám hiệu mang tính xã hội có thể xuất hiện ở tất cả các loài có vú (this kind of basic, pre-cognitive response to social cues may be present in all mammals); khẳng định thấu cảm là một năng lực cổ xưa (empathy is an ancient capacity.)
Sự đáp ứng của chuột biểu lộ đau đớn với bạn trong nhóm là ví dụ về sự lây truyền cảm xúc (minh chứng hùng hồn nhất là việc thay phiên nhau ngáp (contagious yawn) ở cả người và hắc tinh tinh (chimpanzees).
Với các động vật bậc cao hơn, sự lây truyền xúc cảm có thể diễn tiến hướng đến các hành vi phức tạp thường liên quan tới thuật ngữ “thấu cảm”, như là khi con người hợp nhất nỗi đau của bạn bè và quyết định giúp đỡ.
Trong nghiên cứu của các nhà khoa học trường McGill, người ta tiêm acid acetic vào mỗi con hoặc cả cặp chuột trưởng thành cùng giới tính là nguyên nhân khiến chúng quặn đau, và để cho chúng quan sát nhau.
Một con chuột bị tiêm quằn quại hơn nếu bạn tình của nó cũng dằn vặt khổ sở, nhưng chỉ khi chuột đã từng sống chung lồng với bạn tình trên 14 ngày.
Quan sát một con chuột khác cũng thấy giảm thiểu sự đáp ứng với nỗi đau. Khi các nhà nghiên cứu tiêm vào chân của cặp chuột tương ứng bằng các liều khác nhau chất gây ra viêm tấy formalin, kết quả cho thấy: con chuột nào có bạn tình ít trải nghiệm đau đớn thì nó cũng có khuynh hướng giảm độ nhạy với cơn đau (được biểu lộ ra qua thời lượng chuột cào cấu chân).
Nghiên cứu còn phát hiện một con chuột quặn đau trở nên nhạy cảm hơn với acid acetic trong khi nhìn thấy bạn chung lồng trải qua các kích thích đau đớn khác nhau-- nóng nảy.
Những kết quả nghiên cứu gợi ý rằng trải nghiệm của chuột nói chung tăng độ nhạy cảm với đau đớn, và không đơn giản bắt chước những gì chúng nhìn thấy.
Nhằm phát hiện xem chuột sử dụng cách gì để giao tiếp với đồng đội cùng hoàn cảnh bị stress, các nhà nghiên cứu dùng các đồ chướng ngại vật lý mang tính hệ thống hóa khiến cho động vật bị điếc hoặc không thể ngửi được.
Họ phát hiện là chuột có vẻ phụ thuộc chủ yếu vào thị giác để tạo ra đáp ứng thấu cảm-- một ngạc nhiên, bởi lâu nay nguời ta vẫn tưởng chuột tín nhiệm chuyện ngửi, cùng với việc phát sóng siêu âm để trông nom kết quả của chúng.
Theo Mogil, có bằng chứng là loài gặm nhấm/ rodents không sử dụng cảm giác thị giác nhiều như là vị khách cuối cùng của chúng ta; tuy thế, điều đó hầu như là bất khả để phá sập các vòng mạch pheromone, mà chuột quen nhận dạng bạn thân thiết từ chốn đầu tiên; vì vậy, các chất pheromone có thể cũng là thứ đáng lưu tâm đầy ý nghĩa về sự thấu cảm/ a significant meditator of empathy.
Tuy không tham gia trong nghiên cứu, song chuyên gia James Harris của trường đại học John Hopkins cho rằng “thấu cảm là một cơ chế tiến hóa nhằm lưu giữ những sự gắn kết xã hội/ an evolutionary mechanism to maintain social cohesions.
Nếu bạn đang phát triển và ở trong một nhóm, bạn càng nhạy cảm với nỗi đau hơn các thành viên khác trong nhóm.” Còn Frans de Waal thuộc đại học Emory và Trung tâm nghiên cứu Quốc gia Động vật nguyên thủy Yerkes, lại nhìn sự thấu cảm mạnh mẽ giữa các cá thể tương tự việc quay trở lại với thời kỳ đầu tiến hóa của việc chăm sóc mẫu tử ở các loài có vú.
Bất luận gì đi nữa, các phát hiện ở chuột vẫn tiếp tục gây tranh cãi ở điểm mấu chốt: định nghĩa về sự thấu cảm. “Nhiều nhà tâm lý học suy nghĩ từ trên xuống dưới (trên bậc thang tiến hóa), do đó sự thấu cảm tương đương với nhận thức phức tạp đòi hỏi phải nội quan/ Lots of psychologists think top-down, hence equate empathy with complex cognition which requires introspection. Trong cái nhìn này, chuột không có sự thấu cảm,” de Waal lưu ý.
Vào năm 2004, các nhà nghiên cứu Anh quốc sử dụng hình ảnh chụp não để định vị trung tâm thấu cảm ở người. Ở đây, bước tiếp theo sẽ là phát hiện các cơ chế ẩn bên dưới hiện tượng ở chuột, theo Mogil và Harris.
Các nhà nghiên cứu “nên tránh tìm kiếm sự chân thành/ altruism ở loài gặm nhấm vì điều đó quá ngớ ngẩn, nhưng các phát hiện này làm chúng ta mở mắt về khả năng của loài gặm nhấm hàm ý những sự tương tác xã hội/ these findings have opened our eyes [about the] abilities of rodents in terms of social interactions,” Mogil nói.
Theo Jaak Panksepp thuộc trường đại học Tiểu bang Washington thì “nếu minh chứng hiệu quả thấu cảm ở chuột là đáng suy tư bởi cùng cơ chế não như thấu cảm ở người, thì sự kiện thực sự quan trọng là mô hình của chúng phản ánh thực tế tiến hóa không ngừng trong một cơ chế hướng đến xã hội giữa các loài động vật có vú/ their model actually reflects evolutionary continuity in a pro-social mechanism among different mammalian species.”
Rốt ráo ra, các nhà nghiên cứu cho rằng, nếu định nghĩa thấu cảm tương xứng với bất kỳ đổi thay nào trong hành vi nhằm đáp ứng các cảm giác lĩnh hội được từ động vật khác, thì vâng, chuột thể hiện sự thấu cảm.
Mô hình thể hiện sự thấu cảm này hơi giống như là biểu diễn lại cảm giác/ sensory replay khi bạn thấy ai đó cảm nhận điều gì và rồi chính bạn cũng cảm nhận về nó, như đã chỉ ra trong việc thay đổi nhạy cảm về đau đớn.
Mặt khác, nếu xác định thấu cảm như là khả năng thu gọn, trừu tượng quan điểm cá thể khác từ dữ liệu cảm giác về chúng, thì điều này không minh chứng có sự thấu cảm ở chuột. Rõ ràng là chuột không thiết lập nổi mức độ trừu tượng này. Chuột không thể, chẳng hạn, cảm nhận thấu hiểu về một con chuột khác từ câu chuyện nó nghe được.
Có vẻ, đôi khi trong khoa học thần kinh, những tranh luận tụt xuống góc độ ngữ nghĩa học/ semantics. Các con khỉ có kỹ thuật/ techonology không? Wow, chúng có thể sử dụng cái que để bắt một con mối mà, điều đó đáng giá đấy chứ? Câu trả lời là có và không, tùy thuộc vào cách ta định nghĩa kỹ thuật.
Vấn đề ở chỗ, bất luận kéo chuyện kỹ thuật tới điểm đầu hay cuối dòng thì mức độ phức hợp ở người mang ý nghĩa sâu sắc, to lớn hơn các loài động vật nguyên thủy, chưa phát triển đến bậc cao nhất. Dù cảm thấy được an ủi, thoải mái về nguồn gốc tiến hóa của bản năng kỹ thuật, thì Homo sapiens vẫn là biểu tượng tiến bộ sáng tỏ.
Điều này cũng tương tự như chuyện chuột và sự thấu cảm. Nếu muốn gọi sự thấu cảm-- theo cách thức chưa phát triển đủ đầy/ in a rudimentary way-- trong chuyện chuột biểu diễn lại cảm giác trước đau đớn của con chuột khác như là sự gắn kết xã hội thì OK, thật hay. Song, điều đó không phủ nhận được sự kiện rằng thấu cảm của người đòi hỏi năng lực trừu tượng và nhận thức phức tạp.
Lời cuối, theo ý kiến của nhà nghiên cứu khoa học Jonathan Balcome, khi chúng ta biết nhiều hơn về đời sống cảm xúc và tinh thần phức tạp của loài chuột (nhắt và cống/ mice & rats) thì theo suy lý logic, cần lượng giá lại mức độ thấu cảm chúng ta dành cho các loại động vật này; vì chúng ta đã khiến chúng phải chịu đựng đớn đau, căng thẳng và làm chúng tử vong trong quy trình thực hiện ở phòng thí nghiệm.
Phân loại: Nghiên cứu, Suy tư, Thấu cảm
