
Đây có thể là lần đầu giới nghiên cứu Tâm lý học báo cáo về một trường hợp hy hữu tự chịu trách nhiệm về tai họa khủng khiếp diễn ra vào năm 2001 tại Hoa Kỳ.
Hai tác giả Mary Robertson & Andrea Cavanna giới thiệu về cậu bé 10 tuổi mắc hội chứng Tourette kèm các triệu chứng ám ảnh cưỡng bức; người tin tưởng rằng, cuộc khủng bố ngày 9.11 xảy đến là do cậu đã không hoàn tất một trong các nghi thức mình vẫn tiến hành hàng ngày.
Tuy được mô tả là "cực kỳ dễ thương và đáng yêu" cộng với kết quả học tập tốt ở trường, song cậu bé này từng được đưa đến gặp chuyên gia tham vấn tâm lý trước khi sự kiện 9.11 xảy ra.
Và với tính cách của một người mắc hội chứng Tourette, cậu bé thể hiện nhiều dạng thức của chứng máy giật không kiểm soát nổi, gồm cả tật nháy mắt liên tục và phát âm khó khăn, đồng thời có vấn đề về chú ý và khuynh hướng ám ảnh.
Theo tác giả Robertson, trong lần gặp tiếp theo 2 tuần sau sự kiện 9.11, cậu bé rơi vào trạng thái tồi tệ, "cực hình" bởi tật máy giật và bị tội lỗi hành hạ do cậu suy nghĩ rằng, sự kiện 9.11 diễn ra vì cậu đã không đi bộ dọc theo vạch màu trắng riêng biệt trên đường.
Đấy là một trong các nghi thức mà cậu thường tiến hành suốt năm; một số thuộc nghi thức khác gọi là "sờ chạm nguy hiểm" như nhu cầu cảm nhận độ sắc bén của các lưỡi dao, và đặt tay mình gần với làn hơi tỏa ra từ ấm nước đang đun để kiểm tra độ nóng của nó.
Điều quan trọng đáng chú ý, hai nhà nghiên cứu trên khẳng định, niềm tin của cậu bé về sự kiện 9.11 khác biệt hoàn toàn so với các trải nghiệm hoang tưởng ở người mắc loạn thần; thay vào đó, là nỗi sợ hãi có dạng thức cực đoan của người mắc rối loạn ám ảnh cưỡng bức vốn thể hiện khi họ không hoàn tất các nghi thức tự mình đặt để.
Thật may mắn, cậu bé được điều trị bằng thuốc và làm cho an tâm (tính cả sự giải thích rằng việc quên thực hiện nghi thức xảy ra sau 9.11, cũng như giúp cậu bé biết múi giờ khác nhau giữa Hoa Kỳ và nước Anh), dần dần khiến cậu bé nhận ra là mình không phải chịu trách nhiệm về cuộc khủng bố đó.
Hai tác giả nghiên cứu trên còn nói rằng, trường hợp cậu bé làm người ta chú ý tới cách thức truyền thông trong xã hội hiện đại-- "tức thì, thực tế và dễ hồi tưởng"-- có thể dẫn dụ về các cuộc tấn công khủng bố và tai họa ghê gớm khác đã, đang và sẽ gây hậu quả nghiêm trọng, làm tổn thương những người không trực tiếp sống gần với hiện trường xảy ra sự cố.
Một lý thuyết độc lập về tâm thần phân liệt (TTPL) và sự tiến hóa của ngôn ngữ cho rằng, TTPL là hậu quả của việc nhân loại tiến hóa về mặt ngôn ngữ.
Lý thuyết của GS Tâm thần học Đại học Oxford Tim Crow thử vượt qua vấn nạn tại sao TTPL tiếp tục tàn tích trong cộng đồng dân cư nếu nó chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi di truyền, đặc biệt khi nó có nhiều cơ hội giảm thiểu rõ ràng qua sinh đẻ.
Hay chắc chắn là nó "lan tràn" theo nhóm dân số?
GS. Crow khẳng định TTPL là sự hỏng hóc, suy yếu của bộ phận thuộc não trái bình thường chuyên về ngôn ngữ, do sự phá vỡ, đánh thủng các gien liên quan tạo nên tính trội của của bán cầu não trái.
Xác quyết nguy cơ tăng lên bởi sự kết nối bệnh lý của một số gien vốn rất quan trọng, GS. Crow tích lũy cả đống chứng cứ rằng, người mắc TTPL có sự giảm đi tính trội về ngôn ngữ ở bán cầu não trái, và thay thế bởi một số kiểu mẫu não bất đối xứng thể hiện trong cấu trúc cũng như nhiệm vụ chức năng của bộ não.
Ông cũng cực lực phê phán nhiều công trình nghiên cứu TTPL từ lĩnh vực di truyền phân tử đương đại, và khẳng định biến thể di truyền học biểu sinh (epigenetics) chính là chìa khóa mở ra khả năng nhận biết sự thay đổi của gien trong quá trình tiến hóa của nhân loại đã khiến chúng ta dễ dàng có ngôn ngữ hơn, để rồi hậu quả là, phát triển TTPL.
Ngoài Crow, một số lý thuyết khác cũng gắng giải quyết câu đố về TTPL.
Trước hết, cần nhắc lại sự kiện bệnh tâm thần-- cả ở khía cạnh lan tràn lẫn tình trạng bất lực-- thực sự là vấn nạn dưới góc nhìn tiến hóa; dĩ nhiên, nếu tin rằng khả năng dễ bị tổn hại đối với rối loạn tâm lý được kế thừa thật mạnh mẽ.
Bên cạnh đó, giới nghiên cứu còn cho rằng, có một thành phần bẩm sinh đầy ý nghĩa trong bệnh tâm thần, dù sự mở rộng ảnh hưởng này vẫn gây tranh cãi.
Như đề cập ban đầu, câu hỏi đặt ra là "tại sao chúng ta vẫn mắc bệnh tâm thần, nếu việc kế thừa nguy cơ ấy không dễ được sinh sản?"
Một số nhà nghiên cứu sử dụng điều này để nêu kiến nghị nguyên tắc của di truyền học trong bệnh tâm thần đã bị lạm dụng thái quá, và rằng đa phần nguy cơ tăng lên từ các yếu tố môi trường, nhất là do căng thẳng tinh thần (stress) và sang chấn.
Một số nhà nghiên cứu khác lại nhìn nhận các yếu tố kế thừa bẩm sinh làm tăng nguy cơ bệnh tâm thần như là lợi lạc khi chúng không tạo nên hỏng hóc nghiêm trọng lắm.
Chẳng hạn, nghiên cứu cho thấy người có nguy cơ cao mắc TTPL, hoặc nguy cơ sơ sơ hay mới xuất hiện những ý nghĩ ngắn ngủi từa tựa tính chất loạn thần thì dễ trở thành những nhà suy tư sáng tạo, độc đáo.
Người ta báo cáo một gien gọi là DARPP-32 làm tăng nguy cơ TTPL, cũng đồng thời là vật thể được sử dụng đắc lực trong một mạch não quan trọng thuộc thùy não trước.
Kết quả này lý giải tại sao một số gien làm tăng các khuynh hướng này vẫn tiếp tục tồn tại trong vốn gien chung; chỉ khi có quá nhiều các nét tương tự như thế được kế thừa thì người ta mới dễ đau đớn do bệnh tật tác động-- lúc đương đầu bởi nhiều căng thẳng tinh thần khủng khiếp trong đời.
Một lý thuyết khác là của TS. David Horrobin trong cuốn sách The Madness of Adam and Eva: How Schizophrenia Shaped Humanity.
[TS. Horrobin trở nên nổi tiếng sau một cáo phó liều lĩnh được đăng tải trên tờ BMJ, dẫn tới phản ứng dữ dội và tờ tạp chí phải có lời xin lỗi.]
Nhân tiện, xin dẫn bài báo vốn đăng trên tờ LA Times trình bày tổng quan các lý thuyết tiến hóa về trầm cảm, qua đó có thể giúp trả lời tại sao một số người bẩm sinh dễ có khuynh hướng bị trầm cảm.
... Vậy, nếu khuynh hướng giới thiệu trong bài được hiểu như một dạng thức cường điệu của điều gì đó có thể đem lại lợi ích trong liều lượng nhỏ nhặt, thì nó xem chừng là manh mối cho nhiều cách điều trị mới các bệnh tâm thần, đặc biệt với TTPL.

Một câu chuyện thương tâm.
Thật khốn khổ khi phải nhập viện điều trị tập trung (ICU); vì thế, các bác sĩ từ tâm luôn cố sức giúp cho trẻ khỏi trải nghiệm ấn tượng nặng nề đó.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, dù ý định là thiện lành, song thực sự việc dùng thuốc an thần có khả năng tạo ra nguy cơ lớn hơn của hội chứng rối loạn stress sau sang chấn (PTSD).
Tiến sĩ Colville đã tiến hành thăm khám 102 trẻ sau hai tháng nằm ở phòng ICU.
Đáng kinh ngạc, nhận thấy 32 cháu có các ký ức hoang tưởng kết hợp với một số ảo giác ghê rợn.
Số trẻ này ghi nhớ một cách lệch lạc lắm cơn sợ kinh hoàng-- kiểu như mấy con bọ cạp bò lổn nhổn trên da--, còn hơn cả số mũi kim tiêm và các cô y tá, điều dưỡng nghiêm nghị.
Hậu quả, khiến chúng dễ tiến triển hội chứng PTSD; thậm chí ngay cả khi nhóm nghiên cứu khống chế những tổn thương trầm trọng.
64 cháu biểu lộ khả năng nhớ chính xác, đúng thực tế các chi tiết, song các ký ức này-- thường hay bị bóp méo-- lại không làm nảy sinh nguy cơ PTSD.
Dường như, vấn đề mà các bậc cha mẹ và bác sĩ nên tập trung chính là những ký ức hoang tưởng.
Tiến sĩ Colville xác định rõ rằng, mối tương quan ý nghĩa nhất về các ký ức hoang tưởng xảy đến trong khoảng thời gian trẻ sử dụng thuốc an thần và giảm đau; thấy tỷ lệ các hoang tưởng lập tức tăng vọt sau 2 ngày liền dùng biệt dược giảm đau.
Tâm trí người trưởng thành trải nghiệm đủ đầy tổn thương do sang chấn; nghiên cứu của tiến sĩ Colville chứng tỏ họ còn có thể gặp nhiều nguy cơ bị PTSD từ các loại thuốc tạo nên những hoang tưởng ám ảnh.
Người lớn cũng dễ bị ảo giác khi dùng thuốc an thần, song họ thừa khôn ngoan để chẳng thèm chú ý tới các ký ức khó tin đó.
Đặc biệt, với đối tượng trẻ em thì hoặc chỉ cho chúng dùng ít thuốc an thần thôi, hoặc cần sàng lọc các ký ức hoang tưởng nhằm giúp cho trẻ không phải chịu đựng âm thầm những hình ảnh khủng khiếp.
Phân loại: Ảo giác, Hoang tưởng, Loạn thần, PTSD, Tâm bệnh học, Thuốc men, Trẻ em
Tin nóng, thảm khốc!
Hầu như tất cả các phương tiện truyền thông đại chúng hàng đầu tại Việt Nam đều đồng loạt đưa tin về sự cố kinh hoàng vừa mới xảy ra sáng hôm qua tại công trường xây dựng cầu Cần Thơ trên sông Hậu Giang.
Thiệt hại nhân lực và tài sản rõ ràng là hết sức nặng nề. Cá nhân tôi xin chân thành chia buồn cùng những số phận bất hạnh, người thân trong gia đình và toàn thể những ai quen biết hoặc chưa hề gặp gỡ họ.
Trước mắt, đã nghe và thấy lắm câu chuyện đau lòng với hậu quả chắc chắn để lại nhiều sang chấn tinh thần, góp phần hình thành hội chứng rối loạn stress sau sang chấn (PTSD).
Xin nhắc lại rằng, PTSD có thể xảy ra với ai đó trải nghiệm một sang chấn vượt quá sức kiểm soát, chịu đựng của họ; hội chứng này được chẩn đoán khi các ký ức về sự kiện ăn sâu vào cuộc sống thường ngày, người trong cuộc thấy có nhu cầu lẩn tránh bất kỳ thứ gì gợi nhắc họ về tình huống khủng khiếp ấy, và họ cảm nhận nỗi sợ hãi cao độ, ngỡ mình đang ở bên bờ vực thẳm.Chị Nguyễn Thị Tâm, vợ công nhân Nguyễn Văn Sáu đứng ở đây từ sáng để chờ tin chồng. Tim như thắt lại khi nghe thấy những âm thanh vọng lên từ lòng đất, chị nức nở: "Cầu mong anh ấy còn sống. Nếu anh ấy sống được, vợ chồng có cơm ăn cơm, có cháo ăn cháo, chứ tôi nhất định không để anh làm công việc này nữa". Cách đây 2 tháng, chị Tâm đã ngăn chồng làm thợ xây cầu này khi biết có một công nhân đã chết vì bị sắt đè ngày khởi công.
Anh Phạm Quốc Toàn, một công nhân tham gia xây cầu cũng phờ phạc chờ tin đồng nghiệp cả ngày nay. Anh cho biết, đã chứng kiến từ đầu vụ tai nạn, thấy nhiều nạn nhân được đưa ra, không ít người bị sắt, thép đâm qua mặt, ngang thân, dọc lưng...
"Những người còn sống đều hoảng loạn, hỏi gì cũng không nói. Thấy đồng nghiệp bị nạn và người thân của họ, tôi xót lắm mà không biết làm sao", anh Toàn nghẹn ngào nói.
Theo ông Nguyễn Quốc Vũ, người trực tiếp chỉ đạo đội cấp cứu tại hiện trường vụ sập cầu Cần Thơ, hầu hết nạn nhân bị đa chấn thương, không xuất huyết ngoài do hội chứng vùi lấp. Nạn nhân đều là nam giới tuổi khoảng 40 trở lại.
Tuy nhiên, có một sự thật khác rất ít được quảng đại quần chúng biết đến hơn: mắc PTSD sau khi trải qua một sang chấn tâm lý chưa từng xảy ra; đặc biệt lưu ý, phản ứng xúc cảm của họ thì thực tế song những sự kiện là hoang tưởng, ảo giác!
Bốn trường hợp điển hình trong nghiên cứu vừa nêu đều thuộc diện vào khoa cấp cứu vì những tổn thương y khoa trầm trọng, tuy trạng thái này không phải là nguyên nhân trực tiếp gây nên sang chấn.
Tại phòng cấp cứu, các bệnh nhân trở nên mê sảng (delirium): một trạng thái mù mờ ý thức, tư duy giảm sút, thường xuất hiện các dấu hiệu hoang tưởng và ảo giác.
Trong những ca như thế, chính các hoang tưởng và ảo giác khiến bệnh nhân tin là mình đã chết thật gớm ghiếc, bị đe doạ, hay phải trải qua những sự kiện ghê rợn.
Cả căn bệnh y học và các loại thuốc giảm đau chứa yếu tố kích hoạt tâm thần có thể khiến bệnh nhân suy nghĩ nhiễu loạn mà lên cơn mê sảng; đến lượt nó, trạng thái mê sảng tác động tới cách thức người ta ghi nhớ tái phát này.
Thực tế, nghiên cứu đã phát hiện rằng, một số bệnh nhân không có bất cứ hồi tưởng thực sự nào về sự chăm nom cấp cứu; họ chỉ nhớ khoảng thời gian theo hoang tưởng của chính mình. Nhóm này cực kỳ dễ bị sang chấn.
Cũng cần biết thêm, người ta đôi khi khốn khổ, khó khăn khi nói về những trải nghiệm tương tự, song chuyện như thế thì bình thường thôi. Ước tính chừng 12,5% đến 38% bệnh nhân vào phòng cấp cứu từng có những biểu hiện hoang tưởng và ảo giác.
Blog Cái tôi sẽ tiếp tục suy ngẫm và theo dõi tin tức cập nhật xung quanh sự cố đáng tiếc gây chết người tại công trình xây dựng cầu Cần Thơ, để cung cấp cho bạn đọc một cái nhìn nhân văn từ góc độ tâm lý học.
Phân loại: Ảo giác, Hoang tưởng, Loạn thần, Nghiên cứu, PTSD, Tâm bệnh học, Tâm lý trị liệu, Thời sự
Bệnh nhân mắc động kinh thái dương (temporal lobe epilepsy) khi gặp cơn (seizure) thi thoảng trải qua những ảo giác (hallucination) bất thường.
Một nhóm các nhà khoa học Pháp vừa tiến hành xem xét lại những hiện tượng kỳ lạ này, mà vào thế kỷ XIX, nhà thần kinh học huyền thoại người Anh John Huglings Jackson từng định danh là "trạng thái mơ màng" (dreamy states).
180 bệnh nhân động kinh được đề nghị kích thích não và ghi lại, nhằm gắng thiết lập nguồn gốc các cơn. Kết quả, có 17 bệnh nhân báo cáo tổng cộng 55 trải nghiệm trạng thái mơ màng; một số là do cơn, một số vì não bị kích thích.
Trải nghiệm thường gặp ở những người có trạng thái mơ màng là déjà vecu (giống như déjà vu song liên quan đến tất cả mọi giác quan). Như một bệnh nhân giải thích:
Nó giống như thể trong cơn, tôi đang hồi tưởng lại điều gì đấy... nhưng tôi có thể thấy bạn một cách rõ ràng. Như thể những gì đang xảy ra bây giờ đã từng xảy ra đối với tôi, như thể một ký ức cũ càng tôi đang sống ngoài tuổi trung niên.Tuy vậy, ở những thời điểm khác, cảm giác càng giống với một ảo thị:
Tôi thấy chính mình đang đánh trống, mọi người trong gia đình thì lắng nghe, một bệnh nhân khác nói.Nhiều ảo giác tương tự luôn dính dáng tới một số các hồi ức riêng tư trong một quá khứ xa xăm hoặc mới xảy ra gần đây, mà không bao giờ là các sự kiện công cộng hoặc lịch sử.
Điều này gắn kết với phát hiện rằng, các trạng thái mơ màng được đánh thức khi đang trong cơn, hoặc do kích thích thuỳ giữa thái dương (mesial temporal lobe)-- nơi đặt để các ký ức tự truyện.
Thật thế, một nghiên cứu từng giới thiệu về hiện tượng ảo giác bóng người.
Theo đó, một bệnh nhân 22 tuổi mắc động kinh, với các vấn đề tâm thần chưa rõ nguyên nhân, đã mô tả cảm giác kỳ quặc là một bóng người cứ bắt chước hành động của cô ấy; trong khi thực sự không có ai ở đấy cả.
Cô này có trải nghiệm trên, trước lúc phẫu thuật, do các nhà nghiên cứu Thụy Sĩ kích thích điện thuỳ thái dương- đỉnh (temporoperietal) bên trái-- vùng não được cho là có liên quan tới sự tích hợp đa cảm giác và giúp phân biệt bản thân với người khác.
Khi bệnh nhân ngả lưng và cuộc thử nghiệm được tiến hành, cô này cảm thấy có một bóng hình nằm cạnh mình. "Anh ta nằm cạnh tôi, hầu như là sát kín cơ thể tôi, song tôi không cảm thấy điều đó."
Khi bệnh nhân ngồi thẳng và ôm lấy đầu gối, cô mô tả cảm giác không thoải mái rằng, cái bóng người giờ cũng ngồi cùng và siết chặt tay cô.
Lúc làm bài tập ngôn ngữ, được đề nghị đọc các từ trong một tấm card, nữ bệnh nhân bảo: "Anh ta muốn nắm lấy tấm card; anh ta không muốn tôi đọc."
Qua hiện tượng không nhận ra hình người là ảo giác về chính cơ thể của nữ bệnh nhân, các nhà nghiên cứu cho rằng, kết luận của họ có thể giúp hiểu được cơ chế ẩn dưới trải nghiệm hoang tưởng paranoid và bị người lạ điều khiển.
Đáng chú ý, sự hoạt động quá mức của thùy thái dương- đỉnh của bệnh nhân mắc tâm thần phân liệt có thể dẫn tới việc quy chiếu sai lệch hành động của chính bản thân họ cho người khác.Bản thân tôi, khi đọc các nghiên cứu trên, lại hình dung ra ngay khuôn mặt đờ đẫn và trạng thái bàng hoàng, ngơ ngác của chị chủ nhà tôi đang ở trọ mỗi khi tôi chợt thoáng trông thấy chị ấy trong cơn động kinh.
Hèn chi, chính chị ấy kể đi kể lại cho tôi nghe nhiều kỷ niệm hồi anh chị mới yêu nhau; thế nhưng, mỗi khi tôi đùa nhắc lại nó, chị ấy lại một mực bảo ai nói mà biết, hay là anh ấy đã tâm sự cho chú nghe hết...
Bạn có thể tham khảo sâu hơn ở đây, nếu quan tâm đến hiện tượng hoang tưởng và bị người lạ điều khiển.
Phân loại: Ảo giác, Động kinh, Hoang tưởng, Nghiên cứu, Tâm bệnh học, Tâm thần phân liệt
Mới thoạt nghe đến "hoang tưởng", "ảo giác" hầu như ai ai cũng giật mình, ngại ngần cảnh giác, hãi hùng muốn tránh xa.
Quả đúng là, theo truyền thống lâm sàng Tâm thần học lâu nay, paranoid xuất hiện trong DSM-IV (Sổ tay chẩn đoán và thống kê các rối loạn tâm thần, phiên bản IV) đi kèm với các tên gọi: Schizophrenia, type paranoid (PS: Tâm thần phân liệt thể paranoid) và Paranoid personality disorder (PPD: Rối loạn nhân cách paranoid), cũng như điều kiện nằm giữa hai loại trên, bao gồm các hoang tưởng loạn thần (psychotic delusions) không có Tâm thần phân liệt là Delusional disorder (DD: rối loạn hoang tưởng).
Tuy thế, tựa như một số thuật ngữ Tâm bệnh học (Psychopathology) tương tự, với paranoid/ paranoia (chứng, dạng hoang tưởng) người ta không nên cho rằng thuật ngữ này khi được sử dụng trong nghiên cứu tài liệu và truyền thông giữa các nhà chuyên môn sức khoẻ tâm thần thì cũng rất gần với DSM-IV, do vậy phải loại trừ việc thêm vào cho nó những ý nghĩa dân gian vốn có trong đời sống hàng ngày.
Tình hình có vẻ không giống trước nữa, vì điều thú vị mới được một nghiên cứu phát hiện mới đây:
Trong cộng đồng dân cư, các ý nghĩ hoang tưởng xuất hiện cao hơn người ta vẫn nghĩ, và hoang tưởng có lẽ cũng cần được xem là tương đối bình thường như việc mắc trầm cảm (depression) hoặc chứng lo hãi (anxiety).
Nghiên cứu của các nhà Tâm lý học Lâm sàng ở Viện Tâm thần thuộc Đại học Hoàng gia London (King's College London) cho thấy: 1/3 dân số nước Anh thường phải trải qua các hoang tưởng và nỗi sợ hãi đáng ngờ (suspicious fears).
Ý nghĩ hoang tưởng là sự ngờ vực ai đó có ý định hãm hại ta. Tìm hiểu 1200 người, các nhà nghiên cứu Anh quốc phát hiện thấy:- Hơn 40% thường phiền muộn rằng những bình phẩm tiêu cực là dành cho họ.
- 27% cho là người khác cố ý trêu tức họ.
- 20% lo lắng về chuyện bị quan sát hoặc theo dõi.
- 10% nghĩ nhiều người chịu đựng giống như họ.
- 5% lo lắng rằng có một âm mưu làm hại họ.
Nghiên cứu trên nêu bật mức độ lan rộng của hoang tưởng trong cộng đồng dân cư Anh quốc, và nguyên nhân có thể là do lo âu, căng thẳng (distress) trong đời sống hiện đại.
Cũng liên quan đến chủ đề hoang tưởng, các nhà tâm lý học Anh quốc vừa mới tiến hành một cuộc nghiên cứu để tìm hiểu tại sao với một số người thì việc nghe giọng nói trong đầu là trải nghiệm thú vị, trong khi những người khác lại thấy đau buồn.
Điều tra của Đại học Manchester triển khai một nghiên cứu của Hà Lan phát hiện ra rằng, rất nhiều người khoẻ mạnh trong cộng đồng dân cư thường nghe các giọng nói trong đầu họ.
Mặc dù việc nghe giọng nói trong đầu vốn vẫn được xem là biểu hiện bất thường và là một triệu chứng của bệnh tâm thần, những phát hiện của giới chuyên gia Hà Lan khẳng định rằng, hiện tượng này thực sự lan rộng hơn so với những gì tưởng nghĩ lâu nay, với ước tính khoảng 4% dân số.
Nhà nghiên cứu Aylish Campell của Đại học Manchester-Anh quốc cho hay là họ biết là có nhiều thành viên trong cộng đồng dân cư nói chung nghe thấy các giọng nói, nhưng những người này chưa từng cảm thấy cần phải nhờ đến các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ tâm thần.
Thực tế, nhiều người mắc hiện tượng này mô tả việc nghe thấy các giọng nói trong đầu như là một tác động tích cực đối với cuộc sống của họ, làm cho họ cảm thấy dễ chịu hoặc tạo cảm hứng cho họ khi bắt tay làm các công việc hàng ngày.
Dấu hiệu paranosis (cái lời do bệnh) nhờ mắc các chứng ảo thanh (auditory halluciantions)?
Vậy đấy, nếu tin theo các nghiên cứu trên, thì lỡ trong đầu ai đó có xuất hiện những ý nghĩ hoang tưởng và nghe thấy giọng nói cũng xin đừng hoang mang, lo lắng quá.
Bạn chẳng hề cô độc, nếu không muốn xuê xoa qua quýt rằng: "thường thôi!?"
Phân loại: Ảo giác, Hoang tưởng, Tâm bệnh học
Các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng, những người mắc tâm thần phân liệt/ Schizophrenia (TTPL) [Xem thêm bài Có phải Tâm thần phân liệt là bệnh?] không bị lừa bởi ảo ảnh thị giác / visual illusions mà họ còn có khả năng đánh giá nó chính xác hơn những người quan sát không mắc TTPL.
Kết quả nghiên cứu của Đại học UCL (University College London) và King's College London cho thấy, trong đời sống hàng ngày, người mắc TTPL ít quan tâm đến bối cảnh thị giác; nhìn điều này như một sự thiếu hụt chung trong việc nắm bắt chính xác bối cảnh, có thể lý giải vì sao người mắc TTPL hay quy buộc không đúng/ misattribute hành vi của người khác và mang cảm giác bị quấy rầy, làm khổ bản thân/ feel persecuted.
Nghiên cứu đăng tải trên tạp chí Current Biology/ Sinh học ngày nay, dùng một ảo ảnh mà độ gây tương phản với môi trường xung quanh đã được giảm thiểu.
Những người tham gia thực nghiệm xem đĩa hình có mức độ tương phản vừa phải và đánh giá xem vẻ ngoài của nó, khi hiện diện một phông nền có mức độ tương phản cao.
12/15 người tham gia mắc TTPL mạn tính/ chronic schizophrenia đã đánh giá chính xác hơn cả người đánh giá chính xác nhất trong nhóm đối chứng 33 người không mắc TTPL.
TS. Steven Dakin- Học viện Nhãn khoa thuộc UCL- cho là, chúng ta thường nghĩ rằng người mắc TTPL không nhìn thế giới như thực tế nó vốn thế, trong suốt thời gian bị ảo giác/ hallucinations chẳng hạn; song nhóm nghiên cứu đã chứng minh là cái nhìn của người mắc TTPL đôi khi còn chính xác hơn nhiều so với người không hề bị TTPL.
Mẹo ở đây là việc dùng một ảo ảnh, nơi mà việc thiếu khả năng sử dụng bối cảnh trở thành lợi thế của người mắc TTPL. Vì nhiều lý do khác nhau, người ta có thể thực hiện một cách kém cỏi, song chính việc biểu hiện tốt hơn lại nhắm tới một lý do đặc biệt nào đó và làm tỏ lộ rất nhiều về nguyên nhân bên dưới.
Nghiên cứu trên góp phần sáng tỏ hơn các cơ chế não bộ liên quan đến TTPL. Ở người bình thường, tiến trình xử lý bối cảnh diễn ra trong não giúp chúng ta hướng tiêu điểm vào những gì liên quan thôi và ngăn chặn tình trạng não quá tải thông tin.
Tuy thế, tiến trình này tỏ ra kém hiệu quả trong não người mắc TTPL- có thể là nó không khả năng ngăn chặn- do bởi tiến trình xử lý thông tin của các tế bào trong não người mắc TTPL bị tách rời nhau ra.
Phân loại: Hoang tưởng, Nghiên cứu, Tâm bệnh học, Tâm thần phân liệt