Hiển thị bài đăng được sắp xếp theo mức độ liên quan cho truy vấn Năng đoạn Kim cương. Sắp xếp theo ngày Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị bài đăng được sắp xếp theo mức độ liên quan cho truy vấn Năng đoạn Kim cương. Sắp xếp theo ngày Hiển thị tất cả bài đăng

Theo thông lệ, khi lâm vào tình thế nan giải, cảm thấy va vấp, khó khăn, cực nhọc, ta thường nghĩ mình đã tiếp cận hoặc thực hiện điều gì đó sai lạc, trái khoáy, tự tung tự tác và ngang bướng mắc tội, lẽ ra không nên,...

Hầu hết chúng sinh sẽ chỉ trích bản thân kịch liệt rồi thành khẩn làm bản tự kiểm thảo nghiêm khắc mong tránh không lặp lại vụ việc đáng tiếc này.

Kỳ thực, lỗi lầm và lầm lỗi là dấu chỉ nhắc nhở mình về sự bất mãn của cái tôi.

Với hậu quả nhãn tiền gây phiền muộn, ảnh hưởng nặng nề đến lợi ích và giá trị ta đang gắn kết, thậm chí nguy hại cả sinh mệnh riêng có nữa, bản ngã đòi hỏi mỗi cá nhân quan tâm không ngừng và đánh giá cao hết mức về tầm quan trọng của nó.

Bạn biết thừa là hoạt động tạo nên vóc dáng, nhân cách con người; tức là, hoạt động xây dựng và củng cố cái tôi.

Và như thế, lỗi lầm và lầm lỗi- chẳng hạn bị ốm đau hay bệnh tật- chứng tỏ trạng thái mất cân bằng; có vẻ, chúng ta đã tiêu tốn không phải lối và khá hoang phí năng lượng vũ trụ và sinh lực sống của từng cá thể. (Stuart Wilde. Bản ngã vô biên. [Nguyễn Kim Dân dịch]. Hà Nội: Nxb. Tôn giáo, 2005, tr. 191).

Lỗi lầm và lầm lỗi xuất hiện nhằm giúp chúng ta hiểu rằng mình đã hoạt động thái quá; và nếu đủ đầy cơ duyên, ta còn được gợi ý cả phương thức điều chỉnh và lập lại trật tự, để mọi thứ ở đúng vị trí cũng như thể hiện hợp lý, hiệu quả chức năng trong tổng thể hệ thống thường hằng phụ thuộc và tương tác lẫn nhau.

Dường như, lỗi lầm và lầm lỗi chẳng thể chỉ là vận xấu tự nhiên xảy tới khiến ta khổ đau hay cảm thấy bị tổn thương; xét ở góc độ chính yếu, nó là cơ hội thú vị cho ta tập trung quan sát và học hỏi những gì đang diễn ra từ nội tâm mình.

Thật đáng ngạc nhiên biết bao, trong ngôn ngữ của người dân sống trên nóc nhà thế giới- xứ Tây Tạng huyền bí kia- không có từ nào chỉ nghĩa tội lỗi cả!

Từ diễn đạt sát hơn khi cảm thấy sai trái về điều đang làm là nỗi ân hận sáng suốt quyết làm các sự việc một cách khác đi. (Michael Roach. Năng đoạn Kim Cương. [Trần Tuấn Mẫn dịch]. Hà Nội: Nxb. Tôn giáo, 2001, tr.262).

Có khôn ngoan, từng trải chăng vì đã cảm thấy sai trái, đen đủi khi mà cũng chính sự việc ấy, lại xảy đến theo cách tử tế và tốt lành đối với kẻ khác!?

Minh triết cổ xưa dạy rằng, đừng than khóc hay tự thương hại mà nên thay đổi thái độ, góc nhìn và lạnh lùng tính toán giải pháp biến chuyển thực tại trước mắt, sao cho thuận lợi và nhiều ý nghĩa hơn đối với bản thân.

Hàm ý ở đây, các bậc tiền bối đáng kính đang gián tiếp phác hoạ quá trình tiến hoá của loài người từ cái tôi sở hữu luôn luôn đòi hỏi cầm nắm, gìn giữ sang trạng thái tự do, tin cậy giao phó tâm linh toàn thể, sâu thẳm và sáng suốt dẫn dắt đời mình?

(ảnh)

Không biết chính xác đến đâu, bởi tôi chợt thoáng nghĩ về vẻ phong nhiêu, đậm đặc màu sắc của vấn đề "hứa"; thậm chí, nó còn đa thanh trong
âm nhạc ngoại quốc nữa.

Theo
nghĩa tiếng Anh thì Promise (hứa) hàm chứa cả sự tận tụy và cam kết.

Xem ra, hứa hẹn chủ yếu tạo cảm hứng dịu êm như lối chơi đàn của
Richard Clayderman, hay da diết dặt dìu nhớ nhung những ngày đẹp trời qua giọng nghẹn ngào "trái tim bên lề" Bằng Kiều.

Tìm thấy trong
blog của một bạn trẻ mê nhạc và film Hàn minh họa ngẫu nhiên năng lực thủy chung, độ quyến rũ, tính lãng mạn và ý chí theo đuổi đến cùng nỗi niềm đam mê miên man suốt bao tháng năm đầu xanh tuổi trẻ...

Mỗi giai đoạn cuộc đời chắc chắn có cách lập ngôn cũng như lối gìn giữ, lượng giá về lời hứa khá ấn tượng; tự hỏi thời gian liệu có làm cho câu chuyện hứa hẹn cũ mèm, nhạt nhẽo và dối lừa?

Dù chi, thế hệ 8X vẫn còn ái mộ
Lee Byung Hun, săn lùng VideoClip.

Ở một góc độ, tầm mức xét đoán nhất định, giá trị của lời hứa có vẻ ngày càng khó khăn để định dạng hoặc tin tưởng; ngày nay, việc chung đụng sát sườn, gắn bó vào ra cùng sự buồn chán đòi hỏi nỗ lực lớn lao và người ta buộc phải biến nó thành thứ nghệ thuật hổ lốn:
với kẻ nghiệp dư, các sản phẩm công nghệ thông tin và Internet là mối kết hợp hoàn hảo của nét ngớ ngẩn, dở hơi, thói ích kỷ, gu thẩm mỹ quái gở và nguyên tắc đời thường.

Những lời hứa vạ vật kéo dài, đến tận buổi trưa hôm nảo hôm nào vẫn còn băn khoăn, day dứt.

[
Hứa thật nhiều... thất hứa thật nhiều; Gala cười.]

Trẻ xem như một trò đùa tinh nghịch, vô tư:
Giờ anh hứa để làm gì... ("hứa một lần hứa cố hứa một lần nữa, hứa cho em nghe lời anh hứa"); lớn lên, thừa trải nghiệm thì chuyển sang thái độ thận trọng pha lẫn buồn bã, tiếc nuối: Đừng bao giờ hứa...

Và không nơi đâu bằng chốn tình trường, lại dễ bắt gặp đến thế những cung bậc dặn dò, nhắc nhở; dẫu biết rằng
lời hứa không dễ nói ra, song chàng (nàng) quyết tâm cột chặt- (tình huống cực kỳ nhạy cảm) vào lúc nửa đêm về sáng: "Hứa với anh (em), em (anh) nhé"!
--------------

* Cập nhật (2:01 AM, 3.7.07):

Lời hứa không bao giờ nên là đầu môi chót lưỡi, chí ít vì nó sẽ gây ra lắm hậu họa nếu chúng ta bừa bãi tuyên bố, nhanh chóng từ bỏ hay quên bẵng việc thực hiện....

...Vấn đề kinh doanh # 10: Những trở ngại bên ngoài mà người ta thường gọi là "những hành động của thượng đế"- những vấn đề tự nhiên như thời tiết xấu hay những vấn đề cơ sở hạ tầng của thành phố hoặc thiếu điện- đang làm tổn hại việc kinh doanh của bạn.

Cách giải quyết: Hãy rất cẩn thận để giữ những lời hứa của bạn, đặc biệt là những cam kết mà bạn đã nhận để bám chặt vào những nguyên tắc nào đó trong thể cách mà bạn tiến hành trong các giao dịch kinh doanh và trong đời sống cá nhân của bạn.

Trí óc chống lại cái ý tưởng cho rằng ngay cả những thế lực bên ngoài như thời tiết hay tình hình giao thông trong một thành phố cũng có thể là kết quả của những mẫu thức ứng xử của chính chúng ta; nhưng theo các quy luật của trí tuệ cổ này thì đây là nơi chúng xuất phát. Hãy nhớ rằng những sự kiện này thì "không", "trung tính" hay "trống". Có người sẽ vào thành phố một cách suôn sẻ bằng con đường nào đó, dù trong những ngày giao thông tệ hại nhất; và khi trời tuyết hay mưa quá nhiều, có người sẽ vớ được lợi (những người tạo dốc trượt tuyết, những người làm dù).

Sự việc một sự kiện nhất định nào đó gây ấn tượng cho bạn theo một cách tích cực hay tiêu cực không phải là một cái gì đó xuất phát từ chính sự kiện ấy; nếu bạn suy nghĩ về nó dù chỉ trong một phút, thì rõ ràng đó là một cái gì xuất phát từ những nhận thức của bạn. Và những nhận thức này cũng không đến từ cái trống không. Đúng hơn, chúng được áp đặt vào bạn bởi những mẫu thức ứng xử trong quá khứ của chính bạn, theo cách mà nội dung của sự ứng xử trong quá khứ (sự không trung thành với những tiêu chuẩn của chính bạn) giống như cái kết quả bên ngoài mà nó tạo ra (thời tiết thất thường và các cơ sở hạ tầng không vững vàng).

[Roach, Michael. (2000). The Diamond Cutter. USA: Doubleday/ (2001). Năng Đoạn Kim Cương. Trần Tuấn Mẫn chuyển ngữ. Hà Nội: Nxb. Tôn giáo, tr.162- tr. 164].

(ảnh: BBC)

Như đã biết, sự cố sập cầu Cần Thơ trở thành tiêu điểm chú ý của báo giới hai, ba hôm nay; dẫu vậy, tin tức cập nhật mới nhất cũng đã dừng cách đây chừng 8 tiếng đồng hồ.

Vẫn còn những câu hỏi; liên quan đến nguyên nhân gây ra sự cố, về cuộc sống gia đình nạn nhân sắp tới, và trên hết thảy là về thân phận con người.

"Hôm nay là ngày đầu tiên trong quãng đời còn lại của tôi", tạm diễn giải theo toán học là n-1.

Vấn đề trêu ngươi ở chỗ, chúng ta không biết thật chính xác con số n.

Sinh, lão, bệnh, tử; vòng đời tự nhiên.

Nói như Michael Roach trong Năng đoạn Kim cương (Áp dụng giáo lý của Đức Phật vào việc quản trị doanh nghiệp và đời sống) [Trần Tuấn Mẫn dịch, Hà Nội: Nxb. Tôn giáo, 2001, tr.165), "không thể không biết đến câu hỏi tại sao thế giới đang vận hành theo cách mà nó đang vận hành, và mong được hiểu câu hỏi tại sao doanh nghiệp của bạn vận hành theo cách mà nó đang vận hành (hoặc không vận hành)."

Và theo Phật giáo, để cho một sự vật kết thúc, chẳng cần gì khác hơn là để cho nó bắt đầu (Roach, sđd, tr.356).

Theo dõi tin tức thời sự diễn biến cứu nạn người đang mắc kẹt dưới đống bê tông và sắt thép, tôi nghĩ đến hình ảnh nhân loại đợi chờ cái chết.

Cả đức Phật và những người theo chủ nghĩa hiện sinh (existentialists) đều chú tâm đến bi kịch của đời sống.

Việc nhận thức về tính không thể tránh khỏi của cái chết thúc đẩy cả đức Phật và các triết gia hiện sinh sử dụng sự chết như cổng vào, nhằm hướng tới một cuộc sống phong phú, đẹp đẽ hơn.

Trầm tư về cái chết sẽ càng khuyến khích người ta tăng cường thêm nỗ lực để sống ở cõi Niết Bàn (Nirvana) ngay tại cuộc đời này.

Rollo May (1961) đã đề nghị, bởi việc nhận thức về cái chết đang đợi (awaits), chúng ta có thể tính đếm mỗi khoảnh khắc sống.

Hiểu rằng đời sống hữu hạn khiến chúng ta tận lực, gấp rút trong hiện tại. Chúng ta chỉ có một khoảng thời gian hạn chế để hiện thực hóa các tiềm năng của bản thân mình.

Chấp nhận hoàn toàn cái chết mà không sợ hãi, chối bỏ, hay để bệnh tật dày vò tất sẽ hướng chúng ta đến một đời sống đẹp đẽ, phong phú hơn [Sheikh, Anees A. & Sheikh, Katherine S. (eds). (1989). Healing East & West- Ancient Wisdom and Modern Psychology (Hàn gắn Đông- Tây-- Minh triết cổ xưa và Tâm lý học hiện đại). USA: John Wiley & Sons, Inc., tr.118].

Điều gì xảy ra khi chúng ta chết?

Chuyên gia hàng đầu Anh quốc Susan Blackmore (2007) cho rằng câu hỏi này rất người, và chắc chắn nó gây bất đồng ý kiến giữa tôn giáo và khoa học. Trong khi hầu hết các nhà khoa học cho chết là kết thúc ý thức của cá nhân thì đa phần những người tin tôn giáo mong chờ linh hồn, tinh thần mình vẫn tồn còn.

Vậy, chúng ta thể tìm ra sự thật hay không?

Theo bà Blackmore, chừng 10%
chúng ta có những trải nghiệm gần sát cái chết (NDEs: cận tử); những người này dường như đi dọc một đường hầm tối tăm hướng về ánh sáng ấm áp; thấy thân xác mình từ trên cao; kinh qua các ký ức sống động; và thậm chí, bước vào thế giới khác hoặc gặp gỡ thánh linh, quỷ, thần,... Một số người trải nghiệm sự hợp nhất mình với toàn thể vũ trụ, hay trải nghiệm sự tan rã của cái tôi ảo tưởng.

Tất cả những trải nghiệm này, theo TS. Blackmore, có thể được quyết toán, về nguyên tắc, ở hoạt động rối loạn tổ chức trong quá trình bộ não chết.

Tuy thế, khẳng định này không thể thuyết phục những người có niềm tin để họ tán đồng sự kết thúc rốt ráo của hoạt động não, chứ không phải rằng linh hồn và tinh thần vẫn còn tiếp tục.

Đây chính là một trong vấn đề quan trọng chưa được các nhà tâm lý học thực sự tiến hành
thực nghiệm, mà bà Blackmore hy vọng, nhờ thế sẽ giúp chúng ta giáp mặt với cái chết thanh thản hơn.

... Đừng phó mặc sự thành công của doanh nghiệp và của đời bạn cho những giả định và những thành kiến chưa được xét lại của đất nước và của nền văn hóa của chính bạn (Roach, sđd, tr.238).

Lời cuối, nếu bạn cảm thấy thích thú muốn tự mình tìm hiểu sâu hơn, xin mời đọc câu chuyện của một người đàn ông Hoa Kỳ 55 tuổi đang tiến hành tính đếm quãng thời gian còn lại trên đời; về những thuận lợi của việc quên trong thời đại đang mất dần tính riêng tư và mọi thứ đều được ghi nhớ cẩn thận; và về việc tại sao chúng ta ở đây-- lý giải nguyên do chúng ta phải trả giá, khi giảng đường Đại học lờ đi những câu hỏi lớn nhất về đời sống.

(Michael Roach and Christie McNally đã thề nguyền rằng cả hai không quan hệ tình dục và chẳng bao giờ xa cách nhau ngoài vòng 4,5m)

... Họ sống mối tình gắn bó này không quan hệ tình dục. Như họ mô tả, đó là sự thực hành Phật giáo ở mức độ cao nhằm đương đầu, đối trị với những biểu hiện bất toàn của chính họ và từ đó, học hỏi để phục vụ chúng sinh tốt hơn.

"Nó thúc ép bạn xử lý các cảm xúc của bản thân đến độ mà bạn không thể tuyên bố rằng "Tôi sẽ nghỉ tí chút"-- nhà sư Roach, 55 tuổi, cũng tu tập theo truyền thống Phật giáo Tây tạng giống như đức Dalai Lama vậy.

1983, sau khi phát nguyện xuất gia, Roach theo học các khóa huấn luyện tại một tu viện Phật giáo trong 20 năm, và là một trong rất hiếm hoi người phương Tây giành được danh xưng Geshe-- tương tự bằng cấp Tiến sĩ tôn giáo học. "Bạn trải qua các khuôn mặt khác nhau của tha nhân 24 giờ mỗi ngày. Bạn phải giải quyết vấn đề giận dữ và ghen tuông của bản thân."

Nữ tu McNally nói: "Từ góc nhìn của đạo Phật, chuyện đó giúp lắng lọc, thanh tẩy tâm trí của chính bạn". 35 tuổi, nữ tu McNally đạt tới danh xưng Lama, hoặc sư phụ, một sự vinh danh mà thứ bậc truyền thống Tây tạng không hề ban tặng đối với phụ nữ.

Một câu chuyện quá nhạy cảm, đầy thách thức và cực kỳ khác biệt, nên chắc chắn khó tránh điều thị phi.

Vài thông tin bổ sung, nếu bạn muốn quan tâm đến họ kỹ càng và nghiêm túc hơn: đây, đây, đây, đâyđây.

Blog Cái tôi từng trích dẫn tác phẩm Năng Đoạn Kim Cương của Michael Roach.

Vấn đề kinh doanh # 25: Những người chung quanh bạn, hoặc các nhân viên thân hữu hay các giám đốc, khách hàng hoặc nhà cung cấp, không bao giờ tin những gì bạn phải nói ra, dù cho bạn đang nói sự thật.

Cách giải quyết: Hầu hết chúng ta đã từng mắc lỗi nói những lời nói dối nhỏ nhặt với những người xung quanh trong cuộc sống công ty; mắc phải điều này thì quả là gây phiền, như chúng ta vẫn thỉnh thoảng mắc phải, nhưng nếu không có gì to chuyện thì người ta chẳng nghĩ đến nó quá nhiều.

Ở đây chúng ta đang nói về cái gì đó khác kia: bạn chẳng nói gì khác hơn sự thật chính xác, nhưng không ai tin bạn.

Bạn biết điều này có thể đáng phiền bực biết bao, và đôi khi bạn càng phản kháng, thì phía bên kia lại càng cảm thấy như là bạn không thành thực.

Điều quan trọng ở đây là phải hiểu được rằng cái ấn tượng này ở phía người khác không phải là cái gì có thể phát xuất từ sự chân thật hiện tại của bạn:

Một quy tắc về những dấu ấn là nội dung của chúng phải nhất quán với kết quả của chúng; tức là, bạn có thể không bao giờ đạt một kết quả tiêu cực (ai đó nghĩ rằng bạn đang nói dối với họ) từ một dấu ấn tích cực (dấu ấn được gây nên bởi một sự thành thực một cách có ý thức).

Đúng hơn, sự việc họ không tin bạn xuất phát từ những hành động giả dối trong quá khứ, kể cả những hình thức giả dối tương đối nhỏ và từ những dấu ấn mà những thứ này đã gieo trong tâm bạn.

Và cách giải quyết là phải hết sức chính xác trong những lời nói của bạn.

Hãy nhớ những gì mà sự nói dối thực sự kéo theo: tạo cho một người khác nữa một ấn tượng về một đối tượng hay một sự việc nào đó không tương ứng một cách chặt chẽ với cái ấn tượng mà chính bạn có về cùng một thứ ấy.

Do đó, sự trung thực hoàn toàn trong những gì bạn nói không gì khác hơn là đảm bảo rằng cái ấn tượng mà những lời nói của bạn để lại cho một người khác nữa khớp chặt với chính cái ấn tượng mà bạn có trong tâm.

Điều này thì khó hơn rất nhiều so với điều mà bạn thường nghĩ đến như là sự trung thực!

Nhưng nếu bạn giữ kỹ nó trong một thời gian đầy đủ thì bạn sẽ thấy rằng uy tín của chính bạn sẽ được tôn trọng khắp công ty của bạn và khắp thương trường mà bạn bước vào- đấy là một cảm giác tuyệt vời, và cũng hoàn toàn có lợi.

(Michael Roach. [2001]. Năng đoạn Kim Cương/ The Diamond Cutter. Trần Tuấn Mẫn dịch. Hà Nội: Nxb. Tôn giáo, tr. 186-tr.187).

Lạ lùng không, khi tổ chức họp nhóm giữa một trải nghiệm sát sườn thường nhật là cái tôi với khái niệm có vẻ xa vời, thiêng liêng và trừu tượng, như đời sống tâm linh để cùng xoay quanh chủ đề hình như chẳng ngừng dày vò tâm trí và thể lực ta: tiền bạc?

Vấn đề kinh doanh #35: Bạn không có sự độc lập về tiền bạc; bạn không thể là con người của chính bạn- bạn không thể có quyết định về những thứ mà bạn đã kiếm được, đặc biệt bạn không thể có quyết định như thế mà không hỏi ý kiến những người khác.

Cách giải quyết: Cách giải quyết cho vấn đề rất đặc biệt này là tôn trọng tài sản và không gian của những người khác một cách chặt chẽ...

Khái niệm ở đây là khái niệm liên quan về một thân thể, được viết ở châu Á cách đây 13 thế kỷ. Hãy nghĩ đến cái ý niệm về thân thể của tôi hay cái tự ngã của tôi. Chúng ta thường có xu hướng đồng hoá nó một cách khá mạnh với cái bờ mé của da thịt chúng ta: nếu chúng ta đang bắt tay nhau, thì tôi dừng ở chỗ cuối của những ngón tay của tôi và bạn khởi đầu ở chỗ bắt đầu của những ngón tay của bạn...


Thực tế thì cái tôi được mở rộng giới tuyến khi một bà mẹ có đứa con, hay thu hẹp địa bàn lúc bạn phải phẫu thuật cắt bỏ một quả thận... Tác giả lập luận tiếp:

... Không có gì đến từ cái không cả. Dù mức độ độc lập nào mà bạn từng thành tựu được cũng đều là một nhận thức và do đó, một thực tế, được điều động bởi những dấu ấn được gieo trong tâm bạn bằng cách chia sẻ các tài nguyên của bạn với những người khác trong công ty một cách sung sướng và có chủ tâm.

(Michael Roach. Năng đoạn Kim Cương. [Trần Tuấn Mẫn dịch]. Hà Nội: Nxb. Tôn giáo, 2001, tr. 205- tr. 208).

Có thể bạn chưa quen lắm với thứ trí tuệ cổ Tây Tạng này, song tình thực mà nói, ý kiến vừa nêu không phải là không đáng suy ngẫm.

Định kiến về cái tôi, về mối quan hệ của nó với vấn đề tiền bạc, dường như cũng được người đời áp dụng tương tự khi đề cập đến đời sống tâm linh.

Vì thế, trước hết, như nhà phân tâm học Roberto Assagioli (Italia, 1888-1974)- người chủ trương chống lại sự khai trừ cái tâm linh ra khỏi trường nghiên cứu khoa học- đề nghị:

...cần phải đề phòng những sự chê bai dễ dãi và những sự giả dối do sự khinh thường tiền bạc đưa lại. Thái độ này có thể trở thành một thứ mặt nạ thuận tiện cho sự lười biếng, yếu ớt, hèn kém và có thể dẫn tới thói ăn bám cá nhân hoặc tập thể.

(Roberto Assagioli. Sự phát triển siêu cá nhân. [Huyền Giang dịch]. Hà Nội: Nxb. Khoa học xã hội, 1997, tr. 329).

Lại dẫn ý chuyên gia tâm bệnh học nổi tiếng với phương pháp tổng hợp tâm lý/ psychosynthèse:

Nhưng có một sự phản bác căn bản hơn đối với thái độ khinh thường tiền bạc ấy, dựa vào một quan niệm hoàn toàn toàn ngược lại, nhưng vẫn noi theo những nguyên lý tôn giáo.

Theo cách nhìn xuyên suốt Cựu Ước này, của cải và phồn vinh là những dấu hiệu rõ rệt của sự ân sủng của Thượng đế, là phần thưởng cho một ứng xử đúng đắn và ngay thẳng. Ngược lại, cũng theo cách nhìn này, nghèo khổ và những nỗi bất hạnh là hậu quả một sự trừng phạt của thần thánh, hay ít ra cũng là kết quả của những sai lầm cá nhân hoặc tập thể về tư duy, tình cảm và hành vi.

Quan niệm này được một số trào lưu tôn giáo và tâm linh hiện đại lấy lại và chính nó thấm sâu vào tâm thức người Mỹ, dù có ý thức hay không. Theo quan niệm này, thành công cụ thể là bằng chứng và dấu hiệu của giá trị cá nhân, đến mức hai thứ đó đi tới chỗ hoà lẫn nhau.
(Roberto Assagioli, sđd, tr.329- tr.330).

Đến đây, đúng như Assagioli gợi ý, việc xem xét mối quan hệ giữa tâm linh và tiền bạc không đưa tới một kết luận chắc chắn nào, thậm chí có thể làm chúng ta bối rối hơn trước; song không thể khác được, vì câu hỏi đã được nêu ra- và thường được nêu ra như thế- là không đúng.

Vậy, theo bạn, thực sự tiền bạc là gì? Từ góc độ tâm linh và hình ảnh cái tôi, cần nhìn nhận như thế nào về vấn đề tiền bạc trong đời sống thực tế hàng ngày của mỗi chúng ta? Bên cạnh đó, liệu rằng quan niệm căn cốt dưới đây có khiến bạn giật thột:

Tính tâm linh trước hết là ở chỗ xem xét các vấn đề về sự tồn tại theo một quan điểm cao cả, toàn vẹn, tổng thể; suy xét mọi sự vật dưới ánh sáng những giá trị thật; cố hiểu được thực chất của tất cả mọi sự kiện mà không dừng lại ở những vẻ bề ngoài, không để mình bị lừa phỉnh bởi những ý kiến truyền thống, bởi những ảnh hưởng tập thể hay bởi những xu hướng, xúc cảm hoặc định kiến cá nhân của mình. (Roberto Assagioli, sđd, tr.321).

Trái với câu cửa miệng không ít lần các nhân vật tuyên bố trong tác phẩm, rằng không thể nhìn bìa mà đánh giá cuốn sách được, tôi thực sự bị Rừng Na Uy (Norwegian Wood) của tác giả Haruki Murakami thu hút ngay từ khi nhìn thấy dòng chữ quảng cáo: Cứ 7 người Nhật thì có 1 người đọc Rừng Na Uy.

Và càng muốn đọc nó hơn, bởi lời đề từ ngộ nghĩnh: Để tưởng nhớ nhiều kỳ nghỉ học.

Tuy thế, giờ đã đọc xong rồi sắp post những dòng này, tôi thêm hiểu lý do chính yếu khiến mình chịu khó lướt hết 500 trang sách Việt ngữ font chữ nhỏ khổ 13x 20.5; vì dòng đầu tiên của nó thừa sức làm tôi tự ái ghê gớm: "Lúc ấy tôi đã ba mươi bảy tuổi..." Giời ạ, sao lại đã mà không viết mới kia chứ...

Quả thật, những hiểu biết, kiến thức chuyên môn, cảm nhận và trải nghiệm cá nhân quyết định cách ta
đánh giá tác phẩm, chia sẻ và tán đồng với câu chuyện kể.

Rừng Na Uy làm tôi nhớ đến
Kim Các Tự, Khuôn mặt người khác,...; về lối sống và cách cảm của người Nhật, đặc trưng văn hoá xứ Mặt trời mọc.

Tác phẩm
The Great Gatsby (Gatsby vĩ đại) của F. Scott Fitzgerald; ba tác gia bi kịch Hy Lạp cổ đại lừng danh Aeschylus, Euripides và Sophocles; văn học Anh, Pháp, Ý cổ điển với những tên tuổi: Dickens, Balzac, Dante,... được đề cập khiến tôi như trở về thời sinh viên đêm ngày cuồng nhiệt dấn thân cho đam mê sách vở, đồng thời không ngừng khao khát suy tư và yêu thương đủ để thấu triệt đoạn văn ngồn ngộn tâm cảm:

Tôi (Wantanabe) sống qua mùa xuân sau đó, ở tuổi mười tám, với cục khí vón trong ngực mình, nhưng không lúc nào ngưng tranh đấu chống lại sự hồi sinh của thái độ coi trọng mọi sự ở đời. Coi trọng sự đời không phải là cách tiếp cận thực tế, tôi cảm thấy như vậy, cho dù vẫn còn mơ hồ. Nhưng sự chết là một thực tế, một thực tế nghiêm cẩn, dù ta có nhìn nhận nó kiểu gì đi nữa. Mắc kẹt trong mối mâu thuẫn nghẹt thở ấy, tôi lẩn quẩn trong một vòng tròn vô tận. Bây giờ nhìn lại, những ngày ấy thật lạ lùng. Ở đoạn giữa của cuộc đời, mọi thứ đều xoay quanh sự chết. (tr.65)
Rừng Na Uy phản ánh xã hội Nhật những năm 60, chẳng khác chi "thế hệ lạc lõng" (the lost generation) của phương Tây, song dư âm và tác động muôn hình vạn trạng của nó hình như còn trở lại hiển hiện trong những tháng năm ta đang sống này:

Bài hát đó (Rừng Na Uy của ban nhạc Bealtes) có thể làm cho mình thật buồn, Naoko nói. "Cũng không biết nữa, nhưng có lẽ mình tưởng tượng như đang lang thang trong một khu rừng sâu. Mình chỉ có một mình và trời thì lạnh và tối, và chẳng có ai đến cứu mình..." (tr.112).
Chẳng xa lạ gì, tâm trạng có phần quen thuộc dễ dàng bắt gặp ở không ít sinh viên Việt Nam của chúng ta:

Sang tuần thứ hai của tháng Chín thì tôi (Wantanabe) đi đến kết luận rằng học đại học là một việc làm vô nghĩa. Tôi quyết định sẽ coi đó là một giai đoạn luyện tập các kỹ năng đối phó với buồn chán. Tôi chẳng có gì đặc biệt phải làm ở ngoài để phải bỏ học ngay lập tức, nên tôi vẫn đến lớp hàng ngày, ghi chép, và thời gian rỗi thì vào thư viện đọc sách hoặc ngó nghiêng linh tinh. (tr.107).
Đặc biệt, từ cái nhìn riêng tư, những mối tình trẻ tuổi của Toru Wantanabe-Midori- Naoko- Kizuki , Nagasawa-Hatsumi,... minh chứng quan niệm mang đậm dấu ấn cá nhân của một thời và mãi mãi: tình dục như là tất cả và không có gì.

Nguyên đoạn trích khá dài dưới đây, theo tôi, là đặc trưng cho giọng điệu và văn phong điển hình cũng như nội dung chủ yếu mà tác giả Murakami muốn tập trung diễn đạt trong Rừng Na Uy:

...Đêm đó, khi tôi (Wantanabe) nhẹ nhàng cởi quần áo nàng trong khi nàng khóc, thân thể của Naoko đã gợi cho tôi một cảm giác về sự bất toàn. Vú nàng dường như cứng nhắc, với hai đầu vú đâm ra một cách lạ lẫm, cặp hông cũng cứng lạ lùng. Nàng là một cô gái đẹp, tất nhiên rồi; thân thể nàng kì diệu và hấp dẫn. Nó đã kích động tôi đêm đó và lôi tôi vào những đợt sóng với một sức mạnh khổng lồ. Nhưng dù sao, khi ôm nàng, vuốt ve nàng, hôn lên da thịt trần trụi của nàng, tôi vẫn có một cảm thức lạ lùng và mạnh mẽ về sự lệch lạc và vụng về của cơ thể con người. Khi ôm Naoko trong tay, tôi đã muốn nói với nàng rằng "Mình đang làm tình với cậu đây. Mình đang ở trong cậu đây. Nhưng thực tình chẳng có gì hết. Chỉ là hai tấm thân kết nối với nhau mà thôi. Tất cả những gì mình đang làm đây chỉ là nói cho nhau biết rằng có những điều chỉ có thể nói được bằng cách cọ xát hai khối thịt bất toàn như thế này. Làm như vậy, chúng mình mới chia sẻ được những bất toàn của nhau." Nhưng tất nhiên tôi không thể hy vọng sẽ có ai hiểu được những lời định nói ấy của mình. Tôi chỉ tiếp ôm chặt nàng vào lòng. Và khi làm vậy, tôi có thể cảm thấy bên trong thân thể nàng một cái gì đó như một tố chất ngoại lai chai đá, một cái gì phụ trội mà tôi không thể đến gần được. Và chính cái cảm giác ấy đã vừa làm cho Naoko tràn ngập cõi lòng tôi vừa cho tôi một cương cứng căng thẳng khủng khiếp.

Nhưng tấm thân mà Naoko đang để lộ trước mắt tôi đây không giống tí gì với tấm thân tôi đã ôm ấp đêm đó. Da thịt này đã phải qua nhiều biến đổi để tái sinh trong tuyệt đỉnh hoàn hảo dưới ánh trăng. Mọi dấu hiệu mũm mĩm của trẻ con đã bị tước bỏ hết từ cái chết của Kizuki để được thay thế bằng da thịt của một người đàn bà trưởng thành. Vẻ đẹp thân xác của Naoko lúc bấy giờ hoàn hảo đến nỗi nó không gợi một chút gì là dục tính ở trong tôi. Tôi chỉ có thể kinh ngạc ngắm nhìn đường cong kiều diễm từ thắt lưng xuống hông, vẻ phì nhiêu tròn trịa của đôi vú, những chuyển động nhẹ nhàng theo nhịp thở của làn bụng thon và đám lông mu đen đổ bóng ở bên dưới.
(tr.252-tr.253)
Giá trị độc đáo của Rừng Na Uy, chất nhân văn thấm đẫm một mặt khiến tác phẩm không trở thành một dâm thư, mặt khác lại lay động sâu xa tâm can độc giả chính ở chỗ nó chân thực phô bày nỗi cô đơn định mệnh của tuổi mới lớn bơ vơ, thân phận kiếp người tồn tại hữu hạn và bé nhỏ, nỗ lực siêu việt quyết không thoả hiệp với đời sống xã hội đang bị nguy cơ tha hoá đe doạ-- bằng lối thoát hiến mình tuyệt đối cho tình yêu:

"Bởi vì bọn mình sẽ phải trả lại cho thế giới này những gì vẫn mắc nợ nó," nàng (Naoko) nói, ngước mắt về phía tôi (Wantanabe). "Nỗi đau của sự trưởng thành. Bọn mình đã không trả cái giá đó đúng lúc, và bây giờ thì giấy đòi nợ đã đến rồi. Đó là lý do Kizuki làm điều anh ấy đã làm, và tại sao mình lại ở đây. Bọn mình giống như hai đứa trẻ trần truồng lớn lên trên một hòn đảo hoang. Nếu đói, bọn mình chỉ việc nhặt chuối ăn; nếu thấy cô đơn, bọn mình chỉ việc tìm đến vòng tay nhau. Nhưng những cái như thế không kéo dài mãi mãi. Bọn mình lớn nhanh và phải gia nhập xã hội. Chính vì vậy mà cậu rất quan trọng đối với hai đứa chúng mình. Cậu là móc xích nối bọn mình với bên ngoài. Bọn mình gắng gỏi thông qua cậu để hoà nhập với thế giới bên ngoài càng nhiều càng tốt. Nhưng cuối cùng, việc đó không thành, tất nhiên rồi." (tr.246- tr.267).
Rừng Na Uy là bài tiểu luận Tâm bệnh học (Psychopathology) bất ngờ và xuất sắc, nơi bạn có thể tìm hiểu sơ lược về cách điều trị bệnh tâm thần, biết rõ dấu hiệu nghe tiếng nói bình phẩm trong đầu của Naoko là biểu hiện Tâm thần phân liệt, cảm nhận phần nào tác động qua lại giữa môi trường sống và nền tảng sinh học trong việc làm nảy sinh các rối loạn tâm thần cũng như tiến trình phát triển cái tôi nhân cách:

...Cũng như mỗi người đều có những cái riêng trong cách đi đứng, ai cũng có những cái riêng trong cách nghĩ, cách cảm và cách nhìn sự vật, và cho dù ta có muốn sửa chữa chúng, chuyện đó không thể nhanh được, và nếu ta cố ép buộc thì thể nào cũng có những cái lạ lùng khác xảy ra. Ông ta (vị bác sĩ phụ trách điều trị ca Naoko) đã giải thích rất giản dị như vậy, tất nhiên rồi, và đó cũng chỉ một phần nhỏ các vấn đề của bọn mình, nhưng có lẽ mình hiểu ông ta muốn nói gì. Rất có thể là bọn mình không bao giờ có khả năng thích ứng hoàn toàn với những méo mó của chính mình. Không thể tự mình cất giấu nỗi đau đớn khổ sở do những méo mó này gây ra, bọn mình đến đây để trốn tránh chúng. Khi nào còn ở đây, bọn mình có thể tiếp tục sống mà không làm người khác tổn thương hoặc bị họ làm tổn thương, bởi lẽ tất cả đều biết là mình méo mó như nhau cả. Đó là cái phân biệt bọn mình với thế giới bên ngoài, nơi hầu hết mọi người sống mà không biết đến những méo mó của họ, còn ở cái thế giới nhỏ bé này của bọn mình thì bản thân những méo mó này lại là một điều kiện tiên quyết... (tr.173- tr.174).
Đọc Rừng Na Uy, thi thoảng bạn phải bật cười với những ý nghĩ dí dỏm và hồn nhiên, tỷ như quan niệm của một nữ sinh viên trong trắng về tình yêu:

"Mặc kệ cậu, với tớ, đó mới là tình yêu. Mặc dù không phải ai cũng có thể hiểu được tớ." Midori hơi hơi lắc đầu dụi vào tôi (Wantanabe). "Với một loại người nào đó, tình yêu bắt đầu từ cái gì đó tí xíu và ngốc nghếch. Từ những cái như thế, hoặc nó không bao giờ bắt đầu được cả." (tr.156).
... Cuối cùng, tôi muốn cung cấp một vài thông tin cập nhật ngoài lề nhằm giúp bạn không quá cực đoan khi đánh giá vấn đề tình dục trong Rừng Na Uy.

Năm 1929, một trong các nghiên cứu sáng giá về tình dục con người của bác sĩ Gilbert Van Tassel Hamilton A Research in Marriage (Nghiên cứu về Hôn nhân) đã vén lộ nhiều thông tin gây sốc (vào thời đó).

Rằng, 28% đàn ông và 29% phụ nữ thừa nhận là họ cảm thấy tê rần, sướng rưng rưng ("pleasant thrills") khi buộc phải chịu đựng đôi chút đau đớn.

Công trình tiên phong này báo hiệu cho sự ra đời Báo cáo Kinsey- tên không chính thức của tác phẩm Sexual Behavior of the Human Male (1948, Hành vi tính dục của người đàn ông) của Afred C. Kinsey-- người được xem là cha đẻ hiển nhiên của cuộc cách mạng tình dục.

Giá trị khoa học của cuốn sách này đến nay vẫn còn gây nhiều tranh cãi. Kinsey cũng xuất bản Sexual Behavior of the Human Female (1953, Hành vi tính dục của người đàn bà).

Liên quan đến hành vi sexy, nghiên cứu mới đây đăng trên New Scientist khẳng định, cả đàn ông và đàn bà đều có cùng thời gian đạt đến mức độ cực cảm của khoái lạc tình dục; tức là, phụ nữ cũng nhanh chóng bị kích thích như đàn ông.

Từ thập niên 80 của thế kỷ XX, giới chuyên môn đã biết rằng, đặc trưng của đàn ông là cảm thấy kích thích tình dục từ góc độ tâm lý khi họ bị khêu gợi theo hướng thể lý; còn phụ nữ thì có thể bị kích thích thể lý ngay cả khi không có chút kích thích tâm lý gì cả.

Nói cách khác, phụ nữ có thể biểu lộ kích thích tình dục một cách thể lý mà không cần cảm thấy tí ti sexy nào. Điều này hiếm khi xảy ra với đàn ông.

Thực tế, một nghiên cứu còn cho thấy kích thích tình dục thể lý ở phụ nữ dường như gắn liền với sự đáp ứng tự động khi nhìn thấy kiểu dạng hoạt động tình dục ra sao đi nữa: đồng tính luyến ái, người quan hệ tình dục bình thường, đàn ông hoặc phụ nữ-- bất kể sự kiện rằng kích thích tình dục tâm lý được ghi nhận ở các mức độ khác biệt.

Đến đây, tôi muốn trích dẫn bình luận của website Trung Quốc để kết thúc những chia sẻ của cá nhân tôi khi đọc Rừng Na Uy:

"'Tình dục', trên một phương diện lớn Murakami đã qua đó để phô bày sức quyến rũ tư tưởng của ông... E ngại Rừng Na Uy là một tác phẩm cấp thấp, chắc chắn xuất phát từ một lối suy nghĩ không thành thật, bởi ở thời đại này, tránh né một cách phiến diện những việc vẫn thường làm mà không tiện nói ra, liệu có phải giả dối không? (Phụ lục, tr.534).

Trang chủ