Tiêu đề trên sử dụng lại nguyên xi tên bài báo mô tả ý tưởng rằng, bộ não dùng tới nhiều trò láu cá cho trường hợp đặc biệt là xây dựng một mô hình dòng thác tuôn về thế giới.
Bởi vì, bộ não cần ít nhất 1/10 giây để mô hình hóa thông tin thị giác, nó luôn luôn đưa dẫn thành thông tin cũ.
Lập luận gây tranh cãi nằm ở chỗ, bộ não không ngừng tiến hóa nhằm thỏa mãn vấn đề vừa nêu nhờ sự phóng chiếu hoặc phỏng đoán mất cỡ chừng 1 giây hướng về tương lai khi nó tri nhận sự chuyển động.
Thông qua việc mô hình hóa tương lai trong suốt tiến trình này, nó như "đang chứng kiến" hiện tại.
Hai ảo giác dẫn ra bên dưới minh họa điều ấy: 
Lần mò học hỏi theo hình ảnh khiến có cảm giác nó dường như đang phồng lên.
Các dòng rẻ quạt đánh lừa bộ não tri nhận sự chuyển động về phía trước, vậy nên trung tâm có vẻ phồng lên.
Phân loại: Ảo giác, Não-Thần kinh, Nghiên cứu, Tâm lý học Phát triển
Đấy là một quảng cáo điện thoại di động, song điều khiến tôi ấn tượng chính ở cách nó đã đánh lừa con mắt và nhất thời lưu giữ tâm trí ta ít nhiều.
Hy vọng, xem nó sẽ khiến bạn đỡ cảm thấy choáng đầu vì một ngày nắng nóng như hôm nay.

Nghiên cứu chứng thực rằng, ảo thuật xảy ra chẳng phải ở vị trí đôi mắt ta nhìn mà nằm chính tại nơi tâm trí ta tập trung chú ý tới mới quyết định việc người xem biết được trò phù phép, biến hóa ấy hoàn thành như thế nào hay không mà thôi.
Theo đó, cái nhìn chòng chọc của khán giả chưa thiết yếu bằng cái chỗ họ đang chú tâm vào; bởi thực tế, hai điều này không buộc phải là một.
Thường thì đa phần chúng ta chú ý điểm mình nhắm đến, song không cần lúc nào cũng vậy.
Chẳng hạn, nếu muốn, chúng ta có thể nhìn chằm chằm thẳng băng về phía trước trong khi bản thân lại hướng sự chú ý sang bên cạnh.
Gustav Kuhn và cộng sự đã cho sinh viên xem một băng hình ảo thuật ngắn có màn trình diễn làm biến mất điếu thuốc lá và bật quẹt lửa.
Điếu thuốc lá "tiêu tùng" đâu đó khi nhà ảo thuật thả rơi nó trong lòng bàn tay, trong lúc chính ảo thuật gia định hướng sự chú ý của khán giả vào bàn tay kia.
Đáng ngạc nhiên, báo cáo ghi nhận chuyển động mắt của sinh viên cho thấy, dù có phát hiện điếu thuốc lá rơi hay không (và do đó, biết phương thức tiến hành sự phù phép) cũng chẳng ảnh hưởng tới vị trí định vị của mắt ngay lúc nó rơi.
Việc chớp nháy mắt hay những chuyển động của mắt suốt thời gian điếu thuốc lá rơi cũng không tương thích.
Đúng hơn, định vị điểm nhìn của sinh viên sau khi điếu thuốc lá rơi liên quan với việc họ có thấy nó rơi hay không.
Đặc biệt, những sinh viên nào, sau khi điếu thuốc lá rơi, chuyển động mắt thật nhanh hướng tới bàn tay cầm điếu thuốc lá (bây giờ trống không) thì càng báo cáo mình dễ thấy điếu thuốc lá rơi hơn.
Lý giải khác: những sinh viên nào, sau khi điếu thuốc lá rơi, liếc nhanh hơn vào bàn tay có điếu thuốc lá đã kịp chuyển điểm thu hút sự chú ý (chưa phải đôi mắt nhìn của họ) thì sẽ thấy đúng lúc điếu thuốc lá rơi.
Điều này gắn liền với nghiên cứu trước đây phát hiện sự chuyển động mắt hướng tới một vị trí xác định vốn do một sự chuyển đổi chú ý đã đến trước cùng một địa điểm rồi.
Nghĩa là, để làm trò biến hóa phù phép, nhà ảo thuật xem chừng cần đánh lạc hướng điểm giấu giếm thu hút sự chú ý của khán giả chứ không nhất thiết xử lý vị trí mắt nhìn công khai của khán giả.
Còn chuyện nhiều sinh viên nhận ra điếu thuốc lá rơi thực chất đã chuyển mắt nhìn từ khuôn mặt sang bàn tay của nhà ảo thuật.
Họ vẫn tiếp tục nhìn, sau khi điếu thuốc lá rơi, hướng tới bàn tay có điếu thuốc lá nhanh hơn những sinh viên không thấy nó rơi, song thọat tiên là họ nhìn vào khuôn mặt của ảo thuật gia.
Tuy thế, sự kiện này vẫn nhất quán với lý giải nêu trên, khẳng định cùng với nghiên cứu từng tiến hành rằng, điểm thu hút sự chú ý có thể gồm hai hoặc ba vị trí đã xác định trước khi ta di chuyển mắt.
Xin nói thêm, khi người ta trải qua trạng thái thôi miên mắt mở to tỉnh thức, họ có thể nhìn mà không thấy vì sự chú ý của họ xem ra đã chiếu rọi sâu thẳm xuyên vào nội tâm mình, cảm nhận và nghe thấy các thực tại đầy hình ảnh tưởng tượng.
Khi người ta lo lắng cũng xuất hiện điều tương tự, không phải đang "ở đây" mà xa đến mức họ đặt để sự quan tâm, chú ý của bản thân.
Đối tượng lo lắng kinh niên, mãi không thôi có thể nhận ra cảm giác khuây khỏa, dịu bớt căng thẳng vào lúc một tình huống khẩn cấp xảy đến, bởi vì tình huống ấy khiến họ chú tâm ngay lập tức vào thực tại giúp tạo nên cảm giác sống động trở lại.
Lời cuối, lần tới nếu bạn muốn phát hiện mẹo mực lấp liếm thì cần phải thật lưu tâm chú ý cách thức nhà ảo thuật định hướng tâm trí chứ không phải mắt nhìn của bạn đâu nhé!
Phân loại: Ảo giác, Não-Thần kinh, Rối nhiễu, Tâm lý sáng tạo, Truyền thông

Một câu chuyện thương tâm.
Thật khốn khổ khi phải nhập viện điều trị tập trung (ICU); vì thế, các bác sĩ từ tâm luôn cố sức giúp cho trẻ khỏi trải nghiệm ấn tượng nặng nề đó.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, dù ý định là thiện lành, song thực sự việc dùng thuốc an thần có khả năng tạo ra nguy cơ lớn hơn của hội chứng rối loạn stress sau sang chấn (PTSD).
Tiến sĩ Colville đã tiến hành thăm khám 102 trẻ sau hai tháng nằm ở phòng ICU.
Đáng kinh ngạc, nhận thấy 32 cháu có các ký ức hoang tưởng kết hợp với một số ảo giác ghê rợn.
Số trẻ này ghi nhớ một cách lệch lạc lắm cơn sợ kinh hoàng-- kiểu như mấy con bọ cạp bò lổn nhổn trên da--, còn hơn cả số mũi kim tiêm và các cô y tá, điều dưỡng nghiêm nghị.
Hậu quả, khiến chúng dễ tiến triển hội chứng PTSD; thậm chí ngay cả khi nhóm nghiên cứu khống chế những tổn thương trầm trọng.
64 cháu biểu lộ khả năng nhớ chính xác, đúng thực tế các chi tiết, song các ký ức này-- thường hay bị bóp méo-- lại không làm nảy sinh nguy cơ PTSD.
Dường như, vấn đề mà các bậc cha mẹ và bác sĩ nên tập trung chính là những ký ức hoang tưởng.
Tiến sĩ Colville xác định rõ rằng, mối tương quan ý nghĩa nhất về các ký ức hoang tưởng xảy đến trong khoảng thời gian trẻ sử dụng thuốc an thần và giảm đau; thấy tỷ lệ các hoang tưởng lập tức tăng vọt sau 2 ngày liền dùng biệt dược giảm đau.
Tâm trí người trưởng thành trải nghiệm đủ đầy tổn thương do sang chấn; nghiên cứu của tiến sĩ Colville chứng tỏ họ còn có thể gặp nhiều nguy cơ bị PTSD từ các loại thuốc tạo nên những hoang tưởng ám ảnh.
Người lớn cũng dễ bị ảo giác khi dùng thuốc an thần, song họ thừa khôn ngoan để chẳng thèm chú ý tới các ký ức khó tin đó.
Đặc biệt, với đối tượng trẻ em thì hoặc chỉ cho chúng dùng ít thuốc an thần thôi, hoặc cần sàng lọc các ký ức hoang tưởng nhằm giúp cho trẻ không phải chịu đựng âm thầm những hình ảnh khủng khiếp.
Phân loại: Ảo giác, Hoang tưởng, Loạn thần, PTSD, Tâm bệnh học, Thuốc men, Trẻ em

Bạn gắng nhìn kỹ bức tranh và thử lý giải vì sao sự ảo giác này được gọi tên là "Chúa tể sơn lâm giấu mặt".
Cuối tuần vui vẻ!
Xem chừng sáng tinh mơ là thời điểm tinh thần sảng khoái, khá phù hợp để giới thiệu tí chút về Tâm bệnh học.
Hội chứng Alice lạc vào xứ thần tiên (Alice in Wonderland syndrome) liên quan tới việc "hình ảnh cơ thể" hoặc "sơ đồ cơ thể" bị bóp méo, khiến cho đối tượng cảm thấy một số phần hay toàn bộ cơ thể mình chợt thay đổi hình dạng, kích thước (Macrosomatognosia: bé nhỏ lại/ phì nộn ghê gớm).
Trung tuần tháng trước, trên tờ The Guardian có đăng tải kinh nghiệm cá nhân của một nhà báo về hội chứng này.
Dù không phải lúc nào hội chứng AIWS vừa nêu cũng bao gồm những ảo thị trực tiếp, song nó lại có thể làm thế giới xung quanh ta biến thái quá cỡ, hay tạo cơn say.
Người đầu tiên mô tả hội chứng AIWS là nhà tâm thần học John Todd, vào năm 1955 trong một bài báo đăng trên tạp chí lâm sàng thần kinh học, phản ánh hiện tượng gắn bó với bệnh động kinh và đau nửa đầu (migraine).
Các cuộc phiêu lưu của Alice ở xứ thần tiên là câu chuyện cổ tích kinh điển cuả phương Tây và không phải quá xa lạ với trẻ em Việt Nam; nó đã được dựng thành film.
Phân loại: Ảo giác, Động kinh, Film, Sức khỏe tâm thần, Tâm bệnh học, Tâm lý học Phát triển, Tâm lý trị liệu, Trẻ em

Tâm thần phân liệt (TTPL) là dạng loạn thần phổ biến nhất, đồng thời mức độ tàn phá của nó cũng khủng khiếp nhất; tiếc thay, việc phơi bày bệnh cảnh TTPL vẫn còn chậm chạp.
Hầu như suốt thế kỷ XX, TTPL được nhìn nhận như dạng rối loạn đột ngột tấn công mà chẳng hề cảnh báo trước, làm cho những vị thành niên bình thường tự dưng chuyển biến trọn vẹn sang bạo lực với trạng thái tâm thần không thể chữa chạy nổi.
Gần đây hơn, nhiều chương trình đã chứng thực rằng, người mắc TTPL có thể được xem là an toàn trong quá trình tái hòa nhập cộng đồng.
Nghiên cứu cũng chỉ ra khả năng đoán định các cơn loạn thần đảm bảo đủ thời gian chuẩn bị và thậm chí, dự phòng nữa.
Viện Sức khỏe Tâm thần Quốc gia Hoa Kỳ (NIMH) công bố một số tiến bộ đầy ý nghĩa hướng tới công tác dự đoán và điều trị.
Thông qua việc quan sát trẻ em có nguy cơ cao mắc TTPL do tiền sử gia đình, các nhà Tâm thần học lưu ý: thường tồn tại giai đoạn tiền triệu (prodromal phase) khoảng chừng 1 năm hoặc hơn trước khi chẩn đoán xác định, mà lúc đó đối tượng biểu hiện hàng loạt vấn đề ảnh hưởng rất nguy hại đến đời sống mặc dù chưa loạn thần hoàn toàn.
Tỷ dụ, những người mang suy nghĩ là ai đó đang theo dõi mình sẽ không bị rơi vào trạng thái hoảng loạn, nếu họ được thoải mái trình bày bằng chứng liên quan đến nghi ngờ dễ gây tranh cãi này. Dĩ nhiên, cần xem như một dấu hiệu cảnh báo với những nghi hoặc tương tự vừa nêu.
Hoang tưởng (paranoia) chỉ là một trong nhiều dấu hiệu cảnh báo mà các nhà nghiên cứu của NIMH dùng để lượng giá TTPL như tiêu chí dự đoán dương tính đảm bảo độ tin cậy nhất (PPP).
Các đồ hình lượng giá mới về TTPL tập trung vào 3 nguy cơ chính yếu: các hoang tưởng hoặc niềm tin kỳ cục; yếu tố di truyền đi kèm với chuyện gần đây có biểu hiện suy giảm chức năng; và sự trục trặc kỹ năng xã hội.
Việc từng sử dụng ma túy cũng được xem là một biến số độc lập mang tính nguy cơ đáng kể. Các kết quả theo lối lượng giá thật ấn tượng này được trình bày tại đây.
Một trong các trắc nghiệm thường hay sử dụng rộng rãi, test Phỏng vấn sâu về các hội chứng tiền triệu (SIPS) có khả năng đạt yêu cầu PPP chỉ vào khoảng 35%, song với lượng giá mới tinh còn chưa được gọi tên bên trên thì tiêu chí PPP đạt tới 74%- 81%.
Chẳng hạn, giới chuyên môn thiết kế test nhằm đánh giá xu hướng rút tỉa các thông điệp từ những tiếng ồn vô nghĩa (ảo giác) như một dấu hiệu tiền triệu của TTPL.
Với hai thành tựu vừa giới thiệu, tuyên bố của NIMH cho thấy giới khoa học đang nỗ lực cải thiện các phương pháp chăm sóc người mắc TTPL, vì vậy gia đình của các đối tượng này hy vọng sẽ có nhiều lựa chọn tốt từ đó.
Phân loại: Ảo giác, Loạn thần, Tâm bệnh học, Tâm lý học Lâm sàng, Tâm thần phân liệt, Test, Trẻ em
Vui kinh!
Tàn đêm Halloween rồi; ai đủ thời gian và kiên tâm thì tìm hiểu thêm ngoài lề: hai nhà Vật lý học chứng tỏ ma cà rồng không hề tồn tại.
Dễ chừng 15 hay 16 năm trước gì đó, mang máng đọc sách lý luận bàn về bi kịch Hy Lạp cổ đại thấy có ý-- của Karl Marx thì phải-- từng phát biểu dường như rằng, xã hội thường tống tiễn một giai đoạn lạc hậu và chào đón thời mới bằng tiếng cười.
Tin nóng, thảm khốc!
Hầu như tất cả các phương tiện truyền thông đại chúng hàng đầu tại Việt Nam đều đồng loạt đưa tin về sự cố kinh hoàng vừa mới xảy ra sáng hôm qua tại công trường xây dựng cầu Cần Thơ trên sông Hậu Giang.
Thiệt hại nhân lực và tài sản rõ ràng là hết sức nặng nề. Cá nhân tôi xin chân thành chia buồn cùng những số phận bất hạnh, người thân trong gia đình và toàn thể những ai quen biết hoặc chưa hề gặp gỡ họ.
Trước mắt, đã nghe và thấy lắm câu chuyện đau lòng với hậu quả chắc chắn để lại nhiều sang chấn tinh thần, góp phần hình thành hội chứng rối loạn stress sau sang chấn (PTSD).
Xin nhắc lại rằng, PTSD có thể xảy ra với ai đó trải nghiệm một sang chấn vượt quá sức kiểm soát, chịu đựng của họ; hội chứng này được chẩn đoán khi các ký ức về sự kiện ăn sâu vào cuộc sống thường ngày, người trong cuộc thấy có nhu cầu lẩn tránh bất kỳ thứ gì gợi nhắc họ về tình huống khủng khiếp ấy, và họ cảm nhận nỗi sợ hãi cao độ, ngỡ mình đang ở bên bờ vực thẳm.Chị Nguyễn Thị Tâm, vợ công nhân Nguyễn Văn Sáu đứng ở đây từ sáng để chờ tin chồng. Tim như thắt lại khi nghe thấy những âm thanh vọng lên từ lòng đất, chị nức nở: "Cầu mong anh ấy còn sống. Nếu anh ấy sống được, vợ chồng có cơm ăn cơm, có cháo ăn cháo, chứ tôi nhất định không để anh làm công việc này nữa". Cách đây 2 tháng, chị Tâm đã ngăn chồng làm thợ xây cầu này khi biết có một công nhân đã chết vì bị sắt đè ngày khởi công.
Anh Phạm Quốc Toàn, một công nhân tham gia xây cầu cũng phờ phạc chờ tin đồng nghiệp cả ngày nay. Anh cho biết, đã chứng kiến từ đầu vụ tai nạn, thấy nhiều nạn nhân được đưa ra, không ít người bị sắt, thép đâm qua mặt, ngang thân, dọc lưng...
"Những người còn sống đều hoảng loạn, hỏi gì cũng không nói. Thấy đồng nghiệp bị nạn và người thân của họ, tôi xót lắm mà không biết làm sao", anh Toàn nghẹn ngào nói.
Theo ông Nguyễn Quốc Vũ, người trực tiếp chỉ đạo đội cấp cứu tại hiện trường vụ sập cầu Cần Thơ, hầu hết nạn nhân bị đa chấn thương, không xuất huyết ngoài do hội chứng vùi lấp. Nạn nhân đều là nam giới tuổi khoảng 40 trở lại.
Tuy nhiên, có một sự thật khác rất ít được quảng đại quần chúng biết đến hơn: mắc PTSD sau khi trải qua một sang chấn tâm lý chưa từng xảy ra; đặc biệt lưu ý, phản ứng xúc cảm của họ thì thực tế song những sự kiện là hoang tưởng, ảo giác!
Bốn trường hợp điển hình trong nghiên cứu vừa nêu đều thuộc diện vào khoa cấp cứu vì những tổn thương y khoa trầm trọng, tuy trạng thái này không phải là nguyên nhân trực tiếp gây nên sang chấn.
Tại phòng cấp cứu, các bệnh nhân trở nên mê sảng (delirium): một trạng thái mù mờ ý thức, tư duy giảm sút, thường xuất hiện các dấu hiệu hoang tưởng và ảo giác.
Trong những ca như thế, chính các hoang tưởng và ảo giác khiến bệnh nhân tin là mình đã chết thật gớm ghiếc, bị đe doạ, hay phải trải qua những sự kiện ghê rợn.
Cả căn bệnh y học và các loại thuốc giảm đau chứa yếu tố kích hoạt tâm thần có thể khiến bệnh nhân suy nghĩ nhiễu loạn mà lên cơn mê sảng; đến lượt nó, trạng thái mê sảng tác động tới cách thức người ta ghi nhớ tái phát này.
Thực tế, nghiên cứu đã phát hiện rằng, một số bệnh nhân không có bất cứ hồi tưởng thực sự nào về sự chăm nom cấp cứu; họ chỉ nhớ khoảng thời gian theo hoang tưởng của chính mình. Nhóm này cực kỳ dễ bị sang chấn.
Cũng cần biết thêm, người ta đôi khi khốn khổ, khó khăn khi nói về những trải nghiệm tương tự, song chuyện như thế thì bình thường thôi. Ước tính chừng 12,5% đến 38% bệnh nhân vào phòng cấp cứu từng có những biểu hiện hoang tưởng và ảo giác.
Blog Cái tôi sẽ tiếp tục suy ngẫm và theo dõi tin tức cập nhật xung quanh sự cố đáng tiếc gây chết người tại công trình xây dựng cầu Cần Thơ, để cung cấp cho bạn đọc một cái nhìn nhân văn từ góc độ tâm lý học.
Phân loại: Ảo giác, Hoang tưởng, Loạn thần, Nghiên cứu, PTSD, Tâm bệnh học, Tâm lý trị liệu, Thời sự
Bệnh nhân mắc động kinh thái dương (temporal lobe epilepsy) khi gặp cơn (seizure) thi thoảng trải qua những ảo giác (hallucination) bất thường.
Một nhóm các nhà khoa học Pháp vừa tiến hành xem xét lại những hiện tượng kỳ lạ này, mà vào thế kỷ XIX, nhà thần kinh học huyền thoại người Anh John Huglings Jackson từng định danh là "trạng thái mơ màng" (dreamy states).
180 bệnh nhân động kinh được đề nghị kích thích não và ghi lại, nhằm gắng thiết lập nguồn gốc các cơn. Kết quả, có 17 bệnh nhân báo cáo tổng cộng 55 trải nghiệm trạng thái mơ màng; một số là do cơn, một số vì não bị kích thích.
Trải nghiệm thường gặp ở những người có trạng thái mơ màng là déjà vecu (giống như déjà vu song liên quan đến tất cả mọi giác quan). Như một bệnh nhân giải thích:
Nó giống như thể trong cơn, tôi đang hồi tưởng lại điều gì đấy... nhưng tôi có thể thấy bạn một cách rõ ràng. Như thể những gì đang xảy ra bây giờ đã từng xảy ra đối với tôi, như thể một ký ức cũ càng tôi đang sống ngoài tuổi trung niên.Tuy vậy, ở những thời điểm khác, cảm giác càng giống với một ảo thị:
Tôi thấy chính mình đang đánh trống, mọi người trong gia đình thì lắng nghe, một bệnh nhân khác nói.Nhiều ảo giác tương tự luôn dính dáng tới một số các hồi ức riêng tư trong một quá khứ xa xăm hoặc mới xảy ra gần đây, mà không bao giờ là các sự kiện công cộng hoặc lịch sử.
Điều này gắn kết với phát hiện rằng, các trạng thái mơ màng được đánh thức khi đang trong cơn, hoặc do kích thích thuỳ giữa thái dương (mesial temporal lobe)-- nơi đặt để các ký ức tự truyện.
Thật thế, một nghiên cứu từng giới thiệu về hiện tượng ảo giác bóng người.
Theo đó, một bệnh nhân 22 tuổi mắc động kinh, với các vấn đề tâm thần chưa rõ nguyên nhân, đã mô tả cảm giác kỳ quặc là một bóng người cứ bắt chước hành động của cô ấy; trong khi thực sự không có ai ở đấy cả.
Cô này có trải nghiệm trên, trước lúc phẫu thuật, do các nhà nghiên cứu Thụy Sĩ kích thích điện thuỳ thái dương- đỉnh (temporoperietal) bên trái-- vùng não được cho là có liên quan tới sự tích hợp đa cảm giác và giúp phân biệt bản thân với người khác.
Khi bệnh nhân ngả lưng và cuộc thử nghiệm được tiến hành, cô này cảm thấy có một bóng hình nằm cạnh mình. "Anh ta nằm cạnh tôi, hầu như là sát kín cơ thể tôi, song tôi không cảm thấy điều đó."
Khi bệnh nhân ngồi thẳng và ôm lấy đầu gối, cô mô tả cảm giác không thoải mái rằng, cái bóng người giờ cũng ngồi cùng và siết chặt tay cô.
Lúc làm bài tập ngôn ngữ, được đề nghị đọc các từ trong một tấm card, nữ bệnh nhân bảo: "Anh ta muốn nắm lấy tấm card; anh ta không muốn tôi đọc."
Qua hiện tượng không nhận ra hình người là ảo giác về chính cơ thể của nữ bệnh nhân, các nhà nghiên cứu cho rằng, kết luận của họ có thể giúp hiểu được cơ chế ẩn dưới trải nghiệm hoang tưởng paranoid và bị người lạ điều khiển.
Đáng chú ý, sự hoạt động quá mức của thùy thái dương- đỉnh của bệnh nhân mắc tâm thần phân liệt có thể dẫn tới việc quy chiếu sai lệch hành động của chính bản thân họ cho người khác.Bản thân tôi, khi đọc các nghiên cứu trên, lại hình dung ra ngay khuôn mặt đờ đẫn và trạng thái bàng hoàng, ngơ ngác của chị chủ nhà tôi đang ở trọ mỗi khi tôi chợt thoáng trông thấy chị ấy trong cơn động kinh.
Hèn chi, chính chị ấy kể đi kể lại cho tôi nghe nhiều kỷ niệm hồi anh chị mới yêu nhau; thế nhưng, mỗi khi tôi đùa nhắc lại nó, chị ấy lại một mực bảo ai nói mà biết, hay là anh ấy đã tâm sự cho chú nghe hết...
Bạn có thể tham khảo sâu hơn ở đây, nếu quan tâm đến hiện tượng hoang tưởng và bị người lạ điều khiển.
Phân loại: Ảo giác, Động kinh, Hoang tưởng, Nghiên cứu, Tâm bệnh học, Tâm thần phân liệt
Mới ngày kia, blog Cái Tôi vừa post bài "Có những ý nghĩ hoang tưởng hoặc nghe giọng nói trong đầu-- đừng lo quá, thường thôi!?"
Hôm nay, thêm tin vui cho những người nghe giọng nói trong đầu, một trong những dấu hiệu dương tính của Tâm thần phân liệt (Schizophrenia), khiến cho họ chịu đựng không ít khổ sở, cực hình.
Các nhà trị liệu hành vi nhận thức (CBT: Cognitive Behavioural Therapy) hầu như đã có thể giúp họ giảm thiểu nỗi muộn phiền, đau đớn này bằng cách hạn chế sự thiếu hụt nhận thức (cognitive deficit)-- vốn được nhiều chuyên gia xem là nguyên nhân hàng đầu làm người ta nghe thấy những tiếng nói trong đầu.
Cần lưu ý rằng, theo một lý thuyết thì lý do người mắc TTPL nghe các giọng nói là bởi họ gặp một số trục trặc với những ý nghĩ bên trong bản thân, hoặc với các từ họ dự định sẽ nói-- mà nguồn cơn xuất phát từ bên ngoài.
Jerome Favrod và cs. tại Thuỵ Sĩ tiến hành trị liệu theo cách tiếp cận hành vi- nhận thức cho một đối tượng mắc chứng nghe giọng nói trong đầu 38 tuổi-- người tin tưởng mình thuộc hạng xấu xa, tồi tệ.
Nhóm nghiên cứu muốn giúp đối tượng nhận thức đúng đắn hơn nguồn gốc của những từ ngữ mà anh ta nghe thấy.
Trong quá trình hướng dẫn trị liệu, nhóm nghiên cứu chọn một loại tập hợp, như "trái cây".
Họ đưa cho đối tượng xem bức tranh trái cây, đọc lớn tiếng tên một trái cây, rồi bày cho đối tượng viết tên của trái cây khác, và cuối cùng thì yêu cầu anh ta cho biết tên của trái cây.
Sau đó, họ đưa cho đối tượng danh sách tất cả các trái cây đã kể ra, hỏi anh ta tên một trái cây nào đó-- đã được chỉ trong tranh, qua việc viết hoặc đọc to tên của nó.
Các nhà nghiên cứu còn dạy cho đối tượng nhớ tốt hơn các điều mục, sự vụ gợi lên trong ký ức cá nhân; ví dụ, nếu anh ta đề xuất "quả táo" thì họ sẽ giúp anh ta liên kết điều này với một cây táo trong vườn bà nội anh ta.
Điều quan trọng nhất, những ảo thanh (auditory hallucinations) của đối tượng cũng giảm thiểu đáng kể và tiếp tục được cải thiện ở cuộc điều tra năm sau.
Rõ ràng, dù đây chỉ là một trường hợp nghiên cứu đơn lẻ, kết quả thu được càng góp phần khuyến khích giới chuyên môn sử dụng phương pháp trị liệu nhận thức cho người mắc chứng ảo thanh.
Nhân tiện, như đã biết, nghe thấy giọng nói là dạng thức thường gặp nhất của ảo giác-- nghe, nhìn, cảm giác và ngửi thấy điều gì đó không có trong thực tế hay hiện tại-- đặc trưng bởi việc bình luận về cá nhân hoặc đàm đạo với người khác.
Phân loại: Ảo giác, Nghiên cứu, Tâm bệnh học, Tâm thần phân liệt
Mới thoạt nghe đến "hoang tưởng", "ảo giác" hầu như ai ai cũng giật mình, ngại ngần cảnh giác, hãi hùng muốn tránh xa.
Quả đúng là, theo truyền thống lâm sàng Tâm thần học lâu nay, paranoid xuất hiện trong DSM-IV (Sổ tay chẩn đoán và thống kê các rối loạn tâm thần, phiên bản IV) đi kèm với các tên gọi: Schizophrenia, type paranoid (PS: Tâm thần phân liệt thể paranoid) và Paranoid personality disorder (PPD: Rối loạn nhân cách paranoid), cũng như điều kiện nằm giữa hai loại trên, bao gồm các hoang tưởng loạn thần (psychotic delusions) không có Tâm thần phân liệt là Delusional disorder (DD: rối loạn hoang tưởng).
Tuy thế, tựa như một số thuật ngữ Tâm bệnh học (Psychopathology) tương tự, với paranoid/ paranoia (chứng, dạng hoang tưởng) người ta không nên cho rằng thuật ngữ này khi được sử dụng trong nghiên cứu tài liệu và truyền thông giữa các nhà chuyên môn sức khoẻ tâm thần thì cũng rất gần với DSM-IV, do vậy phải loại trừ việc thêm vào cho nó những ý nghĩa dân gian vốn có trong đời sống hàng ngày.
Tình hình có vẻ không giống trước nữa, vì điều thú vị mới được một nghiên cứu phát hiện mới đây:
Trong cộng đồng dân cư, các ý nghĩ hoang tưởng xuất hiện cao hơn người ta vẫn nghĩ, và hoang tưởng có lẽ cũng cần được xem là tương đối bình thường như việc mắc trầm cảm (depression) hoặc chứng lo hãi (anxiety).
Nghiên cứu của các nhà Tâm lý học Lâm sàng ở Viện Tâm thần thuộc Đại học Hoàng gia London (King's College London) cho thấy: 1/3 dân số nước Anh thường phải trải qua các hoang tưởng và nỗi sợ hãi đáng ngờ (suspicious fears).
Ý nghĩ hoang tưởng là sự ngờ vực ai đó có ý định hãm hại ta. Tìm hiểu 1200 người, các nhà nghiên cứu Anh quốc phát hiện thấy:- Hơn 40% thường phiền muộn rằng những bình phẩm tiêu cực là dành cho họ.
- 27% cho là người khác cố ý trêu tức họ.
- 20% lo lắng về chuyện bị quan sát hoặc theo dõi.
- 10% nghĩ nhiều người chịu đựng giống như họ.
- 5% lo lắng rằng có một âm mưu làm hại họ.
Nghiên cứu trên nêu bật mức độ lan rộng của hoang tưởng trong cộng đồng dân cư Anh quốc, và nguyên nhân có thể là do lo âu, căng thẳng (distress) trong đời sống hiện đại.
Cũng liên quan đến chủ đề hoang tưởng, các nhà tâm lý học Anh quốc vừa mới tiến hành một cuộc nghiên cứu để tìm hiểu tại sao với một số người thì việc nghe giọng nói trong đầu là trải nghiệm thú vị, trong khi những người khác lại thấy đau buồn.
Điều tra của Đại học Manchester triển khai một nghiên cứu của Hà Lan phát hiện ra rằng, rất nhiều người khoẻ mạnh trong cộng đồng dân cư thường nghe các giọng nói trong đầu họ.
Mặc dù việc nghe giọng nói trong đầu vốn vẫn được xem là biểu hiện bất thường và là một triệu chứng của bệnh tâm thần, những phát hiện của giới chuyên gia Hà Lan khẳng định rằng, hiện tượng này thực sự lan rộng hơn so với những gì tưởng nghĩ lâu nay, với ước tính khoảng 4% dân số.
Nhà nghiên cứu Aylish Campell của Đại học Manchester-Anh quốc cho hay là họ biết là có nhiều thành viên trong cộng đồng dân cư nói chung nghe thấy các giọng nói, nhưng những người này chưa từng cảm thấy cần phải nhờ đến các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ tâm thần.
Thực tế, nhiều người mắc hiện tượng này mô tả việc nghe thấy các giọng nói trong đầu như là một tác động tích cực đối với cuộc sống của họ, làm cho họ cảm thấy dễ chịu hoặc tạo cảm hứng cho họ khi bắt tay làm các công việc hàng ngày.
Dấu hiệu paranosis (cái lời do bệnh) nhờ mắc các chứng ảo thanh (auditory halluciantions)?
Vậy đấy, nếu tin theo các nghiên cứu trên, thì lỡ trong đầu ai đó có xuất hiện những ý nghĩ hoang tưởng và nghe thấy giọng nói cũng xin đừng hoang mang, lo lắng quá.
Bạn chẳng hề cô độc, nếu không muốn xuê xoa qua quýt rằng: "thường thôi!?"
Phân loại: Ảo giác, Hoang tưởng, Tâm bệnh học